Hậu thần bi kí
Thác bản bia đình Hiệp Phù xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn慈山府東岸縣扶寧社下村, sưu tầm tại xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 85 x 60 cm, gồm 33 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 900 chữ. Mặt trước bia bị mờ nhiều. Chạm mặt trời, hoa dây.
Niên đại: Cảnh Hưng năm thứ 2 (1741).
Người viết chữ: Cai hợp Tạ Tiến Tướng, chức Thị nội thư tả Hộ phiên viết bia.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, biểu dương việc thiện.
– Xây dựng, trùng tu di tích.
Phiên âm Hán Việt
Hậu Thần bi kí
Hiệp Phù xã thụ ân hậu huệ tôn lập Thường Tín phủ Thanh Trì huyện Lãnh Đường xã Đại Từ thôn Thiếu khanh Lâm Thọ nam Nguyễn Đình Kiều, thê Hiệp Phù xã Cẩn nhân Lê Thị Huyền vi Hậu Thần bi kí.
Cái văn hữu công ư dân nhi dân tất báo, tất lập bi kí dĩ truyền vĩnh viễn. Tư Đông Ngạn huyện Hiệp Phù xã quan viên hương lão xã thôn trưởng thượng hạ đẳng tường vi …
Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi nhị, tuế tại Tân Dậu mạnh hạ cốc nhật. Thị nội thư tả Hộ phiên Cai hợp Tạ Tiến Tường tả.
Kê: – Phi điền Quang Bột xứ…
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Thần
Văn bia ghi về việc xã Hiệp Phù báo đền ân huệ, tôn lập ông Nguyễn Đình Kiều người thôn Đại Từ xã Lãnh Đường huyện Thanh Trì phủ Thường Tín, chức Thiếu khanh, tước Lâm Thọ nam và vợ là Cẩn nhân Lê Thị Huyền người xã Hiệp Phù làm Hậu Thần.
Thường nghe: người có công với dân, dân tất báo đền, tất lập bia kí để lưu truyền dài lâu. Nay quan viên hương lão xã thôn trưởng xã Hiệp Phù huyện Đông Ngạn cùng bàn với nhau rằng: dân ta phiêu tán đã lâu, năm Canh Tuất, mới được trở về. Ngôi đình cũ cần được tu sửa, nhưng rất khó thực hiện nổi. May nhờ bà vợ Quý quan là Cẩn nhân… giúp cho xã tu sửa lại đình. Nay ngôi đình được lợp lại, miếu mạo trang nghiêm. Dân xã tôn bầu Hậu Thần, phụ thờ mãi mãi về sau…
Ngày lành tháng mạnh hạ (tháng 5) năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 (1741). Cai hợp Tạ Tiến Tướng, chức Thị nội thư tả Hộ phiên viết bia.
Kê:
– Ruộng tốt ở đồng Quang Bột và các xứ Chu Giang, Vệ Đồn, Đường Khôi cộng 1 mẫu, phân lo sắm lễ trong kì cầu phúc, kị lạp, cả thảy là 20 mâm, mỗi mâm xôi 5 đấu gạo, gà 1 con giá mỗi con là 1 mạch 30 văn tiền sử, rượu 1 chai, mỗi chai giá 25 văn tiền sử, cau trầu 1 phong, mỗi phong 10 miếng.
– Ruộng ở xứ Cửa Đình 1 sào, thu 8 mạch tiền sử dùng vào việc mua giấy tiền, đèn nhang. Các xứ đồng, kê ra sau đây:
– Xứ Quang Bột 2 mảnh 3 sào, Đồng Chu 2 mảnh 3 sào, xứ Giang 2 mảnh 2 sào, xứ Vệ Đồn 1 mảnh 1 sào, Đường Khôi 1 mảnh 1 sào, ruộng mạ xứ Cửa Đình 1 mảnh 1 sào.
– Vào tiết cầu phúc, khi Hậu Thần sinh thời, mỗi giáp biếu 1 cỗ để tỏ rõ lòng tôn kính. Hằng năm trong kì lễ cầu phúc vào tháng 2, sắm 4 cỗ, ngày nghênh Thần, tế lễ Thần sắm 1 cỗ, Hậu Thần 2 vị 1 cỗ. Ngày tống Thần cũng theo như vậy.
– Vào các kì cúng giỗ, thì mỗi giỗ sắm 4 cỗ, tất cả là 8 cỗ. Trong số 4 đó, thì dùng 1 cỗ để cúng Thần. Còn hai kì lễ chạp, thì mỗi kì 4 cỗ, tất cả là 8 cỗ. Trong đó, cúng Thần 1 cỗ.
Ngày kị, lạp, quan viên, tư văn áo quần tề chỉnh hành lễ như nghi thức. Lễ xong, biếu quan viên, tư văn, bồi bái 1 cỗ, trưởng tộc nửa cỗ, còn lại chia đều cho những người trong xã có mặt tại đó. Làm như vậy để kéo dài mãi mãi. Nay làm giao ước.
Toàn xã quan viên, hương lão, xã thôn trưởng kê ra sau đây cả họ tên và quan chức:
Phan Tông Nguyên (Xã trưởng, kiêm …), Nguyễn Như Hiền, Lê Phú Dự, Nguyễn Khắc Năng, Lâm Duy Hoàn, Phan Tông Hoàn, Lâm Công Hiển, Phạm Vị, Nguyễn Tông Trạch, Nguyễn Nghị, Đàm Thời Giai, Phan Quốc Tiến, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Danh Nho, Nguyễn Đạt, Nguyễn Thạc Đại, Nguyễn Bá Thuyên, Lâm Quốc Dung, Phan Quốc Quy, Phan Công Thắng, Nguyễn Đức Cẩn, cùng toàn xã trên dưới kí bầu.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 377 – 379