Hậu thần bi kí

Hậu thần bi kí

Thông tin cơ bản

Hậu thần bi kí
Thác bản bia đình Hiệp Phù xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn慈山府東岸縣扶寧社下村, sưu tầm tại xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 100 x 60 cm, gồm 45 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 1200 chữ.
Niên đại: Cảnh Hưng năm thứ 28 (1767).
Người kí: Tổng trưởng Nguyễn Thạc Hạo kí.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, biểu dương việc thiện.
– Xây dựng, trùng tu di tích.

Phiên âm Hán Việt

Hậu Thần bi kí

Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Hiệp Phù xã tôn lập Hậu Thần Hậu Phật cộng bi kí.

Thường vị: hữu công đức tại nhân giả, nhân tất truy tư, nhi tự chi. Cái hậu kì sở hậu, tôn kì sở tôn. Thử cổ nhân đạo chi đương nhiên, cổ kim chi sở đồng nhiên giả dã. Quyền duy ngã ấp đắc địa chung linh…

Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi nhị thập bát, tuế tại Đinh Hợi mạnh thu cốc nhật.

Lưu truyền vạn đại

Đinh

Hợi niên thất nguyệt nhị thập nhật vi biên dân điền thổ Hậu Thần các xứ sở, khai trần vu hậu.

Kê:

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia Hậu Thần

Văn bia ghi về việc xã Hiệp Phù huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn tôn lập Hậu Thần Hậu Phật.

Thường nghe: Ai có công đức với người, thì người sẽ tưởng nhớ mà phụng thờ. Như thế sẽ càng tăng thêm hậu hĩ, càng làm cho tôn kính hơn. Đó là lẽ đương nhiên của đạo làm người, là sự nhất quán từ xưa tới nay vậy. Kính thay! Ấp ta là đất lành chung đúc linh tú… (phần này bị mờ, nên lược bỏ).

Dân xã tôn bầu Hậu Thần thờ ở đình cho ông Phan Quý công, tự Hoè, thụy Trung Chất phủ quân, từng làm chức Thị nội toán Thị nội thư tả Binh phiên, rồi Huyện thừa, Điện tiền tự Ngục thừa, thăng làm Cẩn sự lang Đồng Tri phủ phủ Trường Khánh và tôn bầu Hậu Phật phụ thờ ở chùa cho bà Lâm Thị Nguyên hiệu Diệu Quý. Những mong muôn đời sau, tháng ngày vang vọng tiếng trống, nghi thức uy nghi mà nhớ tới công sức của ông; ngày rằm, mồng một thỉnh tiếng chuông chùa cùng nhớ tới ân đức của bà để tỏ rõ tấm lòng đền đáp sâu nặng của dân làng. Công đức này muôn vạn đời sau vẫn tốt đẹp sao. Vì vậy, mọi người cùng đồng thanh rằng: nên ghi lại sự thực và định thể lệ cúng lễ để khắc lên đá, lưu truyền về sau.

Ngày lành tháng mạnh thu (tháng 8) năm Đinh Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 28 (1767). Tổng trưởng Nguyễn Thạc Hạo kí.

Vào năm Mậu Tuất (1718), xã tu sửa chùa, tôn bầu con gái của Phan Tôn công là Phan Thị Thoan hiệu Diệu Vương làm Hậu Phật. Có tiền 15 quan, ruộng 2 mảnh 5 sào rưỡi làm ruộng oản, còn ruộng nửa sào thì mua giấy tiền giá 1 mạch 48 văn, còn lại 5 sào lo cúng giỗ. Mỗi sào nấu xôi bằng 10 đấu gạo nếp, chuối tiêu giá 2 mạch tiền sử, rượu 1 chai giá 15 văn tiền sử, cau trầu 10 miếng dâng lên chùa. Tăng chùa làm oản, mua hoa quả cúng Phật, sớ văn 1 tờ, cúng lễ như nghi thức. Lễ xong, kính biếu bản tộc 1 cỗ, số còn lại thì những người có mặt ở đó cùng thụ lộc. Giỗ vào ngày… tháng …1 hằng năm.

Lưu truyền muôn thừa

Ngày 20 tháng 7 năm Đinh Hợi (1767), biên chép tiền cúng và ruộng đất của Hậu Thần ở các xứ sở, kê ra sau đây:

– Hơn 100 quan tiền sử.

– Ruộng đất tốt ở các xứ tổng cộng là 10 sào 7 thước. Xứ Cửa Chùa 1 mảnh 1 sào, 1 mảnh 1 sào 5 thước, xứ Đồng Trinh 1 sào 3 thước, xứ Rộc Đồn 3 sào rưỡi, xứ Đường Khôi 1 mảnh 1 sào rưỡi và 1 mảnh 1 sào rưỡi nữa, xứ Rộc Đồn 1 sào. Mỗi năm nộp 6 mạch tiền sử để mua giấy tiền, đèn nhang cúng hai kì giỗ, chạp.

– Ngày giỗ mùng 9 tháng tư, sắm 10 mâm cỗ, mỗi cỗ 5 đấu gạo, 1 con gà giá 1 mạch 30 văn tiền sử, rượu 1 chai định giá là 15 văn tiền sử, cau trầu 1 phong 10 miếng.

– Ngày cúng chạp 19 tháng 12 sắm 8 cỗ, mỗi cỗ 5 đấu, gà rượu, cau trầu y như lệ giỗ.

– Trong hai kì giỗ, chạp, khi cúng lễ xong, biếu bản tộc 1 cỗ, chủ tế nửa cỗ, tư văn, bồi bái 1 cỗ rưỡi, số còn lại trên dưới cùng thụ lộc để tôn trọng đạo lí.

– Lễ cầu phúc vào tháng 2 hằng năm sắm 2 cỗ, mỗi cỗ 5 đấu, gà rượu, cau trầu chuẩn như lệ trước.

– Tiền sử 12 quan, ruộng 5 sào. 1 mảnh 1 sào 5 thước ở xứ Đồng Trinh, 13 thước ở xứ Cửa Chùa. 2 mảnh ở xứ Đường Khôi cộng là 3 sào rưỡi dùng mua oản quả cúng Phật.

– Ngày giỗ mùng 5 tháng 5 sắm 4 cỗ, mỗi cỗ 5 đấu gạo, chuối tiêu giá 1 mạch rưỡi tiền sử, rượu 1 chai, cau trầu 1 phong 10 miếng. Ngày cúng chạp sắm 4 cỗ, chuẩn định như lệ 3 tiết ở trên.

Nghiêm Vũ bá Nguyễn Tín, Hương lão Nguyễn Nghị, Nguyễn Thạc Đại, Nguyễn Bá Thuyên, Cai hợp Nguyễn Truyền, Phạm Huấn, Thư tả Phan Khôi, Sở thừa Nguyễn Tông Hoa, Quan viên tử Lâm Quốc Phú, Nguyễn Tông Đạo, Nguyễn Như Cường, Nguyễn Đức Cẩn, Nguyễn Hữu Quyền, Xã trưởng Phạm Tú, Phan Quốc Phỏng, Cai hợp Đàm Thời Tự, Lê Cao Xuân, Phan Văn Thịnh, Lâm Quỳnh Khôi, Nguyễn Khắc Chử, Xã trưởng Lê Đăng Trù, Lê Đăng Khoa, cùng toàn xã trên kí bầu.

Nho sinh trúng thí An Lạc đường Nguyễn công soạn.

Chú thích

  1. Ngày tháng chưa khắc vì chưa có ngày tháng mất của người giỗ.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 380 – 383.

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)