Hậu thần bi kí/Lưu truyền vạn đại

Hậu thần bi kí/Lưu truyền vạn đại

Thông tin cơ bản

Hậu thần bi kí/Lưu truyền vạn đại
后神碑記/流傳萬代
Kí hiệu: 2457/2458
Thác bản bia đình Phù Ninh (nay không còn), xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣扶寧社, sưu tầm tại Thạch Sàng xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 50 x 68 cm, gồm 26 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 800 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Hưng Bính Ngọ (1786).
Người soạn: không ghi.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Hành trạng, công tích nhân vật.

Nguyên văn chữ Hán

後 神 碑 記

慈山府東岸縣扶寧社上中二村後神碑記

嘗聞夫享無窮之報,必留不朽之傳,是故古之人將欲垂于永遠,莫不刻石勒碑以為銘焉。況名之曰後神,其香火血食蓋於神人之下,又有一等神人者,可無碑記以為千萬世相傳之遺跡哉!

謄惟尊公賜丙戌科第三甲同進士出身入侍陪從知侍內書寫兵番歲貢部副使奉天府府尹封贈光進慎祿大夫兵部右侍郎扶祿男阮相公諱遣字伯宗號明哲賜諡和毅,業而為士,學得其真。秋棘春圍,以文章顯。南朝北使,以官業文。其在鄉邑,救災恤患,民賴以安。惟其有章,是以有慶,子孫保之傳。至於嫡孫阮德弘等仰憑祖德,因丙午年季夏偶遭飢歉,鄉役頗多,自出家資以濟民用,公之澤至是而益廣。是以本社二村追思功德,眾口同辭,共協保為本亭後神,位在本廟右邊。遞年忌臘致祭如儀,及奉事各節依前尊公之禮。而今而後,曰此有侍郎公後神之碑,有聞於後,不既榮乎!因銘之以壽其傳雲。

黎朝景興萬萬年之四十 七年歲在丙午季夏穀日

Phiên âm Hán Việt

Hậu Thần bi kí

Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Phù Ninh xã Thượng, Trung nhị thôn Hậu Thần bi kí.

Thường văn phù hưởng vô cùng chi báo, tất lưu bất hủ chi truyền. Thị cổ cổ chi nhân. Tượng dục thùy vu vĩnh viễn, mạc bất khắc thạch, lặc bi dĩ vi minh yên; hưởng danh chi viết: Hậu Thần. Kì hương hoả huyết thực, cái ư thần nhân chi hạ; hựu hữu nhất đẳng thần nhân giả, khả vô bi kí dĩ vi thiên vạn thế tương truyền chi di tích tai?

Quyền duy Tôn công tứ Bính Tuất khoa Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, Nhập thị bồi tòng, tri Thị nội thư tả, Binh phiên tuế công bộ Phó sứ, Phụng Thiên phủ Phủ doãn, phong tặng Quang tiến thận lộc đại phu, Binh bộ Hữu thị lang, Phù Lộc nam Nguyễn tướng công, húy Khiên, tự Bá Tông, hiệu Minh Triết, tử thụy Hoà Nghị. Nghiệp nhi vi sĩ, học đắc kì chân. Thu cức, xuân vi dĩ văn chương hiển; Nam triều, Bắc sứ dĩ hoạn nghiệp văn. Kì tại hương ấp, cứu tai, tuất hoạn. Dân lại dĩ ân. Duy kì hữu chưởng thị dĩ hữu hạnh. Tử tôn báo chi truyền, chí ư đích tôn Nguyễn Đức Hoàng đẳng ngưỡng phụng tôn di đức. Nhân Bính Ngọ niên, quý hạ ngẫu tao cơ liễm, hương dịch phả đa. Tự xuất gia tư dĩ tế dân dụng công chi trạch, chi thị nhi ích quảng. Thị dĩ bản xã nhị thôn truy tư công đức, chúng khẩu đồng từ cộng hiệp bảo vi bản đình Hậu Thần vị, tại bản miếu hữu biên. Đệ niên kì lạp, chi tế như nghi. Cập phụng sự các tiết y tiền. Tôn công chi lễ nhi kim, nhi hậu viết: thử Hữu thị lang công Hậu Thần chi bi hữu văn ư hậu, bất kì vinh hồ? Nhân minh chi dĩ thọ kì truyền văn.

Lê triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi tứ thập thất niên, tuế tại Bính Ngọ quý hạ cốc nhật.

Lưu truyền vạn đại

Kê: – Hậu Phật điền tại Đồng Lỗi xứ nhất khu, tương liên nhất mẫu nhất cao, Bãi Càn xứ tam sở thất cao cộng nhất mẫu bát cao quân vi các tiết. Hệ đệ niên nhị thôn đương niên giáp nhận thủ Hậu điền luân canh…

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia Hậu Thần

Bia Hậu Thần của hai thôn Thượng và Trung của xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn.

Từng nghe, phàm là người nào được báo đáp muôn đời, thì cũng được lưu truyền mãi mãi. Vì thế mà người xưa để lưu danh muôn đời sau, đều đã khắc bia dựng đá; huống chi được mệnh danh là Hậu Thần? Việc đèn nhang thờ cúng là việc tối thiểu với thần nhân; còn đối với những thần nhân thượng đẳng, lẽ nào lại không có bia ghi lại để làm di tích cho muôn ngàn đời sau lưu truyền?

Kính nghĩ, Nguyễn tướng công1, Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1706), chức Nhập thị bồi tòng tri Thị nội thư tả, Binh phiên tuế cống bộ Phó sứ, Phủ doãn phủ Phụng Thiên, tặng Quang tiến thận lộc đại phu Binh bộ Hữu thị lang, tước Phù Lộc nam, húy là Khiên, tự là Bá Tông, hiệu là Minh Triết, ban tên thụy là Hoà Nghị. Ngài vốn là một kẻ sĩ, học được chân Nho. Thi hương, thi hội, nổi tiếng văn chương; Nam triều, Bắc sứ ngợi khen hoạn lộ. Đối với làng xóm, ngài cứu giúp trong lúc tai ương, hoạn nạn. Dân được cậy nhờ, yên ổn. Tên tuổi ngài càng thêm rạng rỡ, họ tộc càng thêm phúc lộc. Phúc lộc truyền cho cháu con, đến cháu trưởng là Nguyễn Đức Hoàng. Kính nhờ đức tổ, cuối mùa hạ năm Bính Ngọ (1786), gặp lúc đói kém, việc làng bề bộn, cháu trưởng ngài đã bỏ tiền của nhà ra cứu giúp. Dân được đội ơn càng ngày càng lớn. Vì lẽ đó, dân hai thôn trong xã tưởng nhớ công đức này mà muôn người như một, nhất nhất tôn bầu Ngài làm Hậu Thần của đình làng, đặt bài vị tại bên phải miếu. Hằng năm ngày giỗ chạp, tế lễ như nghi thức. Còn các tiết cúng lễ thì theo y như lệ cúng Tôn công trước ngày. Từ nay về sau khi nói đến tấm bia Hậu Thần này của vị Hữu thị lang có tiếng đến đời sau, há lại không vẻ vang lắm ru? Nhân thế mà khắc lên đá để lưu truyền mãi mãi.

Ngày lành tháng cuối hạ, năm Bính Ngọ, năm Cảnh Hưng 47 triều Lê (1786).

Lưu truyền muôn thừa

Kê:

– Ruộng Hậu Thần ở xứ Đồng Lỗi 1 khu liền nhau gồm 1 mẫu 1 sào. Xứ Bãi Càn 3 thửa 7 sào, cộng 1 mẫu 8 sào, chia đều cho các tuần tiết. Hằng năm, giáp nào của hai thôn đương cai thì nhận ruộng hậu thay phiên nhau cày cấy, mỗi sào 1 cỗ, gồm: xôi nấu bằng nếp thu 7 đấu, gà 1 con giá tiền 2 mạch, rượu 1 hũ, trầu 1 cơi, giấy tiền 1000 tờ.

– Ngày 13 tháng 5 hằng năm là ngày giỗ chính, vào giờ Ngọ, giáp nào đương cai thì làm 10 cỗ, dâng lễ theo nghi thức. Giáp trưởng của giáp đương cai, mũ áo tề chỉnh đứng làm Trưởng tế, còn giáp trưởng các giáp khác làm Bồi tế. Cúng lễ xong, biếu Tư văn 1 cỗ, Bồi tế nửa cỗ, Trưởng tế nửa cỗ. Còn lại 8 cỗ chia đều cho những ai có mặt ở đó thụ lộc.

– Ngày 13 tháng 11 hằng năm, lạp tiết (đông chí) sắm 4 cỗ cúng lễ. Lễ xong, biếu tư văn, bồi tế theo lệ ngày giỗ.

– Ruộng sắm áo mũ vàng mã 1 sào ở xứ Bãi Càn. Hằng năm đến ngày 25 tháng 11 mua áo mũ vàng mã đặt tại ban thờ cúng đèn nhang thờ cúng.

– Ruộng 3 sào ở xứ Đồng Lỗi, hằng năm đến kì lễ cầu phúc, mỗi sào nộp 5 mạch tiền cổ.

– Ruộng Hậu, nếu xã tu sửa đình thì ngoài việc quyên góp ra, còn tạm thu hoa lợi của ruộng Hậu để chi dùng các kì giỗ chạp. Mỗi tuần tiết sắm 1 cỗ. Cúng xong, biếu lộc theo lệ.

Sau này, nếu trong họ có người nào manh tâm bất hiếu, nhận liều ruộng này, xin bản xã cứ kêu lên quan trên và thu hoa lợi để chi phí việc kêu kiện đó. Đồng thời hoãn việc làm giỗ, chờ đến khi kêu kiện xong, mới chiếu theo bia thờ cúng như lệ.

Chú thích

  1. Tức Nguyễn Bá Tông (1681 – ?), người xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn. 26 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1706) đời vua Lê Dụ Tông, làm Phủ doãn phủ Phụng Thiên, đi sứ nhà Thanh, mất trên đường đi, được tặng Binh bộ Tả thị lang.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 252 – 258

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)