Hậu thần bi kí/Phù Ninh xã Hạ thôn kí
後神碑記/扶寧社下村記
Kí hiệu: 02482/2483
Thác bản bia đình thôn Hạ xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn慈山府東岸縣扶寧社下村, sưu tầm tại xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 95 x 98 cm, gồm 46 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 1000 chữ, có hoa văn, có chữ húy: Đề ; Cửu .
Niên đại: Chính Hòa thứ 6 (1685).
Người soạn: Nguyễn Phú Liêu 阮富僚; quê quán: xã Phù Ninh.
Người khắc: Nguyễn Tiến Lộc 阮進祿; quê quán: làng Đại Bái, Gia Lâm, Thuận Thành.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, biểu dương việc thiện.
– Xây dựng, trùng tu di tích.
Nguyên văn chữ Hán
后 神 碑 記
慈山府東岸縣扶寧社下村官員斯文鄉老社村長上下等為承本社前特進輔國上將軍提督神武四衛軍務事兼提領四城軍務事右象奇該管加贈右都督詠郡公阮令公字睿厚諡剛簡恩德尊為后神世世奉祀立碑之事。
嘗謂有功於國則榮之,有功於民則祀之。求其身榮於當時,血食於後世,惟大人之德當時敬。惟令公北方勁氣,東邑高標。承祖宗崇德之傳,仁基福址。逢明均聖主以會佳節,良緣功收象外。作爪牙以志攀龍,內為心腹。爵添五等,轉為候,轉為公。祿食千鐘,給以民,給以士。功施社稷,澤被民生。發多錢甫造華亭,俾全社共霑洪福。既尊參督贈少保端嚴候為后神以奉珍甘美饌,又立正夫人陶貴氏為后佛以供碗果齊盤,加三百之錢鏪,許七畝之田高。及計偏方狂寇,剪壘蕩平,並赦本社另兵,留家安佚。人人仰德,處處咸恩。茲下村讓與上中二村舊亭歸便之時,本族許以瓦家建為廟亭,完好。並許肥田一畝,善繼前人之志,善述前人之事,孰不欽於景仰哉!因追祀前贈右都督阮令公位居其右,係遞年奉事忌臘如法,入席祈福,鉦鼓旗杖,衣帽整肅,敬祭如儀。血食無窮,名芳不朽,萬代以後。本村之人,結草銜環,思恩以報,銘心刻骨,沒齒不忘,是語也。天地鬼神監觀之中,外人民感慕之,因立碑文,使永監之。
皇朝正和萬萬年之六孟冬節穀日
扶寧社下村。。。上下全記
Phiên âm Hán Việt
Hậu Thần bi kí
Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Phù Ninh xã Hạ thôn quan viên tư văn, hương lão, xã thôn trưởng thượng hạ đẳng vi thừa bản xã tiền Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Đề đốc Thần vũ tứ vệ quân vụ sứ, kiêm Đề lãnh tứ thành quân vụ sứ, Hữu tượng kì cai quan, gia tặng Hữu Đô đốc Vịnh Quận công Nguyễn Lệnh công, tự Duệ Hậu, thụy Cương Giản, ân đức tôn vi Hậu Thần thế thế phụng tự lập bi chi sự.
Thường vị hữu công ư quốc, tắc vinh chi; hữu công ư dân, tắc tự chi. Cầu kì thân, vinh ư đương thời, huyết thực ư hậu thế. Duy đại nhân chi đức đương thời. Kính duy: Lệnh công, Bắc phương kinh khí, Đông ấp cao tiêu. Thừa tổ tông sủng đức chi truyền, nhân cơ phúc chi; phụng minh quân thành chúa dĩ hội giai tiết lương duyên, công thu tướng. Ngoại tắc trảo nha, dĩ chí phan long; nội vi tâm phúc, tước dự ngũ đẳng. Chuyên vi hầu, chuyên vi công. Lộc thực thiên chung, cập dĩ dân, cập dĩ sĩ. Công thì xã tắc trạch bị sinh dân, phát dã tiền phù tạo hoa đình.
Tỉ toàn xã cộng chiêm hồng phúc. Kì tôn tham đốc, tặng Thiếu bảo Thụy Nghiêm hầu vi Hậu Thần, dĩ phụng trâm cam mĩ soạn. Hựu lập Chánh phu nhân Đào Quý thị vi Hậu Phật, dĩ cung oản quả trai bàn. Gia tam bách chi tiền tương, hứa thất mẫu chi điền cao; cập kề biên phương cường khẩu, tiền luỹ đẳng bình tĩnh, xã bản xã lãnh bình lưu gia an dật. Nhân nhân ngưỡng đức, xứ xứ hàm ân. Tư Hạ thôn nhượng dữ Thượng, Trung nhị thôn cựu đình quy tiền chi thời. Bản tộc hứa dĩ ngoại gia kiến vi miếu đình hoàn hảo, tính hứa phi điền nhất mẫu. Thiện kế tiền nhân chi chí thiện, thuật tiền nhân chi sự. Thục bất khâm ư cảnh ngưỡng tai. Nhân truy tự tiền tặng Hữu Đô đốc Nguyễn Lệnh công vị cự kì hữu. Hệ đệ niên phụng sự kì lạp như pháp, nhập tịch kì phúc. Chính cổ kì trường, y mao chính thức, kính tế như nghi, huyết thực vô cùng, danh phương bất hủ, vạn đại dĩ hậu. Bản thôn chi nhân kết thảo hàm hoàn, tư ân dĩ báo minh tâm khắc cốt, một xĩ bất vong, thị ngữ dã. Thiên địa quỷ thần giám quan chi trung ngoại, nhân dân cảm mộ chi. Nhân lập bi văn sử vĩnh giám chi.
Hoàng triều Chính Hoà vạn vạn niên chi lục, mạnh đông tiết cốc nhật, bản thôn thượng hạ xã trưởng Nguyễn Văn Tào kí. Hậu bối liên danh cộng kí.
Phù Ninh xã Hạ thôn kí.
Ngô Đức Nhuận, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Đức Đỗ…
Tuế thứ Ất Sửu niên cửu nguyệt cốc nhật tạo bi kí. Kê:…
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Thần
Quan viên tư văn hương lão xã thôn trưởng thôn Hạ xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn cùng nhớ đến ân đức của vị Nguyễn Lệnh công người trong xã, có tên tự là Duệ Hậu, tên thụy là Cương Giản, làm quan đến chức Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Đề đốc thần vũ tứ vệ quân vụ sứ, kiêm Đề lãnh tứ thành quân vụ sứ, Hữu tượng kì Cai quan, gia tặng là Hữu Đô đốc Vịnh Quận công, mà tôn bầu làm Hậu Thần, phụng thờ mãi mãi. Vì vậy lập bia ghi lại.
Thường nghe: người có công với nước tất sẽ vinh hiển, kẻ có công với dân ắt được thờ cúng. Việc mong được vinh hiển trên đời, được thờ cúng về sau; đó là đức hạnh của bậc đại trượng phu rất đáng tôn kính vậy.
Kính nghĩ: Ngài Lệnh công ta bẩm khí mạnh cõi Bắc phương, treo gương cao nơi Đông ấp. Kế thừa công đức tổ tông, nên nhân gốc phúc; gặp hội vua hiền chúa sáng, kết đẹp duyên lành. Ông từng có công thu phục binh tướng, làm nanh vuốt ngoài cõi, có chí vấn vịn bệ rồng; giữ tâm phúc trong cung nội. Tước chỉ có 5 bậc (công, hầu, bá, tử, nam), thì ông được phong đến công; lộc hưởng ngàn chung, được ban đất đai, dân ấp. Công đức của ông ban truyền xã tắc, giúp đỡ dân sinh. Ông từng bỏ nhiều tiền của dựng đình làng, khiến toàn xã cùng nhuần phúc lớn. Dân làng đã tôn bầu ông – vị Tham đốc, được tặng là Thái bảo Đoan Nghiêm hầu, làm Hậu Thánh hoàng để dâng hương thơm vị ngọt. Lại lập Chánh phu nhân Đào quý thị làm Hậu Phật để cúng oản quả cỗ chay. Nhân đó, ông cúng thêm 300 quan tiền và 7 mẫu ruộng để đèn nhang. Ông còn có công đánh giặc giữ nơi biên cương, đánh tan sào huyệt của chúng. Ông cũng từng miễn gọi lính cho xã để ở lại làm ăn. Người người đội ơn lớn, chốn chốn ngậm ơn sâu.
Nay thôn ta nhường lại đình cũ cho hai thôn Thượng và Trung để được tiện lợi. Khi đó, bản tộc lấy ngôi của nhà mà xây thành đình miếu hoàn hảo và biếu ruộng tốt một mẫu cho làng. Ông đã khéo noi chí tiền nhân, theo gương người trước. Ai ai đều hân hoan, kính nể. Bởi vậy dân làng truy thờ Ngài họ Nguyễn, nguyên được tặng là Hữu Đô đốc, ở bên phải đình. Hằng năm vào các kì lễ tiết: cầu phúc, giỗ tết, nhập tịch… thì chiêng trống, cờ quạt, áo mũ nghiêm túc chỉnh tề kính tế như nghi thức đã định. Phụng thờ mãi mãi, tiếng thơm muôn thừa. Dân làng từ nay về sau hết thảy ghi ơn, báo đáp ân đức của Ngài. Xin trời cao chiếu xét. Nay lập bia lưu truyền mãi mãi.
Ngày lành tháng 10 năm Chính Hoà 6 (1685), Xã trưởng Nguyễn Văn Tào kí. Lớp hậu bối toàn thôn liên danh cùng kí.
Thôn Hạ xã Phù Ninh cùng kí.
Ngô Đức Nhuận, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Đức Đỗ, Phạm Công Trung, Nguyễn Văn Hạ, Nguyễn Hữu Sĩ, Ngô Đức Quý, Nguyễn Đức Cẩm, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Phúc Quý, Nguyễn Văn Luyện, Ngô Văn Cao, Phạm Đình Sách, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Khắc Trị, Nguyễn Gia Lương, Nguyễn Bá Công, Nguyễn Nhân Toàn, Nguyễn Phú Hồng, Nguyễn Văn Chúc, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Bá Toàn, Nguyễn Hữu Minh, Ngô Đức Lộc, Nguyễn Phú Liêu, Nguyễn Văn Quý, Nguyễn Văn Tước, Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Văn Tham, Thạch Công Khoa, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Gia Diễn, Nguyễn Hữu Lao, Phạm Đình Vinh, Phạm Công Thành, Nguyễn Bá Tùng, Nguyễn Phúc Luân, Nguyễn Thế Triều, Nguyễn Tiến Phú, Nguyễn Văn Luận, Nguyễn Bá Tôn, Nguyễn Phúc Chấn, Nguyễn Nhân Vinh, Nguyễn Hữu Lĩnh, Nguyễn Khắc Hải, Nguyễn Văn Diễn, Nguyễn Văn Du, Ngô Văn Tín, Nguyễn Nhân Sáng, Nguyễn Nhân Xô, Nguyễn Hữu Khả, Nguyễn Văn Đình, Nguyễn Khắc Hà, Nguyễn Văn Hứa, Nguyễn Phúc Cẩn, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Phúc Giai, Nguyễn Phúc Sở, Nguyễn Đức Sử, Nguyễn Phú Yên, Nguyễn Văn Cơ, Nguyễn Văn Giảng, Nguyễn Văn Cây, Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Thế Minh, Nguyễn Gia Như, Nguyễn Đức Đậu, Nguyễn Bá Quốc, Ngô Đức Vạn, Nguyễn Văn Tuế, Nguyễn Nhân Chi, Ngô Đức Lan, Nguyễn Nhân Lộng, Nguyễn Hữu Núi… kí.
Toàn xã trên dưới cùng lập khoán ước để truyền dài lâu. Bởi rằng: xét thấy trong xã ta từng có vị Đô đốc phủ Hữu Đô đốc Vịnh Quận công Nguyễn Lệnh công đã không ỷ vào chức vị mà tự kiêu, chẳng lấy công lao mà tự phụ. Ông luôn khiêm nhường, lấy đức mà yêu thương mọi người. Dân làng đã từng chịu ân sâu, lẽ nào chẳng nghĩ cách báo đáp? Dân làng trên dưới đều thống nhất dựng bia đá để ở xứ cho Phù Ninh thờ Nguyễn Lệnh công. Ông từng ban cho huệ điền 1 mẫu và tiền xanh 100 quan, cùng dựng 5 gian đình để thờ tự mãi mãi. Nhân đó lập khoán ước để vào ngày giỗ 28 tháng 2 cùng lạp tiết, lễ vật dâng điện thờ cúng lễ như nghi thức. Từ nay về sau, dân ấp phải giữ lời cam kết này, lưu truyền mãi mãi, giữ lấy thành tập tục nhân hậu. Ai sai phạm sẽ có đèn trời soi xét, quỷ thần chiếu giám. Nay lập khoán ước.
Ngày lành tháng 9 năm Ất Sửu (1685) dựng bia.
Kê: Ngày giỗ: xôi 9 cỗ gồm 5 đấu gạo, gà 1 đôi, rượu ngon 1 chĩnh, cau trầu 1 phong.
Ngày chạp: xôi 9 cỗ với 5 đấu gạo, gà, rượu, cau trầu như lễ giỗ.
Thợ đá Hoàng Đức và môn đệ Nguyễn Tiến Lộc, người làng Đại Bái huyện Gia Định phủ Thuận An cùng khắc bia. Văn Nhật nam Nguyễn Phú Liêu người trong xã viết chữ.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 259 – 266.