Hiển Linh từ thạch bi

Hiển Linh từ thạch bi

Thông tin cơ bản

Hiển Linh từ thạch bi
顯靈祠石碑
Kí hiệu: 7120/7121
Thác bản bia xã Phù Đổng huyện Tiên Du phủ Từ Sơn 慈山府仙遊縣扶董社, sưu tầm tại đền Hiển Linh xã Phù Đổng tổng Phù Đổng huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 67 x 105 cm, gồm 61 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 3500 chữ, có hoa văn, có chữ húy: Ninh , Đề , Long , Đàm , Anh .
Niên đại: Hoằng Định thứ 6 (1605).
Người soạn: Nguyễn Thạc Đức 阮碩德; quê quán: xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn; học vị: Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu Quang Hưng thứ 12 (1589); chức vị: Hình khoa Đô cấp sự trung.
Người viết: Nguyễn Đĩnh 阮挺; quê quán: xã Phù Đổng; chức vị: Đề lại.
Người khắc 1: Hoàng Văn Bích 黃文璧; quê quán: xã Gia Đức huyện Thủy Đường.
Người khắc 2: Vũ Tần 武頻; quê quán: xã Gia Đức huyện Thủy Đường.
Chủ đề:
Sự tích, Thần phả.

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia đá đền Hiển Linh

Trời chung đúc lên thần linh là để ban phúc cho nước, cho dân vậy. Con người hết mực tôn kính thần minh là để cảm công, đáp đức vậy. Tuy nhiên, việc trời sơ sinh đó, người tôn sùng đó cũng là do đất sinh ra vậy. Mừng nay, danh hương Phù Đổng ta là thắng địa bậc nhất nhì trong xứ Kinh Bắc. Gần thì có dòng Thiên Đức tạo thế nước hướng tây chảy lượn uốn khúc quanh co như thế rồng chầu, xa thì có đỉnh Tiên Sơn hình thế từ phía Đông trùng điệp lớp lớp tạo thế hổ phục. Từ phía Nam có đầm nước mênh mông, phía Bắc là làng Cổ Pháp cây cối tốt tươi. Chính nơi đây được linh khí chung đúc nên vậy. Vì thế mà sinh ra thần minh, đã từ lâu duy có vị thần là Thiên vương, thuần gia, chiêu dũng, huệ liệt, uy tín, linh hựu, phù cảm, xung thiên, minh ứng, chính nghị, anh vũ, thông tế, hoằng hóa, mậu công, tịnh nan, tuy hưu, dực mỹ, khuông quốc, chương nghĩa, hiển nhân, quảng trí, khang dân, bảo định, quang khánh, hồng phúc, phù thuận, bác ân, thịnh đức, trợ trinh, hiển văn, dương vũ, đại lược, mậu đức, thánh công, thần hóa, thiên vương.

Thần minh do đất trời chung đúc, sông núi tinh anh hóa thác vào nhà phú nông lúc ngoài 60 tuổi. Lúc đầu sinh ra một dị nhân cho nước, khi lớn lên thì cao lớn đến ngoài 9 trượng, rồi trở thành kì tài trong thiên hạ.

Vào thời Hùng Vương lấy quốc hiệu Văn Lang, biết dựa vào dân mà đất nước giàu mạnh. Vua theo nghi thức triều chính, tướng có quân lính. Nhờ vào thần mà hỏi kế sách công thủ, ngầm hiển hiện phù giúp. Truyền bảo lực sĩ lên đàn rước đón Long Thần. Sau đó giặc Ân đến xâm phạm biên ải. Như kế sách Long Quân năm trước, vua cho chỉnh đốn binh giới, luyện tập quân sĩ, sai sứ đi cầu hiền tài tứ phương, nếu ai phá được giặc, sẽ được phân phong một ấp.

Thiên vương lúc lên ba, mà vẫn chưa biết nói. Nhưng khi có tiếng rao của sứ giả, thì bảo mẹ cho gọi đến. Thân mẫu hết sức kinh ngạc, sứ giả cũng hết sức kinh ngạc, khi nghe nói làm cho mọi thứ bằng sắt. Sứ giả vội quay về bẩm báo, động đến thiên nhan. Vua liền sai thu gom được 50 cân sắt luyện thành các vật. Rồi sai sứ giả mang đến nhà Thiên vương. Thiên vương cười nói: thưởng thì nhận ở triều đình, báo đáp thì nhờ công dưỡng dục. Gia đình nuôi ăn chuẩn bị không đủ, xóm làng nhộn nhịp trợ giúp, ai nấy đều lấy làm lạ. Lại lo bò, rượu hoa quả lễ vật bày la liệt tế lễ.

Bỗng nhiên, anh phong vụt đến, nhuệ khí ầm ầm, Thiên vương vươn vai, người cao hẳn lên đến chừng 10 trượng, hô thành tiếng vang xa hơn 10 dặm, tự nhảy lên ngựa sắt cao tới 18 thước. Thấy roi sắt uy thế, quan quân chạy theo vang động. Ngài cưỡi mây khua kiếm sắt, uy thanh động trời, quân giặc khiếp sợ tan vỡ tháo chạy ra hàng. Đất nước thanh bình, Ngài truy đuổi đến chân núi Trâu Sơn huyện Vũ Ninh thì bay lên trời, từ trên tảng đá núi Sóc ở Yên Việt còn lưu lại dấu tích. Một thời ngợi khen là Thiên tướng Việt quốc, ân sâu báo đức muôn đời Hoàng ân phong là Đổng Thiên Vương, cho dựng đền ở làng, ban dân làng được làm tạo lệ để lo phụng thờ mãi mãi, lại cấp ruộng 100 mảnh trong thiên hạ để lập miếu phụng thờ, ruộng hương hỏa lưu truyền mãi mãi.

Trải từ triều Đinh đến Tiền Lê, rồi đến đời vua Lý Thái Tổ cảm nhận sự anh linh hiển ứng của Thần mà phong làm Xung Thiên Thần vương, cho lập đền thờ tại làng Phù Đổng, ở bên cạnh ngôi chùa Kiến Sơ danh tiếng. Tô tượng đặt tại núi Vệ Linh, cứ vào tháng trọng xuân thì làm tế lễ theo nghi thức tại đây. Đến thời Trần, Hồ thì bị hư hoại do loạn lạc. Chưa từng có vị Thánh giáng thế nào có thể ban công đức làm rạng rỡ như thế vậy.

Nay nhờ quốc triều Thái tổ Cao Hoàng đế kiêm tư chất Thần võ, nổi chí anh hùng, từ Lam Sơn phát tích dấy đại quân nhân nghĩa, quét sạch giặc Hồ, thu lại giang sơn về một mối. Chiến công đó là nhờ linh ứng phù giúp của Thiên vương. Vì thế được ban sắc cho phụng thờ.

Sự tích Thiên vương thì các đời đều có bi kí ghi lại, tế lễ liệt vào điển lệ thờ cúng quốc gia, xếp ở vị trí thứ 8 trong đền Thần. Hàng năm sai trai đinh đến chuẩn bị lễ vật dâng lên tế lễ theo như nghi thức, nối dài mãi cùng vận nước, phù giúp quốc thái dân an. Mỗi khi gặp hạn hán mà làm lễ cầu đảo, thì đều có mưa giúp người vật sinh sôi nảy nở, thiên hạ phú cường.

Người có công đức với nước, với dân đều được ghi nhớ mà phụng thờ, bốn mùa thiên hạ báo đáp công đức, thật khó lường vậy. Vào tháng trọng thu hàng năm và hai kì cầu phúc nhập tịch có ca hát rước thần uy nghiêm như thần đang hiển hiện ở đó. Các giáp đương niên, đương cai trai tịnh thành kính hàng ngày để xin cho phúc lành. Mùa hè tháng mạnh hạ có lệ nhập tịch, cầu phúc, sai lập đàn, Thánh vương từ trên trời giáng lâm uy nghiêm như chính khí bao phủ. Nữ quan, nữ tướng trong xã tay cầm cờ xí xếp hàng theo nghi thức hình đồ bách chiến, làm cho đạo thêm hưng thịnh. Dưới thì thứ dân kính tín như có thần ở trên, thành tâm phụng sự.

Nay nhờ Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương (Trịnh Tùng 1570-1623) hai ba lần có công tiễu trừ ngụy tiếm (quân Mạc), khôi phục kinh thành, dụng binh hành quân, mỗi lần thành tâm cầu khẩn, là mỗi lần chinh phạt thắng lợi. Đó là nhờ ơn ngầm giúp linh ứng của Thần minh. Vì thế chúa sai quan trong triều đến tế, lại sai mang phẩm vật đến bày đặt theo nghi thức.

Vào ngày 22 tháng 11 năm Hoằng Định thứ 5 (1605), ban chuẩn cấp cho các loại ruộng, ao đầm trong xã lo thờ cúng bản đền như lệ cũ. Lại ban tạo lệ cho dân xã được miễn phu phen tạp dịch phụng thờ. Thần linh phù trì quốc gia cơ đồ bền vững, quốc thái dân an, bảo hộ tông xã trường tồn mãi mãi.

Danh sách: Hiển linh kê ra sau đây: Thiên Liệt vệ Trần Vũ ty Đô chỉ huy sứ Hoàng Tung, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Sư Khanh, Nguyễn Hưng Tạo, Nguyễn Đức Văn, Đặng Hữu Viễn, Nguyễn Nhân Chính, Đặng Nghĩa Phương, Nguyễn Công Mỹ…

Ngày lành tháng 6 năm Hoằng Định thứ 6 (1606).

Vị Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu (1589), chức Triều liệt đại phu, Hình khoa Đô cấp sự trung, Tu Thận thiếu doãn Nguyễn Thạc Đức, người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn soạn văn bia.

Thợ đá xã Gia Đức huyện Thủy Đường Đích Sơn bá Hoàng Chi bích khắc bia.

Nguồn: Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội (2013), Tổng hợp tư liệu Hán Nôm tại khu di tích lịch sử xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, tr. 46 – 49.

Chấm điểm
Chia sẻ

Hình ảnh văn bia

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)