Hoa Lâm Trịnh Tiến sĩ/Gia phả bi kí/Thế thứ thực tự/Kế thuật tục chí

Hoa Lâm Trịnh Tiến sĩ/Gia phả bi kí/Thế thứ thực tự/Kế thuật tục chí

Thông tin cơ bản

Hoa Lâm Trịnh Tiến sĩ/Gia phả bi kí/Thế thứ thực tự/
Kế thuật tục chí
華林鄭進士/家譜碑記/世次實敘/繼述續誌
Kí hiệu: 2987/2988/2989/2990
Thác bản bia xã Hoa Lâm huyện Đông Ngàn xứ Kinh Bắc 京北處東岸縣華林社, sưu tầm tại đình thôn Thái Đường Đông xã Danh Lâm tổng Hội Phụ huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 4 mặt, khổ 54 x 92 cm, gồm 88 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 3000 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 7 (1746).
Người soạn: họ Phan 潘 tức Phan Tự Cường 潘自強, tên hiệu: Phan Phủ; học vị: Tiến sĩ khoa Canh Tuất [niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670); chức vị: Tham chính sứ Thừa chính sứ ty xứ Thanh Hóa.
Người viết chữ: Đặng Trinh 鄧禎; quê quán: xã Nguyệt Viên; chức vị: Cai hợp, Thị nội Thư tả; tước Mậu Lâm nam.
Người nhuận sắc, viết chữ, khắc bia: Lê Đình Tướng 黎廷相; tước vị: Nhân Nghĩa bá 仁義伯.
Chủ đề:
– Gia phả, lai lịch dòng họ.
– Hành trạng, công tích nhân vật.
Tóm lược nội dung:
Gia phả của Tiến sĩ Trịnh Đức Nhuận người xã Hoa Lâm huyện Đông Ngàn xứ Kinh Bắc. Trình bày các thế hệ từ cụ tổ 7 đời trở xuống đến đời cha mẹ của ông. Cha của ông tự Phúc Khang, 26 tuổi trúng Hương giải, thi Hội trúng tam trường, trải làm Huấn đạo phủ Phụng Thiên, Lệnh doãn huyện Thiên Bản, Hình bộ Viên ngoại, Hiến sát Hải Dương. Mẹ ông họ Đỗ, là con gái ông Lang trung Bộ Binh. Ông có 5 anh em. Anh cả là Đôn Nhã, thi Hội trúng tứ trường, làm Huyện lệnh huyện Hiệp Hòa, thăng Thái thú phủ Quốc Oai. Các em thứ 2, thứ 3 là em gái, còn em út là em trai. Ông là con thứ hai, sinh ngày 2 tháng 11 năm Quí Tị. 18 tuổi đi thi Hương đỗ cùng với cha, thi Hội đỗ cùng bảng với anh cả. Khoa Bính Thìn [niên hiệu Vĩnh Trị 1 (1676)] đỗ Tiến sĩ, trải làm quan giữ các chức Giám sát xứ Hải Dương, Hiến ty Hải Dương, Đốc đồng các xứ Sơn Tây, tham gia bắt giặc có công, thăng Sơn Tây Thừa chính sứ ty Thừa chính sứ. Năm Mậu Thìn làm Đốc đồng Tuyên Quang, đánh thắng giặc, giải cứu được những người bị giặc bắt, được thăng Thái bộ Tự khanh, Thiêm Đô ngự sử. Ông lấy 3 vợ, sinh ra các con trai giỏi giang, con gái quí phái, dâu rể đông đúc thịnh vượng. Mặt bia thứ ba liệt kê thế thứ phả hệ theo thứ tự từ đời thứ 7 xuống đến đời khảo tỉ với đầy đủ tên hiệu, ngày giỗ, vị trí và phương hướng phần mộ. Mặt bia thứ tư do các con và cháu đích tôn của Tiến sĩ khắc vào năm Cảnh Hưng thứ 7, Bính Dần (1746), đời Vua Lê Hiển Tông, ghi tiếp tóm tắt tiểu sử của ông: đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn, trải làm quan Lễ bộ Hữu Thị lang, tước Thư Lâm nam, rồi thăng Hộ bộ Tả Thị lang, tước Thư Lâm tử, tên tự Trinh Đạt, thụy Tuấn Dĩnh. Ông mất ngày 17 tháng 11 năm Quí tị, thọ 61 tuổi, mộ an táng ở thôn Phi xã Dục Tú.
Ghi chú: Các mặt bia được khắc vào các niên đại khác nhau: năm Chính Hòa thứ 17 (1696) và Cảnh Hưng thứ 7, Bính Dần (1746).

Chấm điểm
Chia sẻ

Hình ảnh văn bia

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)