Linh Quang tự sự tích bi
靈光寺事跡碑
– Bia tại chùa Bà Đá, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
– Bia 1 mặt
– Kích thước: Chiều cao 98cm, chiều ngang là 65cm
– Trang trí: Bia hình chữ nhật đứng, trán bia vòm cung trang trí hai rồng chầu mặt trời, giữa bia khắc chữ Hán, bề mặt bị xước nhiều nhưng nét chữ vẫn rõ nét.
– Niên đại: Khải Định thứ 3 (1918)
– Người soạn: Thiền Sư Thông Toàn
– Chủ đề: Lịch sử, nhân vật, làng xã
Nội dung tóm lược:
Nội dung tấm bia ghi lại quá trình hình thành, trùng tu và mở rộng chùa từ niên hiệu Hồng Đức, thời Lê (1470- 1497). Chùa khởi nguồn từ việc phát hiện tượng đá được cho là Phật giáng hạ, qua các giai đoạn chùa nhiều lần bị hư hại và được dân làng, các tổ sư, Phật tử góp công, hiến đất để khôi phục. Bia nêu rõ công lao, diện tích các hạng mục và lý do khắc bia là để ghi nhớ, lưu truyền cho hậu thế.
Phiên âm
Linh Quang tự sự tích bi
Hà thành đệ tứ họ Hàng Trống phố.
Nguyên Thuận Mỹ tổng, Tự Tháp thôn, Linh Quang tự, Trưởng tòa Nguyễn Văn Hợp/ Hiệp tự Thông Toàn, vi lập bi ký sự. Nguyên bản tự tự Lê Hồng Đức niên gian, dân thôn hữu nhất nhân cư thử, cập hậu nhất nhân khai thổ trúc tường, hốt kiến nhất thạch tượng như Phật hình, dân thôn dĩ vi Phật giáng, nãi hợp đồng dân tạo tác ngõa tự phụng sự, nhân dân lễ đảo đa hữu linh ứng. Chí Quang Trung niên gian, bị hỏa thiêu đãng tận, dân thôn trừ địa duy tồn thạch thạch tượng, tái cấu nhất tiểu trúc am phụng sự, nhân dân lễ đảo linh ứng như tiền. Cập thỉnh ngã tổ sư hiệu Giác Viên Trụ trì, tổ sư thủy [kiến] lập ngõa tự, tạo chư Phật Bồ tát các tòa phụng sự. Địa thị hiệp tiểu, tạo tác lương nan.
Ư Thiệu Trị thất niên thập nhất nguyệt nhật, ngã tổ sư khuyến mãi các chủ danh Luyện, danh Chí, danh Kỳ, Thị Kỳ thổ phần hợp vi nhất khu.
Ư Tự Đức nhị niên, tứ nguyệt nhật, danh Thành tương gia thổ cúng nhập bản tự. Hựu tứ niên, danh Thản nguyện tương gia thổ cúng dữ tổ sư hợp vi quảng bác tự địa, cụ hữu khế tự. Ngã tổ sư thủy tạo tác ngoại tiền đường, tổ đường, cập tăng xá, táo gia, dư vi viên sơ. Hậu tổ sư viên tịch, sơn môn cử ngã kế đăng Trụ trì. Ngã duy nội thủ kiệm ước, ngoại giả chúng duyên, khuynh giả chính chi, tệ giả bổ chi.
Ư Thành Lai thập niên, tuế thứ Mậu Tuất trùng tu chính tự nhất tòa, cách cố đỉnh tân, thuần dụng thiết lâm mộc hạng, tổ đường tăng xá các tòa tất giai tu lý tăng quang tích nhật.
Chí Thành Lai thập tứ niên, Nhâm Dần thập nhất nguyệt nhật, do Nhà Chung sở dục trích mãi đình tiền tả biên tiểu phiến, thủy tương văn khế hướng quý tòa trình sát. Chí thập nhị nguyệt, nhị thập ngũ nhật, mông đắc phê phó thanh hoàn. Duy chính tự nội tiền đường, tường hồi phương chí Phật điện, tường hậu trường nhị thập nhị xích tam thập ngũ phân, do Tây xích; Phật điện tường hậu liên tiểu đình chí thượng lang thập gian bán; tường hậu hoành nhị thập xích tứ thốn nhị thập phân, do Tây xích. Hệ thị công thổ tiểu hạng thông chí chính tự trường nhị thập lục xích lục thốn; tiền hoành nhị xích; hậu hoành nhất xích ngũ thốn, do Tây xích, diệc thị công thổ. Tồn [giáp] chính tự giai tiểu đình chí ngoại tiền đường liên tân lang chuyên tường, hậu tổ đường liên thượng hành lang tường hậu tam gian bán, hạ hành lang học gia táo gia cập tiền hậu nội ngoại không thổ viên các sở, hệ thị tư thổ cụ hữu văn khế tứ bức, địa đồ nhất bản.
Phù sáng nghiệp chi nhược thử vi nan, nhi thủ thành chi như tư bất dị.
Viên trần điên mạt lặc vu trinh mân.
Ức phi hảo sự vi chi, lương dục thọ kỳ truyền vân nhĩ.
Khải Định tam niên, tuế tại Mậu Ngọ bát nguyệt cát nhật.
Giám tự Nguyễn Văn Khánh hiệu Thanh Hào phụng khắc bi chí.
Dịch nghĩa
Nhà số 4 Phố Hàng Trống, Hà thành. Vốn là chùa Linh Quang, thôn Tự Tháp, tổng Thuận Mỹ, Trường tòa Nguyễn Văn Hợp/ Hiệp, tự Thông Toàn, vì việc lập bia ký.
Nguyên là chùa này từ khoảng thời gian niên hiệu Hồng Đức thời Lê (1470- 1497), dân trong thôn có một người ở tại nơi đây, về sau có một người mở đất xây tường, bỗng thấy một “tượng đá” [thạch tượng], hình như tượng Phật, dân thôn cho đây là Phật giáng hạ, nên toàn dân cùng hợp lực tạo dựng một ngôi chùa lợp ngói [ngõa tự], nhân dân lễ cầu có nhiều linh ứng.
Đến khoảng thời gian niên hiệu Quang Trung, bị lửa đốt cháy sạch, khi dân trong thôn dọn dẹp đất, chỉ thấy còn duy nhất tượng đá, nên lại dựng lại một am trúc nhỏ [tiểu trúc am] để phụng thờ, nhân dân lễ cầu linh ứng như xưa.
Cho đến khi thỉnh mời tổ sư nhà ta, hiệu Giác Viên Trụ trì, tổ sư bắt đầu xây dựng chùa ngói, tạo các tòa thờ Phật, Bồ tát để thờ phụng. [nhưng] đây lúc này còn nhỏ hẹp, việc tạo dựng rất khó.
Vào tháng 11 năm thứ 7 niên hiệu Thiệu Trị (1847), tổ sư nhà ta mua được thêm phần đất của các vị là Luyện, Chí, Kỳ, và Thị Kỳ hợp thành một khu.
Tháng 4, năm thứ hai niên hiệu Tự Đức (1849), có vị tên là Thành đem đất riêng của nhà cúng nhập vào chùa. Lại vào năm thứ tư (1851), người tên là Thản tự nguyện đem đất riêng của nhà cúng lên tổ sư ta, (đất ấy) hợp lại làm cho đất chùa được mở rộng, các mảnh đất trên đều có văn khế.
Tổ sư ta bắt đầu xây dựng các tòa tiền đường, tổ đường, nhà tăng, nhà bếp, đất còn lại làm vườn rau. Về sau, khi tổ sư viên tịch, sơn môn cử tôi làm Trụ trì kế đăng. Tôi duy chỉ có bên trong thì giữ kiệm ước, bên ngoài thì mượn duyên của đại chúng, việc gì chưa ngay chỉnh thì sửa cho ngay chỉnh, việc gì còn khuyết tệ thì hoàn bổ cho vẹn tròn
Vào năm thứ 10 niên hiệu Thành Lai –năm Mậu Tuất (1898) trùng tu một tòa chính tự, thay cũ đổi mới, hết thảy đều dùng gỗ lim các hạng, các tòa tổ đường, nhà tăng hết thảy đều tu sửa khang trang hơn trước.
Đến tháng 11 năm Nhâm Dần – năm thứ 14 niên hiệu Thành Lai (1902). Bởi vì Nhà Chung muốn bỏ tiền để mua một mảnh đất nhỏ ở bên trái phía trước sân, mới đem văn khế lên quý tòa trình xem xét.
Đến ngày 25 tháng 12, đội ơn được phê chuẩn việc hoàn thành. Duy còn tường đầu hồi nhà tiền đường tòa chính tự ở bên trong, vuông đến tường sau tòa Phật điện, chiều dài 22 thước, 3 tấc, 5 phân (tính theo thước Tây). Tường sau tòa Phật điện nối liền với một sân nhỏ, đến tường sau hành lang bên trên có 10 gian rưỡi, chiều ngang 20 thước 4 tấc, 20 phân. Giáp liền là đất công, ngõ nhỏ thông đến chùa chính, dài 26 thước, 6 tấc. Phía đằng trước, chiều ngang 1 thước 5 tấc, cũng là đất công. Còn lại là sân nhỏ liền đến bậc thềm tòa chính chùa, cho đến nhà tiền đường ở ngoài, nối liền là hành lang tường gạch mới. Nhà tổ đường phía sau nối liền hành lang trên, tường sau là 3 gian rưỡi. Hành lang dưới, nhà học, nhà bếp, cùng với đất trống, đất vườn bên ngoài bên trong, trước sau các nơi, nơi tiếp giáp với đất công, đều có đủ văn khế 4 văn bản, địa đồ 1 bản.
Khai sáng gây dựng sự nghiệp được như thế này, thực là gian nan, mà việc bảo vệ thành quả ấy được như thế này cũng chẳng dễ.
Cho nên bày tỏ ngọn ngành, mà khắc tạc vào đá xanh, ấy chẳng phải là hiếu sự mà làm đâu, mà thực vì việc lưu truyền muôn đời thôi vậy.
Ngày lành tháng 8 năm Mậu Ngọ – năm thứ 3 niên hiệu KHải Định (1918) dựng bia ghi chép.
