Phật hậu bi ký
𫢋后碑寄
Thác bản bia xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội 河內巿應天社, sưu tầm tại chùa Miêng Hạ xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội.
Thác bản 2 mặt; khổ 49 x 77 cm; gồm 11 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 400 chữ.
Niên đại: ngày 15 tháng 4 năm Bính Tuất (1946).
Người soạn: Không ghi
Nội dung:
Nguyên văn chữ Hán
佛后碑寄
蓋聞,人能弘道,非道弘人,道者天理人倫也。道之一悟,理之一明,端在寸心之一念耳。
茲者山朗縣,山朗總,嚴舍村善主嚴氏禳,阮氏仁,言念身體髮膚,守孰爲大,可不飲水愛河尋方向道,求爲身後之津梁也與。幸哉,本村委班叶與本寺,因興福事修造廟堂左右美事,天仙聖祖,是時需費頗多,勳勞不少。妣妹等情願自率家財二千銀,數田六高肥,自身寄托忌日六位后,買燈傳世。又即此委班本寺得此來辭,炤依爾許。一者願同[國] 淨土之夫妻,二者願[萬]古[娑] 婆之香火。故經云:“若人以委花供佛皆共成佛道”。
一后賢,前本鄉老賞剛[男] 將軍禁兵衛尉秩正三品,斯文會嚴公真靈,諱穎府君神位,忌正月初一日。
嚴門正室諱氏[戌],忌五月十九日。叔弟諱晶,忌二月二十九日。
嚴門亞七諱氏禳,[] 月日;女弟諱氏[𤐜],忌七月十二日。
嚴門次室阮諱仁,月日;男子嚴諱[赭];女子嚴諱[赭]。
越南民主共和獨立自由幸福。丙戌年,四月十五日立碑文。
Phiên âm
Phật Hậu bi ký
Cái văn, nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân, đạo giả thiên lý nhân luân dã. Đạo chi nhất ngộ, lý chi nhất minh, đoan tại thốn tâm chi nhất niệm nhĩ.
Tư giả Sơn Lãng huyện, Sơn Lãng tổng, Nghiêm Xá thôn thiện chủ Nghiêm Thị Nhương, Nguyễn Thị Nhân, ngôn niệm thân thể phát phu, thủ thục vi đại, khả bất ẩm thủy ái hà tầm phương hướng đạo, cầu vi thân hậu chi tân lương dã dư. Hạnh tai, bản thôn ủy ban hiệp dữ bản tự, nhân hưng phúc sự tu tạo miếu đường tả hữu mỹ sự, thiên tiên thánh tổ, thị thời nhu phí phả đa, huân lao bất thiểu. Tỷ muội đẳng tình nguyện tự suất gia tài nhị thiên ngân, số điền lục cao phì, tự thân ký thác kỵ nhật lục vị Hậu, mãi đăng truyền thế.
Hựu tức thử ủy ban bản tự đắc thử lai từ, chiếu y nhĩ hứa. Nhất giả nguyện đồng [quốc] Tịnh độ chi phu thê nhị giả, nguyện [vạn] cổ [sa] bà chi hương hỏa. Cố kinh vân: “nhược nhân dĩ ủy hoa cúng Phật giai cộng thành Phật đạo”.
Nhất Hậu hiền, tiền bản hương lão Thường Cương [nam] tướng quân cấm binh vệ úy trật chính tam phẩm, Tư văn hội Nghiêm công chân linh, húy Dĩnh phủ quân thần vị, kỵ chính nguyệt sơ nhất nhật.
Nghiêm môn chính thất húy Thị [Tuất], kỵ ngũ nguyệt thập cửu nhật. Thúc đệ húy Tinh, kỵ nhị nguyệt nhị thập cửu nhật.
Nghiêm môn á thất húy Thị Nhương, [] nguyệt nhật; nữ đệ húy Thị [Khói], kỵ thất nguyệt thập nhị nhật.
Nghiêm môn thứ thất Nguyễn húy Nhân, nguyệt nhật; nam tử Nghiêm húy [Đỏ]; nữ tử Nghiêm húy [Đỏ].
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Độc lập Tự do Hạnh phúc. Bính Tuất niên, tứ nguyệt thập ngũ nhật lập bi văn.
Dịch nghĩa
Bia ghi chép về việc gửi giỗ ở sau Phật
Đại khái nghe rằng, con người có thể hoằng dương đạo pháp, chứ không phải là đạo pháp có thể hoằng dương con người, đạo ấy chính là thiên lý/ là chân lý tự nhiên, là thứ bậc luân thường của con người ấy vậy. Một khi đã thấu ngộ đạo, thì chân thực lý sẽ minh tỏ, mà đầu mối ấy chính ở trong một niệm dấy khởi từ tấc tâm mà thôi vậy.
Nay có hai vị thiện tín thí chủ người thôn Nghiêm Xá, tổng Sơn Lãng, huyện Sơn Lãng là Nguyễn Thị Nhân và Nguyễn Thị Nhương, (hai vị ấy) suy nghĩ rằng, thân thể lông tóc, giữ cho được chín muồi trọn vẹn là việc quan trọng, như thế thì lẽ nào chẳng thể uống nước nhớ nguồn mà tìm phương hướng, dò đường lối, để cầu tìm bến đậu cho bản thân sau khi mất được chăng!
May mắn thay, bản thôn hội họp ủy thác với chùa, nhân việc khởi tạo việc phúc, hưng công tu tạo các tòa bên phải, bên trái tòa miếu đường, tòa Thiên tiên thánh tổ[1], nhu phí khá nhiều, công lao vất vả không ít.
Hai chị em tình nguyện tự quyên xuất tài sản riêng của nhà, bạc 2 nghìn, ruộng tốt 6 sào, tự thân gửi giỗ cho 6 vị Hậu, lại mua đèn để sử dụng lâu dài. Lại ngay lập tức hội họp ủy thác vào chùa cả giấy tờ, để đối chiếu dựa vào đó để chấp thuận. Một là, nguyện xin vợ chồng cùng được hưởng cõi Tịnh độ; hai là, xin được mãi mãi hưởng thờ tự ở cõi Sa bà. Cho nên trong kinh có viết: “Nếu như người có thể dùng hoa cúng Phật, thì đều có thể thành tựu được Phật đạo”.
Hậu hiền, thần vị cụ trước đây là bậc hương lão, tước Thường Cương [nam], chức Tướng quân cấm binh vệ úy, trật Chính tam phẩm, Tư văn hội, có họ Nghiêm, húy Dĩnh, giỗ ngày 1 tháng Giêng.
Cụ bà chính thất nhà họ Nghiêm, tên húy Thị [Tuất], giỗ ngày 19 tháng 5. Em chú, tên húy là Tinh, giỗ ngày 29 tháng 2.
Cụ bà á thất nhà họ Nghiêm, tên húy Thị Nhương, giỗ ngày [][]. Em gái, tên húy là Thị [Khói], giỗ ngày 12 tháng 7.
Cụ bà thứ thất nhà họ Nghiêm, tên húy là Nhân, giỗ [][]; Con trai có họ Nghiêm, tên húy [Đỏ[2]]; con gái có họ Nghiêm, tên húy [Đỏ].
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
Dựng bia vào ngày 15 tháng 4, năm Bính Tuất (1946).
Chú thích
[1] Tòa Thiên tiên thánh tổ: Có thể là danh từ để gọi một tòa thờ một vị Thánh tổ riêng của thôn làng.
[2] Tên húy [Đỏ]: Trong nhiều gia phả xưa ghi chép để lại, và qua nghiên cứu, tổng hợp một cách tổng quát, chúng tôi thấy rằng. Tên là “Đỏ”, là trường hợp người con sinh ra bị mất sớm, (còn đỏ) chưa kịp đặt tên, cho nên chỉ gọi chung là Đỏ. Thực tế có những gia phả ghi trong nhà có đến 4, 5 người tên là Đỏ vì lẽ như vậy.
