Phù Đổng từ bi
Thác bản bia xã Phù Đổng thành phố Hà Nội, sưu tầm tại đền Phù Đổng xã Phù Đổng.
Niên đại: Thành Thái thứ 4 (1892).
Người viết: Phụ chính đại thần tử, Thiếu bảo, Vũ hiển điện, Đại học sĩ, Khâm sai Bắc Kì kinh lược sứ, tước Diên Mậu tử Thái xuyên, Hoàng Cao Khải bái đề.
Người khắc: Vệ thuộc chủ sự lãnh ty vụ Mai Trung Kết phụng khắc chữ.
Chủ đề:
Cúng dường, công đức
Phiên âm Hán Việt
Phù Đổng từ bi
Thiên địa hữu chính khí, chung nhi vi giang sơn, giang sơn hữu anh khí, phát nhi vi quỷ thần giả. Dĩ anh khí hiệp chính khí nhi hành dã, sở dĩ linh hồ vũ trụ, nhi phù bão hồ lưỡng gian kì vi đức cái thậm thịnh hĩ.
Vũ Ninh sơn chi hạ, hữu từ yên. Đổng Thiên Vương hiển tích chi địa, hậu nhân dĩ tự chi dã.
Thiên vương sự cựu sử tải chi thậm tường, duy thế đại liêu viễn, nan dĩ phu thực, nhi quán kì nhân thời, hiển linh vi quốc thảo tặc công thành, phất dữ đạo vật giả. Du nhất kiếm nhất mã, hách hồ như tại, vạn cổ chi hạ giai khâm ngưỡng chi. Tư cố giang sơn chi anh khí sở phát, nhi thiên địa chi chính khí sở độc chung yên giả dã.
Quốc gia tự kinh đa cố, nhân tâm phất tĩnh, nhất nhị giả thác lư li tao nhiên. Chúa thượng hữu ưu yên, viên mệnh thần Khải đồng kì sự, Khải phụng mệnh bất hoàng ninh xử.
Dĩ Thành Thái nguyên niên chính nguyệt sơ bát nhật, xuất sư quân ư Thiên vương từ chi tả, trai túc mật đảo, thập tam nhật phù lập chi chiến ngụy, Vinh chi tỷ tướng tựu lục yên, Vinh đồ cùng khất thủ.
Nhị nguyệt thập tam nhật khai thụ hàng, mạc ư Chi Nê, tầm nhân chuyên bái nhi đông, Khải kiền thành dao đảo, lũ hoạch hiển trợ dã.
Thất nguyệt thập lục nhật, tiết diệc tựu phủ, kì gian nhất nhị cừ mục hoặc cầm, hoặc thủ, nan dĩ mai số. Việt bát nguyệt, Vinh tái cung pháo dĩ phản, Khải tại quân phất năng li, thứ nãi ủy đốc thần Đào Trọng Kì, tải đảo từ. Tài nhất nguyệt gian, Vinh hựu thúc thân thụ phọc.
Thời Khải do trú vu Đông Hồ chi tân thứ dã, toại suất thuộc thân lại yết tạ hương chi nhân, cáo Khải viết: “Vinh đầu thủ khẩu biệt liệt kì dĩ tiến”, mỗ kì điển cổ tự triết liệt, quan vu thử, nhi tri kì nghịch cừ chi thụ tru, thần cức chi dã.
Tắc Khải chi càn, thử nhân công thần trợ chi dã. Thuận nghịch chi lý Khải bất ích hiểu nhiên dã. Quỷ thần chi ư nhân, hà thường hữu sở, tăng thụ họa chi phúc chỉ thị hồ, lí chi thuận nghịch nhi dĩ. Kì thành bất khả cầm hữu như thử, phản sắc tử diệc khả dĩ tri sở giới hĩ. Khải kí lũ yêu linh huống ân, dĩ truyền chi, nãi mệnh kì hương nhân tập tu từ vũ, nhân kỉ kì sự vu hậu chi thần hưu dã.
Ta hồ! Thiên địa chi sở dĩ bất vẫn giả, dĩ kì chính khí chi lưu hành, giang sơn dĩ bất dịch giả, dĩ kì anh khí chi cổ động. Cổ kim dị biến, sự thể bất đồng, đương Ân tặc xương loạn, thời triều đình phất năng thảo. Thiên vương nhất huy kiếm dược mã, tức giai đảo qua nghênh hàng, tài nhất triều thực, nhi địch khả tận, hà kì dị dã. Kim tuy tiễu cừ thụ thủ, nhi cương trường vị tĩnh, binh bất đắc hưu an, năng nhất cử sào bình dĩ. Thượng vãn Hùng Lạc số thiên bách niên chi vận hội, thần sở dĩ chiêm ngưỡng linh từ nhi thượng, hữu đảo thần giả dã.
Hoàng triều Thành Thái tứ niên tuế thứ Nhâm thìn đông thập nhị nguyệt cát nhật.
Phụ chính đại thần tử Thiếu bảo Vũ hiển điện Đại học sĩ Khâm sai Bắc kì kinh lược sứ Diên Mậu tử Thái xuyên Hoàng Cao Khải bái đề.
Vệ thuộc chủ sự lãnh ty vụ Mai Trung Kết phụng đằng tả.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia đền Phù Đổng
Đất trời có chính khí, khí ấy hun đúc mà tạo nên sông núi; sông núi có anh khí, khí ấy phát mà sinh ra quỷ thần. Lấy anh khí hợp với chính khí để tạo ra ngũ hành, lấy linh thiêng rõ rệt cùng với vũ trụ mà phù giúp lưỡng gian, ấy là đức lớn vậy.
Dưới chân núi Vũ Ninh có ngôi đền, đó là nơi Đổng Thiên Vương hiển tích, người đời sau lấy đó làm chốn phụng thờ.
Sự tích của đức Thiên Vương đã được ghi lại rõ ràng trong sử sách, cho dù các đời có xa cách, khó bề khảo xét, nhưng việc hiển linh giết giặc cứu nước, lập nên công lớn, thì chẳng nơi nào không tạc tượng. Một mình một ngựa một kiếm, mà hiển hách như vẫn còn, muôn thuở về sau đều kính cẩn ngưỡng vọng.
Vì vậy anh khí của sông núi đã phát, chính khí của đất trời lại chung đúc nên ngài vậy. Nước nhà đã trải qua nhiều biến cố, lòng người không yên, nên lòng người đều gửi gắm chốn làng quê. Chúa thượng cũng có chút buồn lòng, nên mệnh cho thần là Khải đốc suất mọi việc, Khải phụng mệnh không dám chậm trễ.
Vào ngày mùng 8 tháng Giêng năm Thành Thái thứ 1 (1889), liền cho dóng quân phía bên trái đền, rồi trai giới đêm ngày ngầm cầu khẩn.
Đến ngày 13 thì bày trận giả, viên tỳ tướng là Vinh chịu nhục, Vinh cùng đường xin hàng.
Ngày 13 tháng 2 chính thức xin hàng, đầu tiên là ở Chi Nê, sau tìm người chuyển về phía Đông, Khải kính cẩn ngầm cầu khấn, nhiều lần thần linh phù giúp.
Ngày 16 tháng 7 cũng là tiết phủ dụ, khi ấy có một vài tên đầu sỏ, tên bị bắt sống, tên bị chém đầu, không sao kể xiết.
Đến tháng 8 thì Vinh dùng pháo tấn công, Khải khi ấy ở trong quân không thể đi được. Sau đó ủy quyền cho đốc thần Đào Trọng Cơ ngầm đến cầu đảo ở đền, mới được một tháng thì Vinh đã bó tay đến chịu trói.
Bấy giờ Khải đóng quân ở bến Đông Hồ, liền sai người thân thuộc tới bái tạ. Người trong làng nói với Khải rằng: “Ngày Vinh ra hàng phục, đã làm riêng một lá cờ để dâng lên, lá cờ ấy vô cớ lại bị rách nát, xem hiện tượng đó biết được rằng bọn đầu sỏ phản nghịch, ắt bị chu diệt, đó là do thần linh trừng trị chúng”. Vậy việc làm của Khải là được thần linh trợ giúp vậy.
Đạo lý thuận nghịch há chẳng phải là giúp cho việc hiểu biết thêm hay sao? Quỷ thần đối với con người, đâu chỉ có việc chán ghét, mà khi gây tai, hay ban phúc đều dựa theo lý đúng sai mà thôi.
Nếu thành tâm thì không thể bị bắt, có như thế thì dù làm điều phản trắc thì con mình cũng phải mưu trí để cảnh giới vậy. Khải đã nhiều lần cầu thần linh ban ơn, để lưu truyền lại mãi, liền mệnh cho người trong làng tu sửa đền miếu. Nhân đó ghi lại sự việc, để đời sau ghi lại công lao tốt đẹp của thần.
Than ôi! Đất trời chưa bắt phải chết, là vì có chính khí mà được sống tiếp, sông núi sở dĩ không chuyển dời, là do có nguồn anh khí cổ vũ, xưa nay đều khác, thế sự chẳng đồng. Đương khi giặc Ân ngông cuồng, khi ấy triều đình không có người đánh dẹp. Thiên vương một lần giơ kiếm, nhảy lên mình ngựa, quân giặc đã quay giáo quy hàng, mới chỉ có một buổi chiều ăn uống no say, mà có thể dẹp yên giặc giã, đó là điều không dễ.
Nay tuy rằng bắt được bọn đầu sỏ chém đầu, nhưng chiến trường vẫn chưa yên ổn, việc dùng binh vẫn chưa thôi, làm sao có thể chỉ một lần đánh dẹp mà có thể cứu vãn được vận số của các đời Hùng Lạc được vài trăm năm, thần có thể được thấy là vì đền thiêng vẫn còn, để thần có thể đến cầu đảo được vậy.
Ngày tốt tháng mùa đông, 12 tháng năm Nhâm Thìn niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892).
Phụ chính đại thần tử, Thiếu bảo, Vũ hiển điện, Đại học sĩ, Khâm sai Bắc Kì kinh lược sứ, tước Diên Mậu tử Thái xuyên, Hoàng Cao Khải bái đề.
Vệ thuộc chủ sự lãnh ty vụ Mai Trung Kết phụng khắc chữ.
Nguồn: Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội (2013), Tổng hợp tư liệu Hán Nôm tại khu di tích lịch sử xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, tr. 50 -54.