Bia khắc năm Bảo Thái thứ 8 (1727), bia hiện đặt tại chùa Long Động (Quảng Ninh)
Phiên âm
Sắc kiến Tịch Quang tháp
Tịch Quang tháp Tuệ Đăng Chánh Giác Hòa Thượng Chân Nguyên Thiền sư tục tính Nguyễn húy Nghiêm tự Đình Lân, Thanh Hà Tiền Liệt nhân dã. Thiện nha phát hiện, nhân địa tài bồi, mẫu Phạm thị mộng kiến nhất lão nhân thụ nhất liên hoa tiện giác hữu thần nhi sinh sư ư Phúc Thái ngũ niên tuế tại Đinh Hợi cửu nguyệt thập lục nhật Quý Sửu Ất Mão thời dã. Sư my tình thanh tú, cốt tướng bất phàm. Tỷ bát tuế nhi trưởng thỉnh Giám sinh cữu gia khải mông huấn dụ, toàn vô phủ tạc, tự hữu ba lan, bút lực tung hoành, từ phong dĩnh nhuệ. [Mỗi ước bạn liên ngọc duẫn] bính tứ hồng lăng, khởi kỳ như sư thập cửu tuế, ngẫu thính nhân độc Trúc Lâm Đệ tam tổ thực lục, vị nhiên thán viết: “[khôi nguyên] thiên hạ thượng khí công danh, do tệ lý đẳng hiên miện vu phan lung, huống ngã nhất giới thư sinh, hà túc tai!” Nãi phát tâm trực thướng Yên Tử sơn Hoa Yên tự yết kiến Tuệ Nguyệt Chân Trú Thiền sư. Thiền sư vấn viết:
Tòng hà phương lai?
Sư đáp viết:
Bản vô khứ lai.
Thiền sư văn ngôn tri thị pháp khí, nãi vi chi thế phát, thụ ký biệt, mệnh danh Tuệ Thông. Cập Thiền sư viên tịch, sư hiếu kham đốc hậu, hương hỏa tam niên, trú vu Long Động tự. Hậu dục đăng đàn tiến giới, cai cứu Thiền tông, cánh thượng Côn Cương sơn Vĩnh Phúc thiện tự khể thủ Mãn Giác Hòa thượng Minh Lương Thiền sư. Kiến nhi vấn viết:
Nhữ dục học hà đạo da?
Sư nghiễm tọa vô đối. Thiền sư viết:
Như như bất động, thị Phật chân tông.
Nãi dịch danh Chân Nguyên, thụ dĩ Tỳ khiêu cụ túc giới. Phục thứ niên trùng tuyên Diệu pháp liên hoa kinh, thiêu nhị chỉ cúng Tam tôn [tổng] thụ Bồ Tát đại giới, phát thập nguyện kỳ thành Chánh giác. Thửhậu cần quan hoàng quyển, khác thủ thanh quy. Lý giải tam không, sự [trương] chư hữu.
Giáp Tý tuế kiến Cửu phẩm liên hoa đài vu Quỳnh Lâm tự. Đinh Mão tuế hựu kiến vu Hoa Yên tự. Ngật Chính Hòa thập tam niên, tuế tại Nhâm Thân, sư phương tứ thập hữu lục tuế, thượng triệu nhập nội điện, thí vấn Thiền chỉ. Tri sư trác dị, sắc vi Tuệ Đăng Hòa thượng, long bút ngự thư Vô thượng” nhị đại tự bao mỹ chi, tứ dĩ pháp phục, pháp khí, ban thưởng tiền tài. Hướng [hậu, kiến] phẩm, tu tự, tạo tượng, chú chung, thục mệnh, phóng sinh, công nan tận thuật. Kỳ tam thừa pháp tạng, mỗi mỗi tẩm tử, lưu vu Quỳnh Lâm tự, bản khả sung đống hãn ngưu, tứ chung chiêm y, bất thí Thái Sơn, Bắc Đẩu.
Nhâm Dần tuế, sư niên thất thập hữu lục, Quốc vương triệu sư, mệnh kiến Tiến phúc đại trai, sư thướng khải thỉnh nguyên hệ bế trai. Sự tất, phục sắc vi Tăng thống Chánh Giác Hòa thượng.
Thích Bảo Thái thất niên, sư bát thập tuế, tuế tại Bính Ngọ thập
nguyệt nhị thập bát nhật Bính Tuất Đinh Dậu thời nhi sư đoan tọa vu tịch. Thị nguyệt tam thập nhật Mậu Tý Ất Mão thời xà duy. Hậu hải chúng cưu công, khởi tháp nhị sở, nhất vu Long Động tự vi thể, nhất vu Quỳnh Lâm tự vi dụng, khắc chí vu thạch, dĩ thọ kỳ truyền vân.
Thời
Bảo Thái bát niên Cường Ngữ Hiệp Hiệp trung xuân lệnh đán Pháp tử Sa di Như Như huân mộc bái thuật.
Dịch nghĩa
Vâng sắc dựng tháp Tịch Quang
Tháp Tịch Quang thờ Tuệ Đăng Chánh Giác Hòa thượng tức Hòa thượng Chân Nguyên. Người họ Nguyễn tên húy là Nghiêm, tên chữ là Đình Lân, người xã Tiền Liệt huyện Thanh Hà¹. Mầm thiện phát ra, đất duyên vun đắp, mẹ Sư họ Phạm nằm mộng thấy một cụ già cho một đóa hoa sen. Sực tỉnh dậy, thấy mình có mang, rồi sinh ra Sư vào giờ Ất Mão ngày Quý Sửu tức 16 tháng 9 năm Đinh Hợi niên hiệu Phúc Thái thứ 5 (1647). Sư mặt mày thanh tú, dáng dấp khác thường. Khi lên 8 tuổi, Sư được người cậu là Giám sinh dạy vỡ lòng. Sư chẳng cần nhọc công, mà tự có năng khiếu văn chương, khí lực tung hoành, lời tuôn ngọn bút. Đều mong sao cho Sư, khoa cao đỗ đạt, được bánh vua ban².
Há đâu mong đợi Sư [đi tu] khi mới 19 tuổi đâu3! Khi đó Sư ngẫu nhiên nghe người ta đọc sách Trúc Lâm Đệ tam tổ thực lục, bùi ngùi than rằng: “Bậc khôi nguyên [xuất chúng] trong thiên hạ còn chán bỏ công danh xem như dép rách, coi áo mũ sang quý nào khác lồng chim, huống hồ ta chỉ là một gã học trò nhỏ nhoi, thì nhằm nhò gì!” Bèn phát tâm lên chùa Hoa Yên núi Yên Tử yết kiến Thiền sư Tuệ Nguyệt Chân Trú. Thiền sư hỏi:
Đến từ đâu thế?
Sư đáp rằng:
Vốn không có đi đến.
Thiền sư nghe câu trả lời biết là pháp khí, bèn cho cạo tóc, trao bài ký4 và đặt tên là Tuệ Thông. Đến khi Thiền sư [Chân Trú] viên tịch, Sư thờ thầy rất mực có hiếu, hương hỏa 3 năm, về ở chùa Long Động. Về sau sư muốn đăng đàn tiến giới, tham vấn Thiền tông, cuối cùng lên chùa Vĩnh Phúc núi Côn Cương đỉnh lễ Mãn Giác Hòa thượng Minh Lương Thiền sư. Thiền sư trông thấy mới hỏi rằng:
Ngươi muốn học đạo gì?
Sư ngồi yên không đáp.
Thiền sư bảo:
Như như chẳng động, chính là chân tông của Phật.
Bèn đổi tên là Chân Nguyên, trao cho giới cụ túc Tỳ khiêu. Năm sau, Sư cho khắc lại Diệu pháp liên hoa kinh, đốt hai ngón tay cúng dường Tam tôn5 tâm nguyện cầu thụ Bồ Tát đại giới, phát 10 thệ nguyện mong
thành bậc Chính giác. Từ đó về sau, sư cần mẫn đọc hoàng quyển6, kính cẩn giữ thanh quy. Lý giải tam không7, mở khai chư hữu8.
Năm Giáp Tý (1684) dựng đài Cửu phẩm liên hoa ở chùa Quỳnh Lâm. Năm Đinh Mão (1687), Sư lại dựng [thêm tòa nữa] ở chùa Hoa Yên. Cho đến năm Nhâm Thân niên hiệu Chính Hòa thứ 13 (1692) bấy giờ Sư mới 46 tuổi, Hoàng thượng cho vời Sư vào nội điện hỏi về yếu chỉ Thiền tông, biết Sư là người giỏi khác thường, ban sắc cho Sư là Tuệ Đăng Hòa thượng, lại ngự bút viết hai chữ lớn: “Vô thượng” để ban khen, ban pháp phục, pháp khí cho Sư cùng thưởng tiền tài. Về sau, Sư dựng tòa Cửu phẩm, tu sửa chùa chiền, làm tượng, đúc chuông, chuộc mệnh, phóng sinh, công lao khó mà kể hết. Tam thừa pháp tạng Sư đều cho khắc in cả, lưu ở chùa Quỳnh Lâm, các ván nhiều không kể xiết9, tứ chúng10 hướng về nương tựa, xem khác nào Thái Sơn, Bắc Đẩu.
Năm Nhâm Dần (1722), Sư 76 tuổi, nhà Chúa triệu vời Sư đến sai lập đàn chay dâng phúc11, Sư dâng khải xin bế trai12. Sau khi việc hoàn thành, lại được ban sắc là Tăng thống Chính Giác Hòa thượng. Đến giờ Bính Tuất ngày Đinh Dậu tức 28 tháng 10 năm Bính Ngọ (1726) niên hiệu Bảo Thái thứ 7, Sư ngồi ngay ngắn mà thị tịch. Đến giờ Ất Mão ngày Mậu Tý tức ngày 30 tháng ấy làm lễ hỏa táng. Sau đó môn đồ khởi công xây tháp ở hai nơi, một tòa ở chùa Long Động là tháp Thể, một tòa ở chùa Quỳnh Lâm là tháp Dụng, lại khắc bài chí vào đá, để truyền dài lâu mãi mãi.
Bấy giờ là ngày lành tháng giữa xuân (tháng 2) năm Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái thứ 8 (1727).
Pháp tử Sa di Như Như13 tắm gội xông hương cúi lạy thuật lại.
Chú thích
-
Nguyên văn”ban liên ngọc duẫn, bính tứ hồng lăng”, lấy điển trong sách Ấu học quỳnh lâm có ghi ban danh ngọc duẫn, bính thị hồng lăng”.”Ngọc duẫn ban”玉笋班, ý nói anh tài đông đúc đầy triều. Truyện Lý Tông Mẫn, quyển 174, sách Tân Đường thư có câu”nga phục vi Trung thư xá nhân, điển cống cử, sở thủ đa tri danh sĩ, nhược Đường Xung, Tiết Tường, Viên Đô đẳng, thế vị chi ngọc duẫn”俄復為中書舍人,典貢舉,所取多知名士,若唐沖、薛庠、袁都等, 世謂之「玉筍」,(nghĩa là: Khi Lý Tông Mẫn làm Trung thứ xá nhân, coi việc cống cử, chọn lấy phần nhiều là các danh sĩ như Đường Xung, Tiết Tường, Viên Đô, người đời gọi là bút ngọc”).”Hồng lăng bính”紅綾餅 (bánh bọc lụa đỏ): thời Đường Hy Tông ban cho các Tiến sĩ ăn bánh, dùng lụa đỏ để bọc bánh, gọi là bánh lụa đỏ. Ở đây dùng điển ý nói đỗ đạt đại khoa, được tiến triều trọng vọng, chúng tôi xin dịch thoát ý.
-
Câu này có dùng điển vì Đức Phật Tổ cũng xuất gia khi 19 tuổi. Ở đây mạch văn ý nói: với tài năng thiên bẩm của Sư như thế, ai cũng mong Sư đi thi thành tài, làm quan, chứ không mong gì việc Sư xuất gia cả.
-
Biệt ký: thuật ngữ nhà Phật gọi thơ là kệ, gọi văn là biệt ký.
-
Tam Không(三空): Ba Không. Các nhà Duy Thức nương vào 3 tính Biến (遍), Y(依), Viên (圓) để lập ra nghĩa của Ba Không.
-
Chư hữu: (諸有) Chỉ muôn tượng sai biệt trong thế giới mê vọng. Chúng sinh tạo nghiệp, do nhân sinh quả, nhân duyên quả báo có thực không hư – có thể chia làm nhiều loại, như ba hữu, bốn hữu, bảy hữu, chín hữu, hai mươi lăm hữu v.v……, gọi chung là Chư hữu. Ngoài ra, Chư hữu là biển sống chết mà chúng sinh phàm phu nổi chìm trong đó, cho nên gọi là Chư hữu hải. (Xem kinh Pháp hoa phẩm tựa – kinh Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da – Đại thừa nghĩa chương Q.8 – Giáo hành tín chứng Tín quyển).
-
Nguyên văn: Sung đống hãn ngưu 充棟汗牛: chất đầy tận nóc, toát mồ hôi trâu. Tức là ván khắc của chùa nhiều đến mức chất đầy lên tận nóc, đưa đi khiến cho trâu bò chở phải vã mồ hôi. Ở đây ý nói: lượng ván gỗ do Sư cho tổ chức khắc in rất nhiều không sao kể xiết.
-
Tứ chúng: là bốn hàng đệ tử Phật gồm: 1. Phát khỏi chúng: Trong hội Pháp Hoa. Ngài Xá Lợi Phất ba lần thỉnh Phật thuyết minh giáo lý Pháp Hoa để làm duyên khởi cho Phật nói Kinh Pháp Hoa. Hội Bát Nhã Ngài Tu Bồ Đề thưa hỏi Phật phương pháp hàng phục tâm… Những vị gọi chuyện thưa thỉnh như thể gọi là Phát khởi chúng. 2. Đương cơ chúng: Trong một pháp hội Phật thuyết pháp, có những Thanh Văn, Bồ Tát căn cơ trình độ thích hợp với giáo lý thời pháp đó sau khi nghe rồi được ngộ đạo chứng quả nên gọi những vị đó là Đương cơ chúng. 3. Ảnh hưởng chúng: Ngài Văn Thù, Ngài Phổ Hiền, Ngài Quan Âm, v.v… Những vị Bồ Tát này tuy không ở thường xuyên bên Phật nhưng khi Đức Phật thuyết pháp thì các Ngài từ phương khác đến để trang nghiêm pháp hội, trợ hóa cho Đức Phật. Những vị Bồ Tát như thể gọi là Ảnh hưởng chúng. 4. Kết duyên chúng: những chúng sinh phước mỏng nghiệp dày nghe pháp mà không thâm nhập được, không ngộ đạo được, không chứng quả được… chỉ gieo hạt giống Phật cho đời sau, những vị như thể gọi là kết duyên chúng. Lại có Tứ chúng xuất gia (Tứ Thánh): 1. Tỳ khiêu, 2. Tỳ khiêu Ni, 3. Sa Di Ni. Lại còn có Tứ chúng xuất gia lẫn tại gia: 1. Tỳ khiêu, 2. Tỳ khiêu Ni, 3. Ưu Bà Tắc, 4. Ưu Bà Di.
-
Bia Tông sư bị ký 宗師碑記 (kí hiệu 3731/3732/3746/3747) dựng năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) tại chùa Nguyệt Đường, Xích Đằng, Hưng Yên, cho biết mùa đông năm Nhâm Dần (1722) Thánh Chúa Hy Tổ Nhân Vương (Trịnh Cương) mở mang đạo Phật, tổ chức kỳ thi thiền tông tại chùa Báo Thiên ở kinh đô.
-
Nguyên văn: Vị sư phụ yêu cầu nguồn tài liệu phải được giữ kín.
-
Như Như: tức Như Trừng Lân Giác Thượng sĩ, tục danh là Trịnh Thập, con của Tấn Quang Vương Trịnh Bính, lấy công chúa nhà Lê, sau đi tu hành. Sư thuộc tông Lâm Tế truyền sang Đàng ngoài, pháp hệ thứ 37. Sư kế thừa Hòa thượng Chân Nguyên, đồng thời là Tổ đời thứ nhất của dòng thiền Liên Tông (Liên Phái sau này).