Tạo lập thiên đài nhất trụ

Tạo lập thiên đài nhất trụ

Thông tin cơ bản

Tạo lập thiên đài nhất trụ
造立天臺一柱

Thác bản bia xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội, sưu tầm tại phía sau tòa thượng điện chùa Pháp Vân (chùa Nành) thôn 1 Ninh Hiệp, xã Phù Đồng, thành phố Hà Nội.
Thác bản 4 mặt, khổ 150 x 20 cm, gồm 20 dòng chữ Hán, khoảng 900 chữ, chữ khắc chân phương, gồm 17 dòng, hoa văn chạm rồng, hoa lá, có chữ húy thời Lê: Cửu 
Niên đại: Chính Hòa thứ 19 (1698).
Người soạn: Tri huyện Kim Thành họ Thạch soạn văn bia.
Người viết chữ: Sư Huệ Tĩnh, trụ trì chùa viết chữ.
Người khắc: Thợ đá xã An Hoạch huyện Đông Sơn phụ Thiệu Thiên khắc bia.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Hành trạng, công tích nhân vật.
– Xây dựng, trùng tu di tích.

Nguyên văn chữ Hán:

造立天臺一柱

慈山府東岸縣扶寧社信妮阮氏玉歡號妙福及仕妮善男信女等爲有造立天臺興功完好所撰香文鐫之于左

嘗謂柱香者福天種就心地栽培青奇本自天然雕琢豈由人方。。。計

南無阿彌陀佛南無釋迦牟尼佛南無長壽王菩薩

天臺柱詩

日日暮宸三念香,
謝天謝地謝三光。
門家處處田禾熟,
但願人人壽命長。
國得忠臣安社稷,
家生孝子累爺娘。
算來種德德陰報,
慶衍雲仍赫貞方。

正和拾玖年歲次戊寅玖月穀日金城縣知縣石拙撰柱持本寺僧惠淨寫 紹天府東山縣安獲社石局刊。

Phiên âm Hán Việt

Tạo lập thiên đài nhất trụ

Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Phù Ninh xã tín vãi Nguyễn Thị Ngọc Hoan hiệu Diệu Phúc cấp sãi vãi thiện nam tín nữ đẳng vị hữu tạo lập thiên đài, hưng công hoàn hảo, sở soạn hương văn thuyên chi vu tả.

Thường vị: trụ hương giả phúc thiên chung, trụ tâm địa tài bồi thanh kì, bản tự thiên nhiên điều trắc. Khải do nhân phưong… (văn bản bị mờ, nên lược bỏ).

Kệ:

Nam mô A di đà Phật, Nam mô Thích ca mâu ni Phật, Nam mô Trường thọ vương bồ tát.

Thiên đài trụ thi:

Nhật nhật mộ thần, tam niệm hương
Tạ thiên tạ địa, tạ tam quang
Môn gia xứ xứ, điền hoà thục
Dân nguyện nhân nhân, thọ mệnh trường
Quốc đắc trung thần, an xã tắc
Gia sinh hiếu tử, lũy đa nương
Toán lai chúng đức, đức âm báo
Khánh diễn vân nhưng, hách chấn phương.

Chính Hoà thập cửu niên tuế thứ Mậu Dần cửu nguyệt cốc nhật. Kim Thành huyện Tri huyện Thạch chuyết soạn. Trụ trì bản tự tăng Huệ Tĩnh tả. Thiệu Thiên phủ Đông Sơn huyện An Hoạch xã thạch cục san.

Dịch nghĩa

Dựng cây hương

Tín vãi Nguyễn Thị Ngọc Hoan hiệu Diệu Phúc cùng các sãi vãi, thiện nam, tín nữ xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn tạo dựng một cây hương. Công việc hoàn hảo, xin soạn một bài văn bia khắc lên sau đây.

Thường nghe: cây hương là do phúc trời trồng nên, hết lòng vun đắp. Người người thành kính cúng dàng, hương trầm thoang thoảng tỏa nơi nơi. Dẫu nói việc thánh hiền phải lấy đó làm đầu, chốn dân gian tế lễ coi làm trước hết. Tam giới với vợi nghi ngút khói hương lúc sớm hôm, chín tầng lồng lộng tấc lòng thành kính cầu xin. Cầu thì được, cảm thì thông, ý nghĩa vô cùng. Cột hương, nay ai dám khinh mạn, nào giảm coi thường; thực là vật báu của nước nhà. Nay Hoàng triều mở vận, Thánh chúa chăn dân. Phía tây dựng lầu Kính Thiên, tứ dân đua làm theo Hoàng đế; phía tây xây điện Tế giao, cả nước vui theo lòng Chúa. Có vua ấy, có chúa ấy, cùng một lòng, một đức. Đạo đức, nhân nghĩa, phong tục trở về thuần hậu, lễ đời trở nên tốt đẹp. Chùa Pháp Vân ở xã Ninh Hiệp ta là danh lam từ cổ xưa, các đời sau đó do càng sùng Phật pháp, nên chùa cùng các đồ thờ được gìn giữ đến nay. Duy cột hương thì chưa có. Nay có tín vãi Nguyễn Thị Ngọc Hoan hiệu Diệu Phúc mở lòng bố đề, ngày ngày cầu mong âm đức, nên đã không tiếc tiền của, mua được tảng đá lớn, dựng một cột hương, ngõ hầu sớm hôm thờ phụng, mong cho dồi dào phúc tốt.

Nam mô A di đà Phật, Nam mô Thích ca mâu ni Phật, Nam mô Trường thọ vương bồ tát.

Bài thơ về cột hương:

Ngày ngày ba lần, niệm cây hương
Ơn trời ơn đất, tỏa hào quang
Mọi nhà nẻo nẻo, đầy lúa gạo
Cầu nguyện cho người, thọ tuổi già
Nước có trung thần, yên xã tắc
Nhà sinh con hiếu, mẹ cha sang
Người ban công đức, được đền đáp
Phúc lộc xóm làng, mãi thơm danh.

Ngày lành tháng 9 năm Mậu Dần niên hiệu Chính Hoà 19 (1698). Vị họ Thạch, chức Tri huyện huyện Kim Thành soạn văn bia. Trụ trì chùa, tăng Huệ Tĩnh viết chữ. Thợ đá xã An Hoạch huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên khắc bia.

Kê:

– Hội chủ tín vãi Nguyễn Thị Ngọc Hoan, hiệu Diệu Phúc.

– Công đức Nguyễn Đức Cơ và vợ là Nguyễn Thị Giai, Nguyễn Đức Thuận tự Chân Hoà và vợ là Nguyễn Thị Mạo, Nguyễn Đức Hoàng và vợ là Nguyễn Thị (?), Nguyễn Đức Minh tự Phúc Nguyên và vợ là Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Đình Khôi và vợ là Nguyễn Thị Lộc, Nguyễn Đức Khôi …

– Công đức quan viên Tri phủ sãi Trần Đắc Cẩm tự Phúc Tín và vợ là Ngô Thị Cẩn hiệu Từ Hiền. Chiêu quý quan Nguyễn Quốc Cương và vợ là Nguyễn Thị Hân hiệu Diệu Khang, Lê Thọ Trường và vợ là Nguyễn Thị Lãng. Tự nội giám Trần Công Bản và vợ là Nguyễn Thị Du hiệu Từ Liêm. Tín vãi Nguyễn Thị Nãi hiệu Từ Minh. Quan viên Nguyễn Đức Toán và vợ là Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Đình Nhâm và vợ là Nguyễn Thị Phiên, Nguyễn Thị Bạch, Nguyễn Đức Thiêm tự Phúc Hy và vợ là Phạm Thị Dương, Nguyễn Phúc Đường tự Phúc Khang và vợ là Ngô Thị Cận, Nguyễn Công Nhậm và vợ là Nguyễn Thị Thiện, tín vãi Nguyễn Thị Thuốc hiệu Từ Quảng. Kiêm tín vãi Nguyễn Thị Thu hiệu Diệu Trinh, Nguyễn Thị Trinh hiệu Từ Bi, Thạch Thị Ngoạn hiệu Từ Khang, Nguyễn Thị Tất, Nguyễn Thị Trịch hiệu Từ Lương, Đào Thị Lùy hiệu Từ Như, Nguyễn Thụ Sinh tự Phúc Tráng và vợ là Thạch Thị Luân, Phạm Thị Quận hiệu Diệu Thịnh, Nguyễn Thị Sử hiệu Diệu Thanh, Nguyễn Thị Suối hiệu Từ Lưu, Nguyễn Thị Nghiêm hiệu Từ Đoan, Nguyễn Thị Ngọ hiệu Diệu Thông, Nguyễn Thị Dụ hiệu Từ Độ.

Thiện nam của chùa là Phụng thị Thị nội văn chức Thạch Công Lượng và vợ là Nguyễn Thị Xoan, Nguyễn Đức Dụ và vợ là Nguyễn Thị Thiêm, Quan viên Nho sinh trúng thí Nguyễn Công Lợi và vợ là Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Tam Đạo và vợ là Dương Thị Huyền. Xã trưởng Nguyễn Bá Toàn và vợ là Nguyễn Thị Lược. Quan viên tử Thạch Công Lược và vợ là Nguyễn Thị Thành…

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 53–58.

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)