Thái phụ Nguyễn thị trị sản chí phú tự sự bi ký
蔡婦阮氏治產致富敘事碑記
Kí hiệu: 13376/13377/13378/13379
Thác bản bia xã Bình Lãng huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng 下洪府四岐縣平朗社, sưu tầm ở Từ chỉ thôn Đông xã Bình Lãng tổng Phan Xá huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.
Thác bản 4 mặt, khổ 53 x 105cm, gồm 62 dòng chữ Hán xen Nôm, toàn văn ước khoảng 2000 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Vĩnh Thịnh thứ 16 (1720).
Người soạn: họ Nguyễn Quý Đức; học vị: Thám hoa khoa Bính Thìn; chức vị: Tham tụng Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, Liêm Quận công.
Người viết: họ Nguyễn 阮; quê quán: người huyện Gia Lâm; chức vị: Thị nội Thư tả, Huyện thừa huyện Tứ Kỳ.
Người khắc: Lê Đăng Dụng 黎登用 và Xuân Minh 春明; quê quán: xã Kính Chủ và xã An Hoạch; chức vị: Ngọc thạch cục.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Hành trạng, công tích nhân vật.
Bản dịch:
Phu nhân họ Nguyễn tên là Thuyết 1. Người làng Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng, lấy chồng họ Thái 2. Bà là người thông tuệ bẩm sinh, diện mạo thanh tú, đặc biệt mẫn tiệp, tiết hạnh, kiệm cần mà không cư xử như những gia đình nghèo hèn thường thấy. Người con gái bất hạnh, lâm vào hoàn cảnh cha mất từ nhỏ, sống với người mẹ họ Nguyễn tên là Xướng, sống cô quả khổ hạnh.
Trong cảnh tăm tối bức bách, hai mẹ con nương tựa vào nhau, nhờ vào số mệnh. Chỉ có vài sào ruộng bạc màu, với ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo, chỉ đủ cháo loãng sống qua những ngày mưa gió. Tuy phải sống trong cảnh vô cùng khốn đốn, người con gái ấy vẫn thể hiện sự hiếu đễ qua việc nuôi dưỡng mẹ già, rau đậu qua ngày, sáng dưa chiều canh. Trong hoàn cảnh ấy mà tấm lòng thật vui vẻ, người người đều gọi là cô con gái tài năng hiếu đễ.
Khi tuổi đời đã ngoài 20, người con gái nào cũng muốn có gia thất. Nhưng duyên phận như cánh bèo trôi, thật may gặp Thái Đắc Lộc, người xã An Ấp, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang (thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh xưa) làm lễ hợp cẩn, chít khăn trùm mặt mà về nhà chồng. Họ quấn quít bên nhau như Mông Sở, sức hút của tình yêu tựa như từ châm, như nàng Mạnh Thị với Lương Bá Loan vậy. Đạo quân tử đã tạo nên mối tình đẹp đẽ biết bao.
Bởi thế, vợ chồng đồng tâm, hiệp lực cùng một ý chí, không quan tâm đến những điều nhảm nhí, ý chí hướng về chăn nuôi cày cấy. Sự giầu có dần dần như nhìn thấy đi lên, như điềm trời báo trước, đâu phải chuyện chiêm bao. Âm dương hòa hợp nhờ ân trạch, vợ chồng hòa hợp nhờ gia đạo, tạo nên giấc mộng huyền diệu, mà hiện thân là sự ra đời của những đứa con trai. Khi người ta có con tựa như vạn sự đã đầy đủ.
…Nhưng rồi cảnh biệt ly đã đến, mây gió cũng như mang nỗi sầu. Người phụ nữ có nhan sắc mà vẫn một lòng chung thủy, không sống buông thả mà giữ tấm lòng sắt son tiết nghĩa, như con thuyền đóng bằng gỗ bách vậy. Chịu đựng mọi gian khổ. Như phúc thiện mà nuôi hai con nhỏ trưởng thành, thật như con chim có nghị lực nuôi con, như giấc mộng Hàm Đan trên gối đệm. Thương người chồng quá cố mà xông pha mưa gió, đêm đêm gà chưa gáy sáng đã phải dạy đảm đang công việc , biết mấy truân chuyên cô thúc. Trải qua bao cay đắng hậu vận thật đáng trân trọng. Gian nan để gánh vác công việc gia đình, tâm niệm cai quản tài sản mà bà trở thành giầu có.
Lấy bản phúc làm trên hết mà cần mẫn làm việc, không phung phí thời gian để làm ra của cải một cách chính đáng, từ đấy luôn dụng tâm tính toán, sáng suốt, tích trữ hàng hóa chọn người ủy thác quản trị. Năm Quý Mùi (1703) giá thóc như ngọc quý lấy của tích lũy được mua ruộng ở các nơi, lại vay mượn một phần chu cấp cho những người nghèo khổ gọi là cảm ân báo lý không mong đợi ai phải đền đáp. Do vậy mà sản nghiệp ngày càng lớn, ruộng đất kể có đến ngàn mẫu, tiền xâu dễ có đến ngàn xâu đến như lương thực trâu dê nhung nhúc các loại không thể tính đếm được. Sự giầu sang ví như đồ gốm của Chu Công, Bạch Khuê của nhà Ngụy Điểu Khỏa của nhà Tần, trong sáng như người vợ của nhà Thục, ví như Bá trọng cũng chưa hẳn đã hơn, vì thế mà gọi là gia đình Tố Phong3 Giầu có như vậy bởi có nghề nghiệp phát triển rực rỡ. Vào năm Bính Thìn (1716) ruộng của bản gia đã có tới 2000 mẫu
Cung kính mà ghi rằng:
Phụng chỉ dụ về việc cung tiến đầy đủ như xưa, kê khai tên họ con nuôi con đỡ đầu vào trướng bạ nội phụng, hạ phong, tử phóng lời hứa cho được ghi vào bia lưu truyền làm gia nghiệp vĩnh viễn. theo đó mà thực hiện, nghe biết sự khác biệt của tên gọi Châu Quận đến Hương Ấp cũng như hàng xóm. Thật như cưỡi trâu dạo qua, nghe gió thổi trên cánh đồng lúa non, đó chính là hiện thân của cảnh thái bình, là thành tựu của lão Xướng cố tri vậy.
Bãi sâu thì có cá sinh ở đấy, núi cao thì thú lại qua, người giàu thì có điều kiện làm việc nhân nghĩa. Nhớ lại bản huyện xưa tại một đoạn sông Vạn, thuộc xã La Tỉnh có cầu bắc qua sông, thời gian đã làm đổ nát, hành nhân quá khách trở ngại ca thán khi phải lội bùn lầy, bà liền xuất tiền của gia đình ra chợ mua gỗ lim phiến đóng hai cái thuyền cho hai người lái đò của xã La Tỉnh là Phạm Cân và Đỗ Văn Ha sử dụng, lại cho mỗi người 5 mẫu ruộng để làm nguồn sống hàng ngày, ruộng đó lại được truyền lưu cho những người chèo thuyền giúp cho những người qua sông. Đó là ý thức giúp cho mọi người hành hương. Từ đấy người người đều được hưởng con đường vui, không còn sự ưu phiền như xưa, những người ở gần đó cũng không phải lo lắng nữa. Thật đáng quý vô cùng. Như năm nay đến kỳ chúc thọ kỳ lão, ân huệ lan xa sự biến đó sao lại không đến chiêm ngưỡng, khách vãng lai sao lại có thể bỏ qua.
Sau khi lập Nguyễn Tá Dong làm trưởng nam lễ vật đầy đủ, lấy ngày tốt làm lễ cáo vu các vị của gia tộc đã quá cố tại miếu nhà, dự lập chúc thư, văn tự phân chia điền sản cùng các loại thóc lúa sai trưởng nam có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên, lại lấy ruông, ao, đất, nhà ở các xứ sở, diện tích chiếu theo như trong từng văn tự của gia đình cùng với thóc lúa và các đồ vật đều giao phó chỉ giáo để (trưởng nam) cần cù làm ăn sinh nghiệp làm việc thờ cúng, tế lễ.
Con đỡ đầu là Phạm Duy Hiếu, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Hữu Tán, Nguyễn Đắc Sát, 4 người, mỗi người hứa cho 50 mẫu ruộng.
Lại hứa cho các xã, thôn, giáp, ruộng đất, tiền xâu để lo việc thờ cúng giỗ chạp tổ tiên xa đời, cúng bản thân sau khi trăm tuổi, cũng như việc thờ tổ tiên. Lập am thờ làm nơi cầu cúng thần tượng tiên tổ hàng năm, hương hỏa thờ những người đã khuất, nơi đặt những vật hy sinh thờ cúng ngày giỗ tết, thắp nén hương thơm nơi ngọc bệ, đánh chiêng trống để tạo sự giao cảm thể hiện kính trọng tôn ái người thân, lưu truyền thiên tải, bách thế phải giữ gìn cùng trời đất tồn tại lâu dài cùng nhật nguyệt vận hành sớm chiều không bao giờ quên vậy. Cần giữ gìn bền chặt và lâu dài. Tứ thời bát tiết giỗ chạp, sản vật mâm bàn cho đầy đủ. Ủy nhiệm các lễ nghi, văn khấn các tiết lệ (cho trưởng nam) cùng điền, thổ, trạch, mẫu, sào, thước tại các xứ ở sau bia.
Mệnh phụ Nguyễn Thị húy Thuyết, thâm cảm công đức tổ tông, công sinh thành của cha mẹ, cùng với người chồng nghĩa nặng tình sâu, hai người con thương nhớ vô vàn, phàm đến kỳ giỗ chạp cùng việc thờ bản thân khi qua đời mãi mãi như khi còn như nhìn thấy. Các xã thôn giáp của bản huyện thể hiện sự từ tâm, kính lão, tận trung khẩn cầu đầy đủ, qua đó mà hài hòa sở nguyện.
Hứa cho thôn Đông, xã Bình Lãng ruộng tại bản thôn 15 mẫu, tại xã Ngọ Châu 35 mẫu, cộng 50 mẫu cùng với tiền sử 1.519 quan.
Nghinh niên, kính kỵ hiển khảo (thân phụ) Nguyễn công tự Phúc Vinh, kỵ ngày mồng một tháng 8.
Hiển tỷ (thân mẫu) Nguyễn quý thị, hiệu Diệu Minh kỵ ngày 5 tháng 5.
Lương phu (chồng) Sái công tự Phúc Đạt kỵ ngày 3 tháng Giêng
Phàm 3 giỗ và đón năm mới, mỗi lần: rượu 1 vò, trầu cau một gói, bánh dày trên dưới mỗi mâm 6 cái, mỗi cái bằng một đấu gạo.
Mệnh phụ sinh nhật lễ dùng tiền sử 20 quan, gạo trắng 4 thúng, rượu 1 vò, trầu cau một gói. Đến khi trăm tuổi, bò lớn 1 con, rượu 1 vò, trầu cau một gói, bánh dày trên dưới mỗi mâm 6 cái, mỗi cái bằng một đấu gạo. Lễ vật chi 100 quan tiền. Nghinh niên, kỵ nhật đều phải làm như vậy.
Hứa cho Đông giáp bản thôn: ruộng 2 mẫu 6 sào, thổ cư 10 thước, cùng với tiền sử 100 quan dùng vào việc nghinh niên và kính kỵ.
Nội tổ khảo (ông nội) Nguyễn quý công, tự Chính Thiện kỵ ngày 15 tháng 7
Nội tổ tỷ (bà nội): Nguyễn quý thị, hiệu Từ An kỵ ngày 13 tháng 3
Ngoại tổ khảo (ông ngoại): Nguyễn quý công húy Phúc Mỹ kỵ ngày 15 tháng 10
Ngoại tổ tỷ(bà ngoại): Nguyễn thị hiệu Từ Hiền kỵ ngày 28 tháng 2. Phàm 4 giỗ mỗi giỗ lợn 1 con, rược 1 vò, xôi 1 mâm, trầu cau 1 gói.
Hứa cho Đoài giáp bản thôn ruộng 2 mẫu để chi dùng vào việc nghinh niên, kính kỵ
Trưởng sinh nam (con đích): Thái công, tự Phúc Cơ, kỵ ngày 3 tháng Giêng, lễ cúng lợn 1 con, bánh dày 2 mâm, rượu 1 vò.
Hứa cho Bắc giáp bản thôn ruộng 2 mẫu để chi dùng vào việc nghi niên kính kỵ
Thứ sinh nam (con trai thứ hai) Thái công tự Phúc Nghĩa, kỵ ngày 27 tháng 2 lễ chín 6 mâm, rượu 1 vò
Hứa cho các thôn, xã của bản huyện (Tứ Kỳ):
Xã Mỹ Vạn thôn Đồng Mỹ, ruộng 5 mẫu
Xã Như Lâm, ruộng 5 mẫu
Xã Toại An, ruộng 5 mẫu
Xã Lạc Dục, ruộng 5 mẫu
Xã Quảng Xuyên ruộng 5 mẫu
Xã Thừa Liệt, ruộng 5 mẫu
Xã Hải Hà, ruộng 5 mẫu
Xã Đôn Giáo, ruộng 5 mẫu.
Xã Nho Lâm, ruộng 4 mẫu 7 sào
Xã La Giang, ruộng 4 mẫu
……, ruộng 2 mẫu
Xã Bình Lãng, Thượng thôn ruộng 2 mẫu 5 sào
Xã La Tỉnh ao 1 mẫu gồm 5 cái, ruộng 5 mẫu
Ngũ giáp, ruộng 3 mẫu.
Tam giáp, ruộng 2 mẫu
Xã Ngọc Cơ, Đông thôn , ruộng 2 mẫu
Xã Mặc Xá, Vạn Hộ thôn, ruộng 2 mẫu
Xã Đoàn Xá, thôn Phúc Lâm, ruộng 3 mẫu
Thượng thôn, ruộng 2 mẫu
Xã Vũ Xá, Tông Thôn, ruộng 1 mẫu 6 sào
Mạc thôn, ruộng 1 mẫu 5 sào
Xã Hữu Hiền, Nhân Lý thôn, điền 1 mẫu 5 sào
Kim Đới thôn, ruộng 1 mẫu 5 sào
Tứ Kỳ xã, Đại Đình thôn, tiền sử 500 quan
Dĩ thượng cộng 25 xã, thôn, giáp buộc phải làm lễ nghinh niên, giỗ Thái công, mỗi xã, thôn, giáp mỗi lễ, gà 1 con, xôi 1 mâm, rượu 1 vò, trầu cau 1 gói.
Sinh nhật mệnh phụ: lễ nhiều ít tùy nghi. Sau khi trăm tuổi về với tổ tiên, kỵ nhật xử sự như giỗ lương phu. Lễ và giỗ ấy các thôn, xã, giáp ấy muôn đời báo đền, hương hỏa ngàn năm không dứt. Nay ghi những điều này có trời đất, thần linh và người đời chứng giám.
Hoàng triều Vĩnh Thịnh năm thứ 16 (1720) Canh Tý năm rồng quy tập tháng 4 ngày tốt.
Tứ Bính Thìn khoa, Thám hoa, Tá lý công thần, Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, tham tòng Lại bộ thượng thư, kiêm Đông các đại học sĩ, Quốc lão Tham tụng triều chính Thái bảo chí sĩ, nhung tri Quốc tử giám, Liêm quận công. Quê huyện Từ Liêm xã Thiên Mỗ Nguyễn Quý Đức tuyển.
Thị nội thư tả hộ phiên tiến công thứ lang Tứ Kỳ huyện, huyện thừa Gia Lâm, lâm giá Nguyễn Tả.
Thạch tượng cục, người Đông Sơn An Hoạch là Lỗi Xuân Minh, người Hiệp Sơn, Kính chủ là Lê Đăng Dụng, lấy mực am đá và khắc hoàn chỉnh bia đá.
- chữ 說 có thể đọc theo ba âm khác nhau: Thuyết…Thuế…Duyệt Ở đây chúng tôi lấy theo âm đầu là Thuyết
- Chữ 蔡 có đọc là Thái hoặc Sái ở đây chúng tôi đọc là Thái
- Tố phong – có nghĩa gia đình không quan lại mà được mọi người trọng vọng
Một số chú thích mới thêm vào:
- Phủ Đức Quang (1490-1831) không phải là Đức Quảng
- Mông Sở ?
- Mạnh Thị – Lương Bá Loan ?
- Giấc mộng Hàm Đan: Chỉ giấc mộng của Lữ Đồng Tân xem vinh hoa, phú quý trên đời này chỉ là giấc mộng mà thôi.
- Đồ gốm của Chu Công ?
- Bạch Khuê được tôn là Thánh thương người mở đầu cho tích lũy đầu cơ nông phẩm mới là kế buôn bán lâu dài
- Điểu Khỏa ?
- Người vợ của nhà Thục ?
- Bá Trọng ?
- Năm 1716 có 200 mẫu có lẽ là 2000 mẫu vì riêng cho 4 con nuôi đã 200 mẫu rồi
- Tiền sử?
trong sáng như người vợ của nhà Thục; câu này có lẽ dịch sai, không có điển tích, chỉ có chữ Thục nữ
