Trùng tu Đại Bi/Tự thạch bi ký
重修大慈/寺石碑記
Thác bản bia xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội 河內巿應天社, sưu tầm tại chùa Miêng Hạ xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội.
Thác bản 4 mặt; khổ 43 x 114 cm, 22 x 81 cm; gồm 32 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 800 chữ.
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 12 (1751).
Niên đại: Ngày lành tháng 12 – năm Tân Mùi, năm thứ 12 niên hiệu Cảnh Hưng (1751).
Người soạn: Quan Huấn đạo Thông Hóa[1], thôn Khả Lãm, xã Cao Lãm huyện này hiệu soạn.
Nội dung:
Mặt 1: Trùng tu đại bi
Nguyên văn chữ Hán
重修大悲
應天府,山明縣,山明社,嚴舍村,官員鄉老上下等。
嘗謂:寺之有碑,碑之有文,古也所以紀古人之功德也。今[觀] 大悲寺在本村凈土,前開後[把],虎踞龍蟠,一簇樓臺萬年香火,男女禱求顯有靈應,實古名寺也。[柰] 自延成承亂之後,堂宇傾頹,本村六甲鄉老官員上下等。於丁丑年,[煥] 起善心,共發家財構作前堂後堂,左廡右廡。制度規模宛然如舊,一一事迹紀之于碑。但年深日久,迹在碑殘,而迹非碑又不足以徵諸後世。是以今日更造石碑,以求久遠,表古人功德之盛焉。
共銘曰:
山明嚴舍
寺號大悲
禪天勝概
福地寶基
春深樹古
苔厚石[]
兹我村邑
憑[依耆][]
爰求石匠
再造石碑
椎鑿琢矣
沙石磨之
直方適可
平正無虧
行分繩直
自列星眸
明慈悲念
寓勸戒機
頑廉懦[立]
塵脫俗移
知過思改
慕善必為
覺夢醒[醉]
揚是[激] 非
前功增賁
厚福永垂
子孫常盛
財產愈滋
百祿疊受
萬壽無期
余因虔請
爲寫銘辭。
Phiên âm
Trùng tu đại bi
Ứng Thiên phủ, Sơn Minh huyện, Sơn Minh xã, Nghiêm Xá thôn, quan viên hương lão thượng hạ đẳng.
Thường vị: tự chi hữu bi, bi chi hữu văn, cổ dã sở dĩ kỷ cổ nhân chi công đức dã. Kim [quan] Đại Bi tự tại bản thôn tịnh thổ, tiền khai hậu [bả], hổ cứ long bàn, nhất thốc lâu đài, vạn niên hương hỏa, nam nữ đảo cầu hiển hữu linh ứng, thực cổ danh tự dã. [Nại] tự Diên Thành thừa loạn chi hậu, đường vũ khuynh đồi, bản thôn lục giáp, hương lão quan viên thượng hạ đẳng. Ư Đinh Sửu niên, [hoán] khởi thiện tâm, cộng phát gia tài cấu tác Tiền Đường, Hậu Đường, Tả vu hữu vu. Chế độ quy mô uyển nhiên như cựu, nhất nhất sự diệc kỷ chi vu bi. Đãn niên thâm nhật cửu, tích tại bi tàn, nhi tích phi bi hựu bất túc dĩ trưng chư hậu thế. Thị dĩ kim nhật canh tạo thạch bi, dĩ cầu cửu viễn, biểu cổ nhân công đức chi thịnh yên.
Cộng minh viết:
Sơn Minh Nghiêm Xá
Tự hiệu Đại Bi
Thiền thiên thắng khái
Phúc địa bảo cơ
Xuân thâm thụ cổ
Đài hậu thạch []
Tư ngã thôn ấp
Bằng [y cựu] []
Viên cầu thạch tượng
Tái tạo thạch bi
Chùy tạc trác hỹ
Sa thạch ma chi
Trực phương thích khả
Bình chính vô khuy
Hàng phân thằng trực
Tự liệt tinh mâu
Minh từ bi niệm
Ngụ khuyến giới cơ
Ngoan liêm nhu [lập]
Trần thoát tục di
Tri quá tư cải
Mộ thiện tất vi
Giác mộng tỉnh [túy]
Dương thị [kích] phi
Tiền công tăng bí
Hậu phúc vĩnh thùy
Tử tôn thường thịnh
Tài sản dũ tư
Bách lộc điệp thụ
Vạn thọ vô kỳ
Dư nhân kiền thỉnh
Vi tả minh từ.
Dịch nghĩa
Trùng tu chùa Đại Bi
Các quan viên hương lão, toàn dân trên dưới trong thôn Nghiêm Xá, xã Sơn Minh, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Thiên.
Từng có câu nói rằng: Chùa thì có bia, trong bia thì có văn bia, ấy từ cổ xưa rồi, việc ấy dùng để ghi chép công đức của cổ nhân vậy. Nay [thấy] chùa Đại Bi là chốn thanh tịnh tại thôn ta, phong cảnh chùa phía trước rộng mở đằng sau [bao trùm], địa thế rồng cuộn hổ ngồi, lâu đài một dải, hương hỏa muôn năm, nam nữ cầu đảo linh ứng tỏ rõ, thực sự cổ tự danh lam đó vậy. Khổ nỗi, kể từ sau khi Diên Thành thừa loạn[1], các tòa chùa xuống cấp hư hỏng. Các quan viên hương lão cùng toàn dân trên dưới trong sáu Giáp của thôn ta. Vào năm Đinh Sửu, phấn động khởi phát thiện tâm, cùng phát xuất tài sản riêng của nhà để đóng góp xây dựng các tòa Tiền đường, Hậu đường, dãy nhà Tả vu, Hữu vu. Cảnh chùa lại bề thế quy mô, vẻ trang nghiêm như trước, hết thảy dấu tích sự việc đều ghi chép vào bia đá. Nhưng vì năm dài ngày rộng, dấu tích còn đây mà bia đá mờ tàn; mà di tích không có bia văn thì chẳng đủ để biểu trưng cho hậu thế. Vì vậy, ngày hôm nay sửa tạo lại bia đá, để hy vọng truyền giữ lâu dài, nêu tỏ công đức thịnh đầy của cổ nhân chính tại bia này vậy.
Cùng với bài minh rằng:
Sơn Minh Nghiêm Xá[2]
Chùa gọi Đại Bi
Cảnh thiền thắng cảnh
Phúc địa nền báu
Cảnh xuân cổ thụ
Rêu phong đá []
Nay dân thôn ta
[Theo kỳ lão chuẩn]
Bèn cầu thợ đá
Tái tạo thạch bi
Đẽo tạc khắc dùng
Cát đá mài dũa
Vuông tròn thích hợp
Đầy bằng không khuyết
Hàng chia dây thẳng
Chữ bày rành mạch
Rõ niệm từ bi
Ngầm khuyên giữ giới
Ngoan liêm nhu lập[3]
Thoát trần rời tục
Biết lỗi biết sửa
Miến thiện ắt làm
Tỉnh mộng tỉnh mê
Nêu thị đè phi[4]
Công xưa thêm sáng
Phúc dày ban mãi
Con cháu hưng thịnh
Tài sản thêm giàu
Muôn lộc tận hưởng
Thọ đến vô cùng
Tôi nhân lời mời
Viết gửi lời minh.
Chú thích
[1] Diên Thành thừa loạn: Nói loạn binh hỏa vào niên hiệu Diên Thành (1578 – 1585), niện hiệu đời vua Mạc Mậu Hợp. Thời kỳ Lê – Mạc phân tranh.
[2] Sơn Minh Nghiêm Xá: Tức gọi tắt địa danh nơi đây đã ghi ở phần đầu văn bia, thôn Nghiêm Xá, xã Sơn Minh, huyện Sơn Minh.
[3] Ngoan liêm nhu lập: Kẻ ương ngạnh thì liêm chính, kẻ nhút nhát thì có thể tự lập.
[4] Nêu thị đè phi: Nêu tỏ lẽ phải, đè bẹp điều trái.
Mặt 2: Tự thạch bi ký
Nguyên văn chữ Hán
寺石碑記
本村[敘先]
阮繼車,陳必科,阮曰勉,嚴登達,阮曰柘,陳克[寬] 舊社長,嚴登提,陳必[達],阮曰用,黎進賢,阮曰基,阮曰[]。官員色目嚴登榮社舊局正,阮有接,局正嚴登祿,都吏嚴登達,局正謝廷修,局副[謝] 進[],社使阮惟時,局副阮仲容,社胥阮有宏,生徒阮輝[饒],生徒阮儉[璘],[看守] 阮伯欣。
村[晨] : 陳阮倣,阮有固,阮進勳,阮文次,阮廷格,阮惟時,陳必秋,阮有來,武文六,阮文恭,嚴進用,阮惟寧。
長項:阮有𡊰,阮有義,[姜進材],嚴進榜,
[當] 時:嚴登龍,嚴登科,阮曰善,阮登麟。全村官員鄉老,仕娓善男信女上下巨小等。常信府,富川縣,不[饒] 社,富饒村字福信興功構作上殿,又鑄洪鍾一果[][]。沙彌字海和興功修造本寺諸像,並瓦墻等。信娓嚴氏[貳],陳氏[設],[姜] 氏舍,阮氏[恆],嚴氏柄,嚴氏制,鄧氏[籃],阮氏調,阮氏朝,阮氏[],阮氏[坊],阮氏[]。
Phiên âm
Tự thạch bi ký
Bản thôn [tự tiên]
Nguyễn Kế Xa, Trần Tất Khoa, Nguyễn Viết Miễn, Nghiêm Đăng Đạt, Nguyễn Viết Chá, Trần Khắc [Khoan] Cựu Xã Trưởng, Nghiêm Đăng Đề, Trần Tất [Đạt], Nguyễn Viết Dụng, Lê Tiến Hiền, Nguyễn Viết Cơ, Nguyễn Viết [].
Quan viên sắc mục
Nghiêm Đăng Vinh, xã cựu cục chính Nguyễn Hữu Tiếp, Cục chính Nghiêm Đăng Lộc, Đô lại Nghiêm Đăng Đạt, Cục chính Tạ Đình Tu, Cục phó [Tạ] Tiến [], Xã sử Nguyễn Duy Thời, Cục phó Nguyễn Trọng Dung, Xã tư Nguyễn Hữu Hoành, Sinh đồ Nguyễn Huy [Nhiêu], Sinh đồ Nguyễn Kiệm [Lân], [Khán thủ] Nguyễn Bá Hân, .
[Thôn Thần]: Trần Nguyễn Phóng, Nguyễn Hữu Cố, Nguyễn Tiến Huân, Nguyễn Văn Thứ, Nguyễn Đình Các, Nguyễn Duy Thời, Trần Tất Thu, Nguyễn Hữu Lai, Vũ Văn Lục, Nguyễn Văn Cung, Nghiêm Tiến Dụng, Nguyễn Duy Ninh.
Trưởng hạng: Nguyễn Hữu Đền, Nguyễn Hữu Nghĩa, [Khương Tiến Tài], Nghiên Tiến Bảng.
[Đương] thời: Nghiêm Đăng Long, Nghiêm Đăng Khoa, Nguyễn Viết Thiện, Nguyễn Đăng Lân. Toàn thôn quan viên hương lão, sỹ vãi thiện nam tín nữ thượng hạ cự tiểu đẳng. Thường Tín phủ, Phú Xuyên huyện, Bất [Nhiêu] xã, Phú Nhiêu thôn tự Phúc Tín hưng công cấu tác Thượng điện, hựu chú hồng chung nhất quả [][]. Sa di tự Hải Hòa hưng công tu tạo bản tự chư tượng, tịnh ngõa tường đẳng.
Tín vãi Nghiêm Thị [Nhị], Trần Thị [Thiết], [Khương] Thị Xá, Nguyễn Thị [Hằng], Nghiêm Thị Bính, Nghiêm Thị Chế, Đặng Thị [Lam], Nguyễn Thị Điều, Nguyễn Thị Triều, Nguyễn Thị [], Nguyễn Thị [Phường], Nguyễn Thị [].
Dịch nghĩa
Ghi chép bia đá tại chùa
Các vị [sắp xếp hàng đầu[1]] tại bản thôn
Nguyễn Kế Xa, Trần Tất Khoa, Nguyễn Viết Miễn, Nghiêm Đăng Đạt, Nguyễn Viết Chá, Trần Khắc [Khoan] Cựu Xã Trưởng, Nghiêm Đăng Đề, Trần Tất [Đạt], Nguyễn Viết Dụng, Lê Tiến Hiền, Nguyễn Viết Cơ, Nguyễn Viết [].
Quan viên sắc mục[2]
Nghiêm Đăng Vinh, Xã cựu Cục chính[3] Nguyễn Hữu Tiếp, Cục chính Nghiêm Đăng Lộc, Đô lại[4] Nghiêm Đăng Đạt, Cục chính Tạ Đình Tu, Cục phó [Tạ] Tiến [], Xã sử Nguyễn Duy Thời, Cục phó Nguyễn Trọng Dung, Xã tư[5] Nguyễn Hữu Hoành, Sinh đồ Nguyễn Huy [Nhiêu], Sinh đồ[6] Nguyễn Kiệm [Lân], [Khán thủ[7]] Nguyễn Bá Hân.
Thôn [Thần]: Trần Nguyễn Phóng, Nguyễn Hữu Cố, Nguyễn Tiến Huân, Nguyễn Văn Thứ, Nguyễn Đình Các, Nguyễn Duy Thời, Trần Tất Thu, Nguyễn Hữu Lai, Vũ Văn Lục, Nguyễn Văn Cung, Nghiêm Tiến Dụng, Nguyễn Duy Ninh.
Trưởng hạng[8]: Nguyễn Hữu Đền, Nguyễn Hữu Nghĩa,
[Khương Tiến Tài], Nghiên Tiến Bảng.
[Đương] thời[9]: Nghiêm Đăng Long, Nghiêm Đăng Khoa, Nguyễn Viết Thiện, Nguyễn Đăng Lân. Các quan viên hương lão, các thiện nam tín nữ, cung toàn thể mọi người trên dưới trong thôn.
Thôn Phú Nhiêu, xã Bất Nhiêu, huyện Phú Xuyên, phủ Thường Tín, (người có) tên tự là Phúc Tín hưng công xây dựng tòa Thượng điện, lại đúc chuông lớn 1 quả [][]. Sa di tự Hải Hòa hưng công tu sửa các tượng tại bản tự, cùng với các công trình xây tường, lợp ngói.
Các tín vãi Nghiêm Thị [Nhị], Trần Thị [Thiết], [Khương] Thị Xá, Nguyễn Thị [Hằng], Nghiêm Thị Bính, Nghiêm Thị Chế, Đặng Thị [Lam], Nguyễn Thị Điều, Nguyễn Thị Triều, Nguyễn Thị [], Nguyễn Thị [Phường], Nguyễn Thị [].
Chú thích
[1] [Các vị sắp xếp hàng đầu]: Xưa trong làng xã rất trọng vị thế, và thậm chí cần đến sự sắp xếp thứ tự trong làng. Ví dụ khi làng có việc, cần có các vị trong ban đại diện đứng đầu thay mặt dân mà tấu cáo với quan trên, hay những việc xử lý trong làng thì cần có các vị có uy tín thứ bậc để giải quyết, ưng thuận cho. Ví dụ như cụ Tiên chỉ, thứ chỉ (người được viết tên đầu tiên trong văn bản, khi đại diện công việc,v.v.). Ở đây có lẽ là liệt kê tên các vị đứng đầu với đại ý như vậy.
[2] Quan viên sắc mục: Chỉ các vị quan viên đương thời đang thi hành công việc, ví dụ như Lý trưởng, Phó lý, Trương tuần,v.v. Một số làng có các vị chắc sắc cao tuổi, đã nghỉ hưu cũng được liệt vào hàng này.
[3] Cựu xã Cục chính: Cựu xã, có thể là nói tắt của Cựu xã trưởng; Cục chính, có lẽ chỉ người đứng đầu một “Cục” (một hiệp thờ ngành nghề gì đó).
[4] Đô lại: Ở cấp làng xã nói chung, thì Đô lại là chức việc chuyên trách về công văn, thủ tục giấy tờ.
[5] Xã tư: Chức việc quản lý về hành chính, giáo dục trong làng xã.
[6] Sinh đồ: Thời Lê (văn bia niên đại thời Lê), thì Sinh đồ chỉ người đỗ kỳ thi Hương. Tương đương với học vị Tú tài thời Nguyễn sau này.
[7] Khán thủ: Chức vụ đảm nhiệm công việc tuần tra, đảm bảo an ninh trong làng xã. Công việc cơ bản giống Trương tuần thời Nguyễn sau này.
[8] Trưởng hạng: Có lẽ chỉ những vị đã vào tuổi trưởng thành.
[9] Đương thời: Có lẽ chỉ các vị đương thời đang đảm nhiệm công việc.
Mặt 3
Nguyên văn chữ Hán
一本村地分東近[花袗],南近高覽,西近上村,北近[益] 椥。
Phiên âm
Nhất bản thôn địa phận Đông cận [Hoa Chẩn], Nam cận Cao Lãm, Tây cận Thượng thôn, Bắc cận [Áng] Tre.
Dịch nghĩa
Địa phận thôn ta, phía Đông giáp [Hoa Chẩn], phía Nam giáp Cao Lãm, phía Tây giáp thôn Thượng, phía Bắc giáp [Rạng] Tre.
Mặt 4
Nguyên văn chữ Hán
皇朝景興拾貳年,歲在辛未,拾貳月穀日。
本縣高覽社,可覽村通化訓導校撰。
Phiên âm
Hoàng triều Cảnh Hưng thập nhị niên, tuế tại Tân Mùi, thập nhị nguyệt cốc nhật.
Bản huyện Cao Lãm xã, Khả Lãm thôn Thông Hóa Huấn đạo hiệu soạn.
Dịch nghĩa
Ngày lành tháng 12 – năm Tân Mùi, năm thứ 12 niên hiệu Cảnh Hưng (1751).
Quan Huấn đạo Thông Hóa[1], thôn Khả Lãm, xã Cao Lãm huyện này hiệu soạn.
Chú thích
[1] Huấn đạo Thông Hóa: Huấn đạo là tên chức quan, đứng đầu đảm nhiệm việc giáo dục của một huyện hoặc một phủ; Thông Hóa, chúng tôi chưa thực sự rõ nghĩa chữ này, Nhưng căn cứ vào văn phạm và mạch văn, thì có khả năng rất cao đây là tên phủ, hoặc huyện mà quan Huấn đạo nhậm chức. Qua tra cứu có kết quả phù hợp đáng tin cậy là phủ Thông Hóa thuộc trấn Thái Nguyên vào thời Lê.
