Trùng tu thị cầu
重修市墡
Thác bản bia chợ Nành xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣寧江社, sưu tầm tại Thạch Sàng xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 170 x 85 cm, gồm 43 dòng chữ Hán, toàn văn khoảng 1000 chữ, chạm rồng cách điệu.
Niên đại: Vĩnh Khánh thứ 2.
Chủ đề:
– Biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
Nguyên văn chữ Hán
重 修 市 墡
慈山府東岸縣扶寧社官員貴職太翁老婆善男信女等
夫所謂市者,通遠邇通貨財之事,會閭閻貿易之途。其闤者之垣,闠者之門,午其肆者以陳,居者以置。乎五十里有市,市有堲制,益著于地官。壹闤會有時,時有三法,彌彰於前代。從古及今,莫不然也。
茲有扶寧之名市,肇自先哲之茂功。凝馬跡遠羊腸,中居通九陌。龍鳳亭連鶴寺,高築接長街。外則列青楓之蔽芾,內則藏瓦堲之巍峨。錐刀較日中制,遵上古墨肆。凝雲聚計,活生民其做好。營爲莫非有意於四民,集時通地之便也。爭奈春秋曾歷,歲月多逾,墨有分而狹小,規模酒店垂帘。簾逼迫館雖構而鍼撞,風雨座梁墜,燕廢侵尋。往來與長鬱之嗟,賣買穩不平之氣。或有財而無心修造,或有志而未及興行。其能茂開發之工夫,必需大檀那之手段。
謄惟扶寧漢子,正有良人姓阮字德甲加字福仙,妻阮氏松號妙柏,生長於農晏子。其宅忠直不屈,宜僚其居,樂作善爲心。歆慕慈悲之界,不蓄財爲富,喜開方便之西。根土綿而心戚戚然,睹瓦壞而情撫撫者,不計其費。努力而行,捐青蚨之錢,換易沼池,而填塞渙白髮之米。運輸木石以培造,己自興功,身當會主。尤念夫支大廈者非一木,航渤海非孤舟。
因普勸諸鄉仕娓等,以廣資財,以弘慈善。所闢之市者,俾土恢恢如沙之靖浦;行槩槩如鷹之陳。所造之球者,龍鱗片片如彙;期飛柱石,班班如苞之樂。鳩工用畢,墡市告成。斯亦廣前人之所未廣者歟!而今而後,題柱任文人筆,吹簫寬賈容之懷。交易得便者,踐若步燧皇之世世。盤結得其所者,照然居宗后之時。此功此德,天實鑒之,佛實護之。佇見集尚書之五福,萃天保之九如。其銓慶所及,不特于身家,且于雲仍,于苗裔,于千萬世矣。
易曰:積善之家必有慶,斯其謂歟!于是在且以辭情街住,作記于石,以久其傳云。
計。。。
興功一會主者英尚仕阮德甲字福仙,妻阮氏松號妙柏。。。。
皇朝永慶萬萬年歲次庚戌孟冬穀日。
Phiên âm Hán Việt
Trùng tu thị cầu
Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Phù Ninh xã quan viên quý chức, thái ông lão bà, thiện nam tín nữ đẳng.
Phù sở vị thị giả thông viên nhĩ, hoá tài chi sự, hội lự đạo mậu dịch chi đồ. Kì hoàn giả chi viên, hội giả chi môn. Ngọ kì tử giả dĩ trần, cư giả dĩ tri hồ? Ngư thập lí hữu thị, thị hữu đối chế, ích trữ ưu địa. Quan nhất hồng, hội hữu thời, thời hữu tam pháp di chướng ư tiên đại. Tông cổ cập kim, mạc bất nhiên dã.
Tư hữu Phù Ninh chi danh thị, triều tự tiên triết chi mậu công, ngưng mã tích nhiễu dương tràng. Trung cư thông cửu mạch, lũng phượng đỉnh liên hạc tự. Cao sách tiếp trường nhai, ngoại tắc liệt thanh phong chi tế phê, nội tắc tầng ngõa đối chi nguy nga. Thời đao hiệu nhật, trung chế tuân thượng cổ; mạc từ ngưng vân tự kế, hoạt sinh dân. Kì tố hào doanh vi, mạc phi hữu ý. Ư tư dân tập thời thông địa chi tiện dã. Tranh nai xuân thu, tằng lịch tuế nguyệt đa dư, mạc hữu phần nhi thiểm tiểu quy mô. Nãi tửu điếm thuỳ xuyên, liêm bức bách. Quán đối cầu nhi cận chàng phong vũ, tọa lương truy yến lâu xâm tẩm, vãng lai dữ trường uất chi sai. Mại mãi ổn bất bình chi khí, hoặc hữu tài nhi vô tâm tu tạo, hoặc hữu chí nhi vị cập hưng hành. Kì năng mậu khai bạt chi công phu, tất như đại đàn na chi thủ đoạn.
Quyền duy Phù Ninh hán tử Chánh hữu lương nhân, tính Nguyễn tự Đức Giáp, gia tự Phúc Tiên, thê Nguyễn Thị Tùng hiệu Diệu Bách, sinh trưởng ư nông ẩn tử. Kì trạch trung trực bất khuất, nghi liễu kì cư, lạc tác thiện vi tâm, hâm mộ từ bi chi giới, bất xúc tài vi phú, hỉ khai phương tiện chi tây căn, độ miên nhi tâm thích thích nhiên, đồ ngõa hoại nhi tình phù phù giả. Bất kể kì phí, nỗ lực nhi hành, quyên thanh phù chi tiền, hoán dịch chiếu trì nhi điền tài, hoàn bạch phát chi mễ vận thâu mộc thạch dĩ bồi tạo. Kỷ tự hưng công, thân đường hội chủ. Vưu niệm phù chi đại hạ giả phi nhất mộc hằng bột hải phi cô chu.
Nhân phổ khuyến chư hương sãi vãi đẳng dĩ quảng tư tài dĩ hoằng tư thiện. Sở tích chi thị giả tỉ thổ hội hội như sa chi tinh, phố hàng san san như nhạn chi trần; sở tạo chi cầu giả long lân phiên phiến như vựng kì phi, trụ thạch ban ban như bảo chi lạc. Cửu công dụng tất, cầu thị tạo thành, tư diệc quảng tiền nhân chi sở vị quảng giả dư. Nhi kim nhi hậu đệ trụ nhậm văn nhân chi bút, xuy tiêu hoan cổ dung chi hoài, giao dịch đắc tiện giả tiền nhược bộ huỳnh hoàng chi thế bàn kết đắc kì sở giả hy nhiên cư tòng hậu chi thời. Thử công thử đức thiên thực giám chi, Phật thực hộ chi. Trữ kiến tập thượng thụ chi ngũ phúc tốt thiện báo chi cửu như kỷ dư khánh sở cập bất đắc vu thân gia. Vưu thả vu vân nhưng vu miêu duệ vu thiên vạn thế hĩ.
Dịch viết tích thiện chi gia tất hữu khánh tư vị dư. Ư thị cựu dĩ tư tình trùng trụ tác ký vu thạch dĩ cửu kỷ truyền văn.
Hưng công: Hội chủ kỳ anh thượng sãi Nguyễn Đức Giáp …
Hoàng triều Vĩnh Khánh nhị niên mạnh xuân cốc nhật.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Trùng tu cầu chợ
Quan viên quý chức, thái ông lão bà, thiện nam tín nữ xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn cùng dựng bia.
Thường nói: Chợ là nơi trao đổi hàng hoá gần xa, là chỗ láng giềng gặp nhau mua mua, bán bán. Trong tường bao, ngoài cổng chợ, lối dọc đường quang, hàng họ bày ra, lều quán la liệt. Trong vùng, cứ khoảng năm mười dặm mới có một chợ. Chợ có hình thế như một mỏm đồi nổi rõ trên đất bằng.
Quan ở trong một làng cũng chỉ có thời, có lúc, song có nhiều cách để tôn vinh đời trước. Từ cổ chí kim, ai ai cũng cùng vậy. Nay có chợ Phù Ninh, vốn được khởi dựng nhờ công lao của các bậc tiền bối. Giữa chợ có các đường thông với muôn nơi, có đình phượng lồng bóng, có chùa hạc liền kề. Nhà cao tiếp nối phố dài, ngoài có hàng phong rợp bóng, trong có nhà ngói nguy nga. Mái đao cao vút giữa trời xanh, kiểu cách tuân theo thượng cổ. Chợ búa đông vui, tập trung buôn bán, người người qua lại, tiện lợi cho cả vùng.
Đã trải bấy thu, từng qua năm tháng, chợ có phần nhỏ hẹp, quán rượu buông rèm, buôn nỗi bức bách. Lều quán kia gió mưa lay động, cột xiêu mái sụt, chim én dần dà tới lui, cỏ dại lâu ngày rậm rạp. Trước cảnh đó, người buôn bán trong lòng buồn tủi, bởi người có của chẳng nghĩ gì đến tu tạo, kẻ có chí chưa kịp làm gì. Do vậy, việc mở mang bề bộn những công phu, ắt cần đến tâm bồ đề của bao thí chủ.
Kính nghĩ, ở Phù Ninh có bậc trượng phu Chánh hữu lương nhân, họ Nguyễn tự là Đức Giáp, sinh trưởng trong một nhà nông khá giả, thẳng thắn cương thường, hoà thuận xóm làng, vui làm việc thiện, hâm mộ từ bi, không tích góp tiền của làm giàu, mà tự nguyện theo đường phương tiện cho điều lành. Nhìn tường siêu mà dạ bồn chồn, thấy mái sạt thì tình đau đáu. Thế rồi không nề tổn phí, đưa sức ra làm. Góp tiền bạc, bán ao chuôm, đổi gạo trắng, mua gỗ đá để trùng tu; tự mình hưng công, cùng làm hội chủ xây dựng. Nghĩ rằng: dựng toà lâu đài đâu chỉ một cây gỗ nhỏ, vượt bể lớn sao chỉ chiếc thuyền nan? Thế là ông khuyến cáo sãi vãi trong làng, góp tiền của mở mang công việc thiện. Chợ được mở mang, khang trang rộng rãi, hàng quán la liệt, lung linh như chim nhạn giăng hàng. Cầu được sửa chữa, vảy rồng lấp lánh tựa đang nhún mình vỗ cánh bay lên. Dưới chân cầu, nước róc rách như tấu nhạc.
Công việc chu tất, cầu chợ hoàn thành. Đây âu cũng chỉ là mở mang công việc mà tiền nhân chưa làm tới mà thôi.
Lưu truyền bi kí (mặt 2)
– Tuỳ duyên hội chủ, kê:
Hội chủ quan viên Thiếu khanh Kì anh thượng sĩ Nguyễn Công tự Phúc Diên, vợ là Kiêm tín vãi Cẩn nhân Đào Thị Man hiệu Từ (?). Hội chủ quan viên Hữu thiếu giám Toàn Tường hầu Nguyễn Công Luân cúng 10 quan sử tiền. Hội chủ Kiêm lão vãi Thận phu nhân Nguyễn Thị Biên hiệu Diệu Tường 6 quan sử tiền. Hội chủ trưởng quan Nguyễn Minh Kiên, vợ Đào Thị Tân hiệu Diệu Hanh sử tiền 5 quan. Hội chủ Nguyễn Tăng Long vợ Nguyễn Thị Thế 2 quan sử tiền. Hội chủ Thiện sãi Nguyễn Công Đăng tự Phúc Cao, vợ Nguyễn Thị Liêm 2 quan sử tiền. Hội chủ Nguyễn Đình Vượng tự Tĩnh Tâm, vợ Nguyễn Thị Cơ 2 quan sử tiền.
Hội chủ: Phan Công Hoành, vợ Nguyễn Thị Đài người xã Hiệp Phù cúng 2 quan sử tiền. Hội chủ Nho sinh Thạch Quốc Dương, vợ Ngô Thị Đạo, Đoàn Thị Luân người xã Công Đình cúng 2 quan 5 mạch sử tiền. Hội chủ Phù sĩ Lâm Viết Phú tự Phúc Cường, vợ Nguyễn Thị Lượng hiệu Từ Thanh 2 quan sử tiền. Hội chủ Tín vãi Nguyễn Thị Thình hiệu Diệu Tranh, người xã Ninh Giang cúng 2 quan sử tiền. Hội chủ Phù sĩ Nguyễn Công Luân tự Phúc Thành, vợ Phạm Thị Bức cúng 1 cái ao.
– Những vị tuỳ duyên công đức, cúng từ 1 quan đến 5 mạch sử tiền gồm: Nguyễn Thị Hiến, Đào Thị Lệnh,… (khoảng 30 vị, do bị mờ, nên lược bớt).
– Quan viên các xã Phù Ninh, Hạ Dương, Công Đình, Ninh Giang, Hiệp Phù, Ninh Xuyên cùng già trẻ trên dưới trong bản tổng công đức.
Ngày lành tháng xuân năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730).
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 406 – 411.