Vịnh Quận công từ đường bi kí
詠郡公祠堂碑記
Thác bản bia đìxã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣扶寧社, sưu tầm tại Từ đường họ Nguyễn Thọ xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 115 x 75 cm, gồm 56 dòng chữ Hán.
Niên đại: Chính Hòa năm thứ 6 (1685).
Người viết: Văn Nhật năm Nguyễn Phú Liêu, người trong làng viết chữ.
Chủ đề:
– Công đức dòng họ.
Nguyên văn chữ Hán
詠 郡 公 祠 堂 碑 記
追立前本差留守宣光興化等處兼題領四城軍務事右象奇該官題督加贈都督府右都督詠郡公阮令公諱德霑字睿厚諡剛簡府君碑記並銘
嘗謂人之富貴顯達能光前裕後德盛矣乎,則其名留芳于萬世也。茲惟阮令公氣質恬和,事理通達。侍王幄則常加謹慎,尺寸不差;任國事則極其祥明,毫厘不爽;治軍則士卒悅服,每出有功;管民則人情歡欣,各安其業。過至己亥年始紙受右題點伯爵,癸巳年受參知監事侯爵,已而丁酉年再榮陞郡公爵,於庚子年加參督,甲辰年陞加題督,再加留守宣光興化等處,至甲寅年兼題領四城軍務事。恩威兼濟,京師肅然。至戊午年被運而館奉見,指固始賞為文問,許贈為都督府右都督詠郡公,民頒皂隸,禮加諭祭,極其恩寵,此所謂生也榮而往也榮。
於是作為祠堂貳座,每座壹間貳廈,再加土四高在朗處,田參畝在球午處,並池帶在前堂,立香火至特祭祀,以報其功德焉于其身以及於家。
顯考字福隆諡光盛府君,天嘏雄材,世資勇力,於癸亥年始紙受都指揮使僉事端岩伯,至己亥年陞受參督端岩侯。而施陰德,則有祖娥封為正夫人號慈信焉。。。。
思德如此,願不可量乎!於令之祿,上光于顯祖宗,下思裕于子孫,近及於鄉里,遠及於此鄉。此功此德,巍然煥然,宜乎子孫益眾,科第相望,功名顯赫,事業煥光盛矣哉,不可忘也!遂銘于石,以傳永久。因述于詩曰:
祖德尊功善積門 令公緣契受皇恩 京城題領權當重 都督前軍職贈尊 忠孝君親昭日月 勳名鍾鼎等乾坤 雲仍喜有衣冠續 益驗吾家福永存
此未足以盡功也,又繼為銘石,以侈其盛德云。銘曰:
粵瞻東縣 鄉號扶寧 官有阮姓 福種王庭 位居公爵 職贈前營 勳名赫奕 事業鏘鏗 恩加全總 構作四亭 諸靈透感 萬代香馨 子孫盛旺 家族顯榮 功厚德大 山高天青
皇朝正和萬萬年之六孟東月良穀日
內卿文日男阮富僚寫。
Phiên âm Hán Việt
Vịnh Quận công từ đường bi kí
Truy lập Tiền bản sai lưu thủ Tuyên Quang Hưng Hoá đẳng xứ kiêm Đề lãnh tứ thành quân vụ sứ, Hữu tượng kì cai quan Đề đốc, gia tặng Đô đốc phủ Hữu Đô đốc Vịnh Quận công Nguyễn lệnh công, huý Đức Chiêm, tự Duệ Hậu, thụy Cương Giản phủ quân bi kí tính minh.
Thường vị nhân chi phú quý, hiển đạt, năng quang tiền, dụ hậu, đức thịnh hĩ hồ, tắc kì danh lưu phương ư vạn thế dã. Tư duy Nguyễn lệnh công khí chất điềm hoà, sự lí thông đạt. Thị vương ốc, tắc thường gia cẩn thận, xích thốn bất sai; nhậm quốc sự, tắc cục kì tường minh, hào li bất sảng; trị quân tắc sĩ tốt duyệt phục. Mỗi xuất hữu công: quán dân tắc nhân tình hoan hân, các an kì nghiệp.
Quả chí Kỉ Hợi niên thụ chi thụ Hữu Đề điểm bá tước. Quý Tỵ niên thụ Tham tri giám sự, hầu tước. Dĩ nhi Đinh Dậu niên tái vinh thăng Quận công tước, ư Canh Tý niên gia Tham đốc, Giáp Thìn niên thăng gia Đề đốc, tái gia lưu thủ Tuyên Quang, Hưng Hoá đẳng xứ, chí Giáp Dần niên kiêm Đề lãnh tứ thành quân vụ sứ. Ân uy kiêm tế kinh sư. Tức nhiên chí Mậu Ngọ niên bị vận nhi quán, phụng kiến chi cố thuỳ thường vi vân vân, hứa tặng vi Đô đốc phủ Hữu Đô đốc Vịnh Quận công. Dân ban tạo lệ, lễ gia dụ tế, cực kì ân sủng. Thử sở vị sinh dã, vinh nhi vãng dã, vinh Ư thị tác vi từ đường nhị toà, mỗi toà nhất gian nhị hạ, tái gia thổ từ cao tại Lãng xứ, điền tam mẫu tại Cầu Ngõ xứ, tính trí đài tại tiền đường lập hương hoả, chí đặc tế tự dĩ báo kì công đức yên, Vu kì thân dĩ cập ư gia.
Hiển khảo tự Phúc Long, thụy Quang Thịnh phủ quân. Thiên cơ hùng tài, thế tư dũng lực. Ư Quý Hợi niên thuỷ chí thụ Đô chỉ huy sứ thiêm sự Đoan Nham bá, chí Kỉ Hợi niên thăng thụ Tham đốc Đoan Nham hầu nhi thị âm đức, tắc hữu tổ nga phong vi Chánh phu nhân hiệu Từ Tín yên…
Tư đức như thử cố bất khả lường hồ? Ư Lệnh chi lộc thường quang ư hiển tổ tông, hạ ân dụ ư tử tôn, cận cập ư hương lí, viễn cập ư thử hương. Thử công thử đức, nguy nhiên hoán nhiên, nghi hồ tử tôn ích chúng, khoa đệ tương vọng, công danh hiển hách, sự nghiệp hoán quang. Thịnh hĩ tai! bất khả vong dã. Toại minh vu thạch dĩ truyền vĩnh cửu. Nhân thuật vu thi viết:
Tổ đức tôn công thiện tích môn
Lệnh công duyên khế thụ Hoàng ân
Kinh thành Đề lãnh quyền đương trọng
Đô đốc tiên quân chức tặng tôn
Trung hiếu quân thân chiêu nhật nguyệt
Huân danh chung đỉnh đẳng càn khôn
Vân nhưng hỉ hữu y quan tục
Ích kiệm ngô gia phúc vĩnh tồn.
Thử vị túc dĩ tận công dã, hựu kế vi minh thạch dĩ xĩ kì thịnh đức vân. Minh viết:
Việt chiêm Đông huyện
Hương hiệu Phù Ninh
Quan hữu Nguyễn tính
Phúc chủng vương đình
Vị cư công tước
Chức tặng tiên doanh
Huân danh hách dịch
Sự nghiệp tường khanh
Ân gia toàn tông
Cấu tác từ đình
Chu linh thấu cảm
Vạn đại hưởng hình
Tử tôn thịnh vượng
Gia tộc hiển vinh
Công hậu đức đại
Sơn cao thiên thanh.
Hoàng triều Chính Hoà vạn vạn niên chi lục mạnh đông nguyệt lương cốc nhật. Nội hương Văn Nhật nam Nguyễn Phú Liêu tả.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Văn bia từ đường Vịnh Quận công
Văn bia và bài minh truy lập từ đường Vịnh Quận công họ Nguyễn. Ông vốn trấn giữ các xứ Tuyên Quang, Hưng Hoá, kiêm chức Đề lãnh tứ thành quân vụ sứ, Hữu tượng kì cai quan Đề đốc, gia tặng Đô đốc phủ Hữu Đô đốc, huý là Đức Chiêm, tự là Duệ Hậu, thuỵ là Cương Giản phủ quân.
Thường nghe: Người phú quý, hiển đạt, thì có thể làm rạng rỡ tiền nhân, vẻ vang hậu thế. Đức thịnh vậy làm cho danh thơm muôn đời. Nay Nguyễn lệnh công khí chất điềm đạm hiền hoà, xử lí sự vụ thông đạt. Chầu bên vua, luôn cẩn trọng, nói năng không chút sơ sẩy. Khi thực thi chính sự thì vô cùng tường tận, không mảy may sai sót; lúc quản quân thì sĩ tốt mừng vui, mỗi lần xuất quân là một lần thắng lợi; khi cai quản dân thì nhân tình hoan hỉ, ai nấy yên với nghề nghiệp của mình.
Đến năm Kỉ Hợi (1599) bắt đầu được phong chức Hữu Đề điểm, tước bá; năm Quý Tỵ thăng làm Tham tri giám sự, tước hầu. Đến năm Đinh Dậu (1657) lại được thăng tước Quận công. Năm Canh Tý (1660) gia phong chức Tham đốc, năm Giáp Thìn (1664) thăng làm Đề đốc, cho làm trấn thủ hai xứ Tuyên Quang và Hưng Hoá. Năm Giáp Dần (1674) kiêm chức Đề lãnh tứ thành quân vụ sứ, do có ân uy mà kiêm cả kinh sư. Đến năm Mậu Ngọ (1678) bị vận hạn, được vua gửi lời thăm hỏi và ban tặng làm Đô đốc phủ Hữu Đô đốc Vịnh Quận công, ban cho dân tạo lệ, gia ân lễ phẩm cực kì ân sủng. Như thế khi sinh thời hết đỗi vinh hiển, lúc qua đời cũng rất vẻ vang. Vì thế lập từ đường 2 toà, mỗi toà 1 gian 2 chái, lại cấp thêm đất 4 sào ở xứ Lãng, ruộng 3 mẫu ở xứ Cầu Ngõ cùng ao một cái ở trước từ đường để lo hương hoả. Giao cho tế lễ để báo đáp công đức cho ông và cho gia tộc vậy.
Hiển khảo tự là Phúc Thắng, thuỵ là Quang Thịnh phủ quân. Ông là người mẫn cán, lực lưỡng. Năm Quý Hợi (1623) được ban phong làm Đô chỉ huy sứ Thiêm sự, tước Đoan Nham bá; năm Kỉ Hợi (1659) thăng làm Tham đốc, tước Đoan Nham hầu, có ân đức lớn. Bà vợ cả được phong là Chánh phu nhân hiệu Từ Tín.
Trước ngày có từ đường 2 dãy, mỗi dãy 5 gian 2 chái để thờ cúng. Trên thờ Hiển tổ khảo tự Phúc Vinh, thuỵ Lượng Hầu phủ quân, ban phong là Đô chỉ huy tước Hưng Tài hầu; Hiển tổ tỉ hiệu Từ Thuận cũng được ban phong làm Chánh phu nhân. Hiển tằng tổ khảo tự Phúc Lâm thuỵ Phong Giang phủ quân, gia phong tặng là Thái bảo Dũng Xuyên hầu. Hiển tằng tổ tỉ hiệu Từ Thái, cũng được phong làm Chánh phu nhân. Lệnh huynh tự Phúc Lưu thuỵ Công Ý phủ quân, tính tình khoan hoà, hậu hĩ, năm Nhâm Thìn (1652) phong làm Huyện thừa huyện Tiên Du, năm Đinh Dậu (1657) thăng làm Tiến công lang xứ Kinh Bắc, năm Giáp Dần (1674) thăng thêm là Cẩn sự lang Đồng tri phủ phủ Yên Bình. Em trai tự là Minh Lương tiên sinh thi hương đỗ tam trường, được ấm phong; em thứ tự là Phúc Nghị thuỵ là Đôn Cẩn phủ quân năm Đinh Dậu (1657) ban làm Huyện thừa huyện Phượng Nhãn, gia phong làm Phó câu khê, Lệnh sử bộ Binh, lại thăng làm Cẩn sự lang Thái bộc tự Tự thừa. Tổ tiên hiển đạt như vậy, cháu con kế nối. Lại còn con nuôi 8 người. Con trưởng là Nguyễn Đức Đăng có nhiều tài nghệ, được ấm phong là Triều liệt đại phu, lại được thăng làm Chánh đội trưởng, tước Hưng Nghĩa hầu; con thứ là Nguyễn Đức Khoa, văn chương uyên bác, năm Mậu Ngọ thi hương trúng tam trường; nho sinh Nguyễn Đức Gian được ấm phong là Hoàng tín đại phu, năm Quý Sửu thi hương trúng tam trường, phong làm cai hợp Lệnh sử, có công lao được phong làm Đồng tri châu châu Thuận. Nguyễn Đức Cơ, Nguyễn Đức Bỉ, Nguyễn Đức Hiệp cũng đều được ban làm quan viên tử vậy. Còn con gái thì Nguyễn Thị Lộc, Nguyễn Thị Hán cũng đều làm dâu con gia đình thế phiệt. Người em là Nguyễn Đức Tiến văn chương tinh thông, nói năng thận trọng là người được trọng vọng của gia tộc, năm Canh Tuất thi hương trúng cả bốn trường, thi hội trúng tam trường, phong làm Huấn đạo phủ Yên Bình, lại ban làm Phó câu khê tướng thần, sau phong làm Thượng bảo tự Tự thừa, tước tử. Cháu đích tôn là Nguyễn Đức Trí tự chất thuần hậu, là dòng dõi quý báu của tông tộc, năm Tân Hợi được ấm phong làm Hoàng tín đại phu; Nguyễn Đức Nhuận cũng được phong làm Phó cai hợp Lệnh sử, sau thăng làm Huyện thừa huyện Đường An. Nguyễn Đức Thuần ấm phong là Hoàng tín đại phu, Nguyễn Đức Dụ năm Giáp Tí trúng tam trường, ấm phong Nho sinh. Đến các cháu gái là Nguyễn Thị Xoan, Nguyễn Thị Thái cũng được ân phong vậy.
Gia đình lo được mọi việc từ trong dòng tộc ra đến thôn ấp, đã hứa xây cho hai thôn Thượng Hạ xã Phù Ninh một ngôi đình 3 gian 2 chái và cấp 200 quan tiền sử, 8 mẫu ruộng tại xứ Mả Bồ. Ruộng hương hoả 5 sào tại xứ Lỗ Bố, 5 sào tại xứ Thuỷ Độc dùng việc phụng thờ Hiển khảo Nguyễn Tướng công, Hiển tỉ Đào quý thị. Còn thôn Hạ trong xã và xã Ninh Giang cùng đình chung của tổng cúng lễ giỗ chạp Nguyễn lệnh công.
Riêng thôn Hạ, hứa dựng một ngôi đình 5 gian và cấp 100 quan tiền, 1 mẫu ruộng ở xứ Mả Đỗ. Đình tổng thì cấp cho 942 quan 5 mạch tiền dùng vào việc làm đình ngói 5 gian 2 chái và ruộng tốt 5 mẫu ở xứ Cầu Lễ. Cho xã Ninh Giang 500 quan tiền cổ và gỗ các loại để làm đình ngói 3 gian 2 chái cùng 5 mẫu ruộng tại xứ Cầu Lễ.
Công đức như vậy, thật khó lường được. Lộc ban của Lệnh công, trên thì làm rạng rỡ thêm tổ tông, dưới thì làm vẻ vang cho cháu con, gần thì đến xóm làng, xa thì đến hương ấp. Công đức này lớn lao thay, vòi vọi thay! Cháu con thêm đông, khoa trường trông đợi, công danh hiển hách, sự nghiệp huy hoàng. Thịnh thay! khó thể quên được. Bèn khắc lên đá để truyền mãi mãi, nhân đó thuật lại bài thơ sau:
Đức tổ công tôn, nhà tích thiện
Lệnh công duyên hợp với hoàng ân
Kinh thành Đề lãnh, quyền chức trọng
Đô đốc quản quân, tước vị cao
Trung hiếu vua cha, ngời nhật nguyệt
Danh thơm lộc hậu, rạng đất trời
Cháu con vui được danh truyền nối
Cần kiệm danh thơm, phúc vĩnh hằng.
Điều đó cũng chưa thể nói hết công đức của ngài vậy, nên làm thêm bài minh khắc lên đá để nêu gương công đức. Bài minh rằng:
Xưa huyện Đông Ngạn
Xã gọi Phù Ninh
Có quan họ Nguyễn
Phúc theo đế vương
Tước hàng công phẩm
Chức đứng đầu cung
Danh thơm hiển hách
Sự nghiệp vẻ vang
Ân ban toàn tông
Dựng bốn ngôi đình
Thần linh thấu cảm
Muôn đời thơm hương
Cháu con thịnh đạt
Gia tộc hiển vinh
Công to đức lớn
Cao tựa núi, trời.
Ngày lành tháng mạnh đông năm Chính Hoà thứ 6 (1685), Văn Nhật nam Nguyễn Phú Liêu, người trong làng viết chữ.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 419 – 429