[Vô đề]
Kí hiệu: 8565/8566/8567/8568
Thác bản bia xã Quế Trạo huyện Hiệp Hòa phủ Bắc Hà 北河府桂棹社, sưu tầm tại lăng xã Thái Thọ tổng Quế Trạo huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.
Thác bản 4 mặt, khổ 77 x 99 cm và 23 x 99 cm, gồm 60 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 2500 chữ, không có hoa văn, có chữ húy: Cửu .
Niên đại: Chính Hòa thứ 18 (1680).
Người soạn: họ Ngô 吳, tức Ngô Công Trạc 吳公擢 (1662- ?); quê quán: xã Lý Trai huyện Đông Thành phủ Diễn Châu, Nghệ An; học vị: Tiến sĩ, Hội nguyên khoa Giáp Tuất niên hiệu Chính Hòa thứ 15 (1694) đời Lê Hy Tông; chức vị: làm quan đến chức Tham chính.
Người nhuận: họ Nguyễn 阮, tức Nguyễn Đăng Đạo 阮登道 (1651- ?); quê quán: xã Hoài Bão huyện Tiên Du phủ Từ Sơn xứ Kinh Bắc; học vị: Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa thứ 4 (1683) đời Lê Hy Tông; chức vị.
Người viết: Đào Cao Triều 桃高朝; chức vị: Thị nội Thư tả.
Chủ đề:
– Hành trạng, công tích nhân vật.
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
Tóm lược nội dung:
Đô thái giám Phương Lộc hầu Ngưu Công Quế quê xã Quế Trạo là người có tài, được vào làm thị hầu trong chốn màn trướng ở cung đình và được bề trên ân sủng, cho ra coi việc quân, ông lập được công trạng. Ông bản chất thuần phác, hiếu đễ, yêu thương người. Ông từng xuất tiền giúp dân xã làm đình, đặt ruộng cho dân thờ phụng thần linh. Dân các xã đồng tình thờ ông tại đền Linh Quang. Có 2 tờ cam kết:- Tờ của quan viên xã Thù Cốc lập tháng 12 năm Kỉ Mùi (tức năm 1769 thuộc niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 đời Lê Hi Tông), kể việc năm trước, Ngưu lệnh công đã giúp dân xã này xây dựng một toà điện thờ và cấp cho các thửa ruộng thờ tương đương 50 gánh lúa, nay ngôi đình của bản xã bị dột nát mà dân không có tiền, xã bèn đến xin ông xuất tiền cho sửa chữa, và xin tôn bầu ông làm Hậu thần thờ phụng ở bên trái đình.- Tờ cam kết của quan viên 2 xã Quế Trạo và Quế Sơn lập tháng 5 nhuận năm Giáp Tuất (tức năm 1694 niên hiệu Chính Hòa thứ 15), cũng trình bày do đình dột nát xin Ngưu lệnh công xuất tiền để sửa chữa và quan viên, dân làng tôn bầu ông làm Hậu thần thờ phụng ở đình làng. Mặt thứ tư được khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 9 (1713) đời vua Lê Dụ Tông, ca ngợi Tổng thái giám Phương Quận công Ngưu Công Quế là bậc trung thành với triều đình, thương yêu dân chúng, hồi trước vào năm Giáp Tuất đã cho tu sửa một ngôi đình gỗ lim lợp ngói; năm Đinh Sửu cấp cho dân 400 quan tiền sử và số ruộng tương đương với 200 gánh lúa cho dân xã, kèm số ruộng hương hỏa tương đương 10 gánh lúa, đã được dân tôn Bầu Hậu thần; sang năm Tân Tị (tức 1701 niên hiệu Chính Hòa thứ 22), lại cúng cho dân 400 quan tiền sử và số ruộng tương đương 100 gánh lúa để dân chi dùng và ruộng tương đương 14 gánh lúa để thờ thần. Trước đây đã quy định lệ biếu lễ thường tân và cúng giỗ, nay quy định thêm lệ hai kỳ tế lễ xuân thu.
Thông tin cơ bản
Chia sẻ