Chùa Minh Khánh còn có tên gọi khác là Chùa Hương Đại hay Chùa Hương thuộc thôn Bình Hà xưa, nay thuộc khu 6, thị trấn Thanh Hà, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Lược sử
Chùa Minh Khánh thuộc hệ phái Bắc tông. Dựa vào những văn bia tại chùa thì ngôi chùa này được xây dựng vào thời Lý. Đến cuối thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông vị vua từng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, đồng thời là vị tổ đầu tiên của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, khi ghé tới đây đã đặt tên chùa là Minh Khánh.
Trong thời gian xuất gia tu hành, Trần Nhân Tông có trở lại chùa Minh Khánh và để lại huyết thư (thư viết bằng máu). Trong thời kỳ cách mạng và những năm đầu kháng chiến chống Pháp, chùa Minh Khánh cũng là một căn cứ quan trọng của huyện Thanh Hà và tỉnh Hải Dương.
Chùa Minh Khánh được trùng tu, tôn tạo nhiều lần vào các thế kỷ XV, XVI, XVII, XIX và thế kỷ XX. Năm 1947 chùa bị quân giặc phá hủy gần như hoàn toàn với mục đích tiêu thổ kháng chiến. Năm 1957, dưới sự góp công góp của của nhân dân địa phương, chùa bắt đầu được phục dựng tòa tam bảo theo quy mô cũ nhìn về hướng Nam. Năm 1980, chùa tiếp tục được xây dựng thêm 3 gian nhà tổ. Cho tới năm 1987, chùa lần lượt được xây dựng thêm 3 tháp mộ, 4 gian nhà tăng, 5 gian tiền đường. Năm 1993, cổng tam quan chùa được xây dựng lại trên nền đất xưa với quy mô và hình thức như cũ. Năm 1995, xây dựng lại điện Phật gồm 10 gian lớn khang trang, bề thế phục vụ nhu cầu chiêm bái của nhân dân. Năm 1998, tiền đường được trùng tu lại trở thành kiến trúc gồm 7 gian.
Năm 1990, chùa được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia.
Kiến trúc
Trải qua khoảng thời gian dài tôn tạo và trùng tu, đầu thế kỷ XXI, cơ bản các hạng mục của chùa đều được hoàn thiện trên nền khuôn viên rộng tới 10.000m² . Các hạng mục được phục dựng và xây dựng bao gồm: cổng Tam quan, Tiền đường, Tam bảo, nhà tổ, điện Phật, hành lang, nhà tăng, nhà khách… tổng cộng 84 gian lớn nhỏ như hiện nay.
Cổng tam quan mái chồng diêm cao ba tầng nổi bật. Sau một sân gạch dài qua một giếng chùa rất to là khu vực sân tiền đường. Bên cạnh là một lối nhỏ dẫn vào trong chùa. Kiến trúc chùa ngày nay được xây dựng theo kiểu “nội Công ngoại Quốc” truyền thống. Phía sau tiền đường là tòa thiêu hương rồi đến thượng điện. Liền với gian bên phải tiền đường là hành lang kéo dài xuống Tổ đường, chỉ thiếu một hành lang đối diện ở vị trí áp lưng vào vườn tháp mộ. Vườn tháp, phương đình cùng các nếp nhà khác nằm vây quanh một sân gạch rất rộng ăn thông ra phía sau chùa. Khu vực cuối cùng này cũng rất rộng và có một hòn núi giả mới đắp khá dài. Chùa chính được bài trí theo kiểu “tiền Phật hậu Thánh” kết hợp tư tưởng “tam giáo đồng nguyên”.
Di sản
Theo sử sách và truyền thuyết, khi nhà Nguyên sang xâm lược nước ta lần thứ 3 vào năm 1287, vua Trần Nhân Tông đã từ Tràng An đến hội quân với Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đang đóng tại đây. Trước ngày xuất quân, đức vua lập đàn tế trời Phật rồi cắt máu ăn thề trước cửa chùa với quyết tâm tiêu diệt giặc Nguyên Mông. Tại vùng Bình Hà, ngày nay còn lưu lại các địa danh như giếng Ngự Dội (giếng vua tắm), đống Quan Cư (gò đất quan ở), kho Gạo (kho quân lương)…
Hiện nay, chùa Minh Khánh đang lưu giữ các bức tượng Phật giáo Bắc tông, hầu hết được đúc mới bằng đồng và tượng đức Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông để ria mép, đội mũ miện và mặc áo cà sa thể hiện trạng thái đang sắp chuyển hóa từ vua thành Phật. Ngoài pho tượng Trần Nhân Tông, chùa còn lưu giữ 9 hạt màu đen có lỗ xỏ như tràng hạt của nhà sư, được bảo lưu trong một hộp rất trang trọng, tương truyền đó là 9 hạt xá lỵ của Trần Nhân Tông. Bên cạnh đó là 6 câu đối có niên đại trước thế kỷ XX, 5 bức đại tự, 13 sắc phong cùng 18 pho tượng cổ. Tại sân chùa có một tháp nhỏ đặt trước tiền đường gọi là Lưu huyết thư tháp nơi vua Trần Nhân Tông để lại huyết thư. Ngoài ra còn có 8 bệ đá cổ trong khuôn viên chùa, được chọn làm nơi để các giáp đặt mâm ngũ quả lễ đức vua và dự thi trong ngày hội,…
Bên cạnh đó, chùa còn lưu giữ 15 tấm bia lớn nhỏ có niên đại lâu đời. Nội dung về những bản tự và văn chỉ được bảo lưu tại chùa gồm:
- Minh Khánh đại danh lam – Hồng Thuận tam niên (được khắc dựng năm Hồng Thuận thứ 3 (năm 1511, cuối thời Lê sơ có ghi việc vua Trần Nhân Tông đặt tên cho chùa là Minh Khánh và lưu huyết thư)
- Công đức bi ký – Dương Đức nguyên niên (1679)
- Minh Khánh tự sáng lập tiền đường bi ký – Vĩnh Thịnh thập nhị niên (1716)
- Thanh Hoa Lãng Nhuận bi – Minh Mệnh bát niên (1827)
- Trùng tu Minh Khánh tự bi – Thiệu Trị tam niên (1843)
- Tân điền bi – Tự Đức nhị thập tứ niên (1871)
- Trùng tu Minh Khánh tự bi – Thành Thái thập nhị niên (1900)
Lễ hội
Hằng năm, hội chùa Minh Khánh bắt đầu từ ngày 28/10 đến ngày 3/11 âm lịch, trong đó chính hội vào 1/11 nhằm tưởng nhớ ngày mất của Trần Nhân Tông. Lễ rước sắc được tổ chức vào sáng ngày 29/10 âm lịch. Tới sáng 30/10, các giáp sẽ rước cỗ về chùa cúng Vua và đức Phật và tổ chức phần hội.
_______________________________
Các ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Minh Khanh Pagoda, also known as Huong Dai Pagoda or Huong Pagoda, is located in the ancient Binh Ha village, now part of Ward 6, Thanh Ha town, Thanh Ha district, Hai Duong province. Belonging to the Northern Buddhist sect, the pagoda was constructed during the Ly Dynasty and was named Minh Khanh by King Tran Nhan Tong. The pagoda has undergone numerous renovations and reconstructions over the centuries, especially during revolutionary and anti-French resistance periods.
The architectural features of the pagoda include the Three Entrance Gate, Front Hall, Three Jewels, Ancestor Hall, Buddha Hall, corridors, monks’ quarters, and guesthouses, totaling 84 large and small pavilions. The unique three-story stacked roof of the Three Entrance Gate stands out. Minh Khanh Pagoda has been recognized as a National Historical Monument since 1990.
The pagoda preserves various significant relics, such as Northern Buddhist statues, a statue of King Tran Nhan Tong, nine black beads believed to be from the king, couplets, inscriptions, royal edicts, and ancient statues. The small tower named “Blood Letter Tower” is where King Tran Nhan Tong left a blood-written letter.
Every year, the pagoda organizes a festival from the 28th of the 10th lunar month to the 3rd of the 11th lunar month, with the procession of colors on the morning of the 29th and the main festival on the 1st of the lunar month, commemorating the death anniversary of King Tran Nhan Tong.
Tiếng Trung (Chinese)
明庆寺,又称为香大寺或香寺,位于古老的平河村,现属于海防省清河县清河镇第六区。属于北传佛教,寺庙建于黎朝,由陈仁宗国王命名为明庆。寺庙在多个世纪里多次翻修和重建,尤其是在革命和反法抗战时期。
寺庙的建筑特色包括三门,前殿,三宝,祖堂,佛堂,走廊,僧房和客房,总共有84座大小亭台楼阁。独特的三层叠瓦门楼显眼。明庆寺自1990年以来被认定为国家历史古迹。
寺庙保留了各种重要的文物,如北传佛教雕像,陈仁宗国王的雕像,被认为是国王的九颗黑色珠子,对联,铭文,皇家法令和古代雕像。小塔名为“血书塔”,是陈仁宗国王留下血书的地方。
每年,寺庙都在农历10月28日至11月3日举办节庆,其中29日上午是彩车游行,农历11月1日是主要庆典,纪念陈仁宗国王的忌日。
Tiếng Pháp (French)
La pagode Minh Khanh, également connue sous le nom de pagode Huong Dai ou pagode Huong, est située dans l’ancien village de Binh Ha, maintenant partie du quartier 6, de la ville de Thanh Ha, du district de Thanh Ha, dans la province de Hai Duong. Appartenant à la secte bouddhiste du Nord, la pagode a été construite pendant la dynastie Ly et a été nommée Minh Khanh par le roi Tran Nhan Tong. La pagode a subi de nombreuses rénovations et reconstructions au fil des siècles, notamment pendant les périodes révolutionnaires et de résistance anti-française.
Les caractéristiques architecturales de la pagode comprennent la Porte des Trois Entrées, la Salle Frontale, les Trois Trésors, la Salle des Ancêtres, la Salle du Bouddha, les couloirs, les quartiers des moines et les maisons d’hôtes, totalisant 84 pavillons de différentes tailles. Le toit unique à trois étages de la Porte des Trois Entrées se distingue. La pagode Minh Khanh a été reconnue comme un Monument Historique National depuis 1990.
La pagode conserve diverses reliques significatives telles que des statues bouddhistes du Nord, une statue du roi Tran Nhan Tong, neuf perles noires censées appartenir au roi, des couplets, des inscriptions, des édits royaux et des statues anciennes. La petite tour appelée “Tour de la Lettre Sanglante” est l’endroit où le roi Tran Nhan Tong a laissé une lettre écrite de son sang.
Chaque année, la pagode organise un festival du 28e jour du 10e mois lunaire au 3e jour du 11e mois lunaire, avec la procession des couleurs le matin du 29e jour et le festival principal le 1er jour lunaire, commémorant l’anniversaire de la mort du roi Tran Nhan Tong.