Đền Quốc Phụ (Chí Linh – Hải Dương)

Đền Quốc Phụ (Chí Linh – Hải Dương)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Nằm ở tả ngạn sông Kinh Thầy, đền thờ Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn (hay còn gọi là đền Quốc Phụ) thuộc địa thôn Nẻo, xã Chí Minh, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dư­ơng (xưa kia thuộc xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh). Đền là một địa danh tâm linh quan trọng và giàu ý nghĩa văn hóa – lịch sử thuộc Chí Linh bát cổ”, được nhiều sử sách ghi nhận. 

Tên gọi “Quốc Phụ” mang ý nghĩa tôn vinh Nhập nội Quốc phụ Th­ượng tể Trần Quốc Chẩn – một biểu tượng của sự che chở và uy quyền trong lòng người dân địa phương. 

Lịch sử và nhân vật

Trần Quốc Chẩn là con trai thứ của Trần Nhân Tông, em của Thái tử Trần Thuyên, người sau là Trần Anh Tông. 

Ông là một nhân vật chính trị, quan viên và là hoàng thân của triều đại nhà Trần dưới thời trị vì của các vua Anh Tông và Minh Tông, được đánh giá là một trong những nhân vật chính trị kiệt xuất, một người tài năng nhưng kết cục cuộc đời lại đầy oan khuất. Trần Quốc Chẩn bị kết tội phản nghịch và bị bỏ đói đến chết. Việc ông qua đời để lại rất nhiều chỉ trích của các sử gia đối với Trần Minh Tông. 

Đến năm Giáp Thân (1341), thời Trần Dụ Tôn, vụ án Trần Quốc Chẩn đư­ợc minh oan hoàn toàn. Triều đình phục chức: Nhập nội Quốc Phụ Thư­ợng Tể cho Trần Quốc Chẩn, trả lại phẩm giá cho ng­ười đã khuất.

Đền Quốc Phụ được lập sau khi ông được minh oan, khôi phục danh dự, chức tước. Đền thờ được xây dựng từ ngôi nhà cũ của ông nên còn gọi là Thượng tể cổ trạch (tức là nhà cổ của quan Thượng tể). Đền đều được các triều đại phong kiến sau này ban sắc phong.

Tương truyền, đền thờ của Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn nổi tiếng linh thiêng. 

Bính Thân, năm thứ 16 (1356). (Nguyên, năm Chí Chính thứ 16).[…]
Tháng 8, mùa thu. Thượng hoàng se mình. 
Thượng hoàng đến chơi đền Huệ Vũ Vương Quốc Trấn; lúc trở về, có con ong vàng đốt phải má bên tả, do đó nằm bệnh.
Lời chua – Đền Quốc Trấn(1): Ở núi Kiệt Đặc, huyện Chí Linh bây giờ vẫn còn.(2)

Bài viết Đền Quốc Phụ trích lại sách Nhân vật lịch sử tỉnh Hải D­ương cũng viết về sự việc này:

Năm Đinh Dậu (1357), Th­ượng hoàng Minh Tông ốm nặng, nguyên do Th­ượng hoàng bị bệnh từ hôm ngự giá đến miền Kiệt Đặc tại Chí Linh, viếng đền thờ Quốc phụ Huệ Võ Đại V­ương, khi ra khỏi đền bị con ong vàng đốt vào má. Từ đó sinh ra ốm lơ lửng mãi không khỏi. Trong tâm trí Minh Tông vẫn không xua nổi vụ án Quốc Chẩn bị hàm oan…
Vua Minh Tông mệt nặng, Dụ Tông cho thái y sắc thuốc nh­ưng Th­ượng hoàng không uống! Nửa đêm th­ượng hoàng kêu to:
– Quốc Phụ thư­ợng tể đấy phải không? Ng­ươi đến đón ta ­?
Ngài Ngự lại thấy một con ong vàng bay quáng quàng trong quầng hoa cải hoa cà ở hai hố mắt.
Mùa xuân, ngày 19, tháng 2 năm Đinh Dậu (1357) thì ngài mất.(3)

Như vậy, có thể thấy, đền Quốc Phụ là ngôi đền có không chỉ linh thiêng mà có lịch sử lâu đời, ít nhất là trước năm 1356.

Kiến trúc cảnh quan

Di tích được xây dựng trên gò đất cao giữa cánh đồng lúa chạy dài theo hướng Bắc – Nam. Theo thuyết “phong thuỷ” đền Quốc Phụ có “Kim Xà” (Rắn Vàng): phía trước có đường ra bến đá ven sông Kinh Thầy, bên trái là cánh đồng Lạng Trì và Ao Vả, tục truyền đây là nơi tắm gội của Trần Quốc Chẩn, bên phải có cánh đồng Giải Phướn, tại đây có di tích Đống Đỏ, có nhiều đống son tự nhiên và phía sau là cánh đồng Đống Lăng.

Năm 1951, giặc Pháp từ bốt Trung Hà (Nam H­ưng – Nam Sách) đã nã pháo vào khu đền chính hòng tiêu diệt cơ sở bí mật kháng chiến của ta làm nhiều hạng mục công trình bị đổ nát, chỉ còn lại một phần Hậu cung và một số đồ thờ đ­ược nhân dân cất giấu từ năm tr­ước. Năm 1953 di tích bị sụp đổ hoàn toàn.

Đến năm 1958, nhân dân địa ph­ương tiếp tục vận động công đức xây lại Hậu cung trên nền móng cũ để ổn định việc sinh hoạt tín ngư­ỡng, tiếp tục tôn vinh người có công với đất n­ước.

Năm 1997 – 1998, thể theo nguyện vọng của đông đảo cán bộ và nhân dân, đ­ược sự nhất trí của các cấp và các ngành chức năng, UBND xã đã tổ chức phát động công đức, huy động mọi nguồn lực tại địa ph­ương khôi phục lại đền Quốc Phụ. Công trình đã đ­ược hoàn thành trong một thời gian ngắn không quá 60 ngày đêm.

Đền được xây dựng theo kiểu chữ nhị gồm 5 gian tiền tế, 3 gian hậu cung, cùng một số hạng mục cổng tam quan, sân đền… Riêng 5 gian tiền tế được dựng bằng khung nhà gỗ cổ ở Hưng Yên. Toàn bộ gian tiền tế và hậu cung được xây tường bao, cột gỗ đỡ xà gồ, lợp ngói đỏ.

Năm 2018, đền Quốc Phụ xuống cấp nghiêm trọng:

Theo báo cáo của phường Chí Minh, di tích này đang xuống cấp nghiêm trọng: 5 gian tiền tế mái ngói bị xô xuống, một số xà gồ bị mối ăn, một số cánh cửa xệ goong và hỏng, tường bao của 5 gian tiền tế bị nứt. Tại 3 gian hậu cung với toàn bộ hệ thống cửa, cửa võng, hoành phi, câu đối, câu đầu, bộ cột, xà gồ, sắc phong, rui mè trên mái đã bị mối ăn nghiêm trọng, nguy cơ làm sập mái của 3 gian nhà hậu cung rất cao.(4)

Sự kiện và lễ hội 

  • Hàng năm theo điển lệ tại đền Quốc Phụ diễn ra hai sự kiện chính:
  • Lễ Đại Kỳ Ph­ước từ ngày 5 đến 8 tháng 3
  • Ngày giỗ Quốc Chẩn 12 tháng 6 âm lịch
  • Lễ hội chính vào mùa xuân.

Trong những ngày này nhân dân địa ph­ương tổ chức r­ước kiệu từ các làng về đền Quốc Phụ tế lễ Quốc Chẩn hết sức trọng thể, thu hút hàng nghìn ng­ười tham gia tạo nên không khí lễ hội tưng bừng khắp một vùng rộng lớn.

Xếp hạng

Di tích Thượng tể cổ trạch được xếp là một trong tám công trình di tích cổ nổi tiếng của huyện Chí Linh xưa. Sử sách gọi là “Chí Linh bát cổ”. 

Căn cứ vào nội dung giá trị lịch sử của di tích và danh nhân, đền Quốc Phụ đã đ­ược Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định số 15/2003/QĐ – BVHTT ngày 14/4/2003 xếp hạng là di tích lịch sử Quốc gia theo quy định của Luật Di sản văn hoá. Đây là di tích thứ 127 của tỉnh Hải D­ương đ­ược xếp hạng bảo vệ.

Chú thích

  1. Trần Quốc Chẩn (có sách chép là Quốc Chân, Quốc Trấn), do đó, đền Quốc Trấn và đền Quốc Phụ là một.
  2. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên – Quyển X, Nxb Giáo Dục – Hà Nội, 1998, tr 284. 
  3. Ban quản lý di tích Chí Linh, Đền Quốc Phụ, Website dulichchilinh.com, xem ngày 11/09/2024.
  4. Nguyễn Việt, Đền Quốc Phụ “kêu cứu”, Báo Điện tử của tỉnh Hải Dương, số ra ngày 18/11/2018. 

Tham khảo

  • Ngô Sĩ Liên (1993), Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội
  • Ban quản lý di tích Chí Linh, Đền Quốc Phụ, Website dulichchilinh.com.
  • Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (1998), Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên – Quyển X, Nxb Giáo Dục – Hà Nội.
  • Thơm Quang, Linh thiêng đền thờ Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn, Báo Điện tử của tỉnh Hải Dương, số ra ngày 22/12/2021.
  • Bản dịch của Ban Cố Văn (1970), Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh, tập Thượng, Ủy ban dịch thuật Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa xuất bản.
  • Nguyễn Việt, Đền Quốc Phụ “kêu cứu”, Báo Điện tử của tỉnh Hải Dương.

__________________________

Các ngôn ngữ khác

1. English

Name and Geographical Location

Located on the left bank of the Kinh Thay River, Quoc Phu Temple (also known as the Temple of Hue Vu Dai Vuong Tran Quoc Chan) is situated in Neo Hamlet, Chi Minh Commune, Chi Linh Town, Hai Duong Province (formerly Kiet Dac Commune, Chi Linh District). The temple is a sacred cultural landmark, one of the “Chi Linh Bat Co”—the eight ancient famous relics of Chi Linh recorded in various historical sources.

The name “Quoc Phu” (“Father of the Nation”) honors Tran Quoc Chan, the Internal Grand Preceptor of the Tran Dynasty, symbolizing protection, loyalty, and righteousness in Vietnamese history.

History and Figures

Tran Quoc Chan was the second son of Emperor Tran Nhan Tong, and younger brother of Crown Prince Tran Thuyen (later Emperor Tran Anh Tong).

He was a talented statesman and royal nobleman under the reigns of Anh Tong and Minh Tong, praised for his integrity and political acumen but met an unjust fate—falsely accused of treason and executed by starvation.

In Year 1341 (Giap Than) under Tran Du Tong, his case was fully redressed; the royal court restored his title Internal Grand Preceptor (Nhap Noi Quoc Phu Thuong Te) and rehabilitated his honor.

After his vindication, the temple was built on the foundation of his former residence—hence called “Thuong Te Co Trach” (The Ancient Residence of the Grand Preceptor)—and was granted imperial decrees of worship throughout successive dynasties.

Legends say the temple of Hue Vu Dai Vuong Tran Quoc Chan possesses great spiritual power.

Historical records note that in 1356, Emperor Tran Minh Tong, after visiting the temple at Kiet Dac, was stung by a yellow bee on the left cheek, fell ill, and never recovered. Many historians regarded this as retribution for the injustice suffered by Tran Quoc Chan.

Thus, the temple not only embodies centuries of faith but also serves as a testament to an episode of moral justice within Vietnamese royal history.

Architecture and Landscape

The temple stands on a high mound in the middle of rice fields stretching north–south. According to geomantic tradition (phong thuy), Quoc Phu Temple lies on the “Golden Serpent” site: a sacred land with the Kinh Thay River in front, Lang Tri Field and Ao Va Pond on the left, and Giai Phuon Field with Dong Do Mound to the right.

During the First Indochina War (1951), French artillery from the Trung Ha outpost destroyed most of the temple, leaving only the rear sanctuary and several hidden sacred objects. In 1953, the monument collapsed completely.

In 1958, local villagers rebuilt the Hau Cung (rear sanctuary) on the old foundation to continue their worship traditions.

In 1997–1998, under community initiative and government approval, the temple was fully restored within 60 days, featuring five front compartments (Tien Te), three rear ones (Hau Cung), a triple gate (Tam Quan), and a courtyard.

In 2018, the monument faced severe deterioration: collapsed roof tiles, termite damage to beams, cracked walls, and subsiding pillars threatening the structural safety of the rear sanctuary.

Events and Festivals

Two main events are held annually at Quoc Phu Temple:

  • The Great Blessing Festival (Dai Ky Phuoc) from the 5th to the 8th day of the 3rd lunar month.
  • The Commemoration of Tran Quoc Chan on the 12th day of the 6th lunar month.

Festivities attract thousands of pilgrims, with processions from surrounding villages, incense offerings, and solemn rituals celebrating the Duke’s loyalty and virtue.

Classification

Thuong Te Co Trach (The Ancient Residence of the Grand Preceptor) was recognized as one of the Eight Ancient Relics of Chi Linh (Chi Linh Bat Co).

By Decision No. 15/2003/QD-BVHTT, dated April 14, 2003, the Ministry of Culture and Information classified Quoc Phu Temple as a National Historical Relic—the 127th protected heritage of Hai Duong Province.


2. Français

Nom et Localisation géographique

Situé sur la rive gauche de la rivière Kinh Thay, le Temple Quoc Phu (ou Temple du Grand Roi Hue Vu Tran Quoc Chan) se trouve dans le hameau Neo, commune Chi Minh, ville de Chi Linh, province de Hai Duong. Ce temple sacré est l’un des “Chi Linh Bat Co”, les huit anciens monuments les plus réputés de la région.

Le nom « Quoc Phu » — littéralement « Père de la Nation » — honore Tran Quoc Chan, Grand Précepteur du Royaume sous la dynastie Tran, symbole de protection et de loyauté.


Histoire et Personnages

Tran Quoc Chan, second fils de l’empereur Tran Nhan Tong et frère cadet du prince héritier Tran Thuyen (futur Anh Tong), fut un éminent homme d’État des règnes d’Anh Tong et de Minh Tong.

Victime d’une fausse accusation de trahison, il mourut de faim en prison, suscitant la compassion des générations suivantes.

En 1341 (année Giap Than), sous Tran Du Tong, il fut réhabilité et retrouva son titre de Grand Précepteur intérieur (Nhap Noi Quoc Phu Thuong Te).

Le temple fut alors érigé sur son ancienne demeure, appelé “Thuong Te Co Trach”, et reçut de nombreux décrets impériaux de consécration.

Les chroniques rapportent qu’en 1356, l’empereur Tran Minh Tong visita le temple de Kiet Dac et, piqué au visage par une abeille dorée, tomba malade et mourut peu après — un signe céleste, dit-on, de la justice restaurée du Quoc Phu.

Architecture et Paysage

Le temple se dresse sur une butte élevée au milieu des rizières, orientée nord–sud, selon le feng shui du Serpent d’or (Kim Xa). Devant coule la rivière Kinh Thay, à gauche s’étendent les champs de Lang Tri et l’étang Ao Va, à droite les champs de Giai Phuon et la colline Dong Do.

Bombardé par les troupes françaises en 1951, le sanctuaire fut presque détruit ; en 1958, les villageois reconstruisirent la salle arrière (Hau Cung). Entre 1997 et 1998, il fut restauré en 60 jours, comportant 5 travées avant (Tien Te), 3 arrière, un portail triple (Tam Quan), et une cour pavée.

En 2018, le monument présenta de graves dégradations structurelles : toitures effondrées, poutres rongées, murs fissurés.

Événements et Festivals

Deux grandes fêtes sont célébrées chaque année :

  • La Fête du Grand Bénédiction (Dai Ky Phuoc), du 5 au 8 du 3e mois lunaire ;
  • La Commémoration de Tran Quoc Chan, le 12 du 6e mois lunaire.

Des processions, prières et offrandes attirent des milliers de pèlerins dans une ambiance empreinte de ferveur et de reconnaissance.

Classement

Le Thuong Te Co Trach, « demeure ancienne du Grand Précepteur », figure parmi les Huit monuments anciens de Chi Linh (Chi Linh Bat Co).

Par la décision n° 15/2003/QD-BVHTT du 14 avril 2003, le Ministère de la Culture et de l’Information l’a classé monument historique national, 127e site protégé de la province de Hai Duong.


3. 中文(繁體)

名稱與地理位置

位於京臺河左岸之國父廟(又稱惠武大王陳國瑱祠),坐落於海陽省芝陵市至明社寧村(舊屬傑特社芝陵縣)。此祠為芝陵「八古」之一,為越南著名之靈蹟與歷史文化遺址。

歷史與人物

陳國瑱,乃陳仁宗之次子,安宗皇弟,為陳朝名臣,忠直而才幹卓越。於英宗、明宗兩朝為國之棟樑,後遭誣以叛罪,餓死獄中。

至陳裕宗嘉申元年(1341),朝廷昭雪冤案,復封為入內國父上宰。其後於舊宅建祠,稱上宰古宅,歷代皆奉祀,屢蒙敕封。

傳曰:明宗嘗幸祠,被金蜂螫頰,自此染疾而終。此事載於史,見其靈驗。

建築與景觀

祠建於高阜之上,南北向,前臨京臺河,左有朗池、瓦塘,右有解坯之田及東朶岡。依風水稱「金蛇之地」,靈氣聚焉。

一九五一年法軍炮擊,祠幾盡毀;一九五八年鄉民重建後殿;一九九七至一九九八年再度修復,歷時六十日。今殿構「二」字形,前殿五間,後殿三間,並有三門、庭院諸設。

二〇一八年屋瓦傾頹,梁柱蟻蝕,結構危險,亟待維修。

事件與節慶

每年舉行二大祭典:

  • 大祈福節:農曆三月初五至初八;
  • 陳國瑱祭日:農曆六月十二。

屆時諸村民眾齊集,擔輿迎神,香火鼎盛,場面隆重。

分類

上宰古宅祠為芝陵「八古」之一。

越南文化信息部於二〇〇三年四月十四日以第 15/2003/QD-BVHTT 號文列為國家歷史遺跡,為海陽省第127號受保護遺產。

Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)