Thân thế
Ni sư Diệu Nhân (1041 – 1113), là thiền sư đời thứ 17, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Ni sư Diệu Nhân là đệ tử của Thiền sư Chân Không nối pháp đời thứ 17 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi; là người tu hành đắc đạo, tài đức vang dội triều dã, công đức sánh ngang với hàng Tăng chúng; xứng danh là vị Tổ Sư Ni tiêu biểu nhất của Phật giáo Việt Nam.
Ni sư thế danh Ngọc Kiều là trưởng nữ của Phụng Càn Vương. Thuở nhỏ bà thiên tư thuần hậu, ngôn hạnh đoan trang, được vua Lý Thánh Tông nuôi trong cung. Lớn lên Vua gả cho người họ Lê, làm quan Châu mục ở Chân Đăng. Chồng mất, bà tự thệ thủ tiết không chịu tái giá.
Sở ngộ và sự tu tập
Một hôm bà than: Ta xem tất cả pháp trong thế gian như giấc mộng, huyễn ảo, huống là các thứ phù vinh mà đáng trông cậy sao?
Thế rồi bà đem tất cả tư trang ra bố thí, cạo tóc xuất gia, đến Thiền sư Chân Không ở làng Phù Đổng xin thọ giới Bồ-tát, và học hỏi tâm yếu. Thiền sư Chân Không cho bà pháp danh Diệu Nhân và dạy trụ trì Ni viện Hương Hải (nay gọi là chùa Linh Ứng hiện nay nằm bên cạnh chùa Kiến Sơ) ở làng Phù Đổng, Tiên Du..
Hằng ngày, bà gìn giữ giới luật và hành thiền được chánh định, là bậc mẫu mực trong Ni chúng thời ấy. Có người đến cầu học, bà thường dạy họ tu tập Đại thừa, dạy rằng: Chỉ tánh mình trở về nguồn, đốn tiệm liền tùy đó mà vào.
Thường ngày, bà chỉ thích ngồi lặng lẽ, có bệnh kỵ thanh sắc, ngôn ngữ.
Có học giả hỏi: Tất cả chúng sanh bệnh nên ta bệnh, tại sao lại kỵ sắc thanh?
Bà nương theo kinh đáp:
Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng âm thanh cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Không thể thấy Như Lai.
(Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.)
Lại hỏi: Tại sao ngồi yên?
Bà đáp: Xưa nay không đi.
Lại hỏi: Thế nào chẳng nói?
Đáp: Đạo vốn không lời.
Năm Hội Tường Đại Khánh thứ tư (1113), ngày mùng 1 tháng 6, bà có bệnh, nói kệ dạy chúng:
Sanh già bệnh chết,
Xưa nay lẽ thường.
Muốn cầu thoát ra,
Mở trói thêm ràng.
Mê đó tìm Phật,
Lầm đó cầu thiền.
Phật, Thiền chẳng cầu,
Uổng miệng không lời.
(Thị tịch kệ – Sinh lão bệnh tử
Sanh lão bệnh tử
Tự cổ thường nhiên
Dục cầu xuất ly
Giải phược thiêm triền.
Mê chi cầu Phật
Hoặc chi cầu thiền Thiền,
Phật bất cầu
Uổng khẩu vô ngôn.)
(示寂偈-生老病死
生老病死,
自古常然。
欲求出離,
解縛添纏。
迷之求佛,
惑之求禪。
禪佛不求,
杜口無言。)
Nói kệ xong, bà cạo tóc, tắm rửa thân thể, ngồi kiết-già viên tịch, thọ 72 tuổi.
Bình chú
Giáo điển Đại thừa nói đến, chính là dựa vào các Kinh Duy Ma Cật và Kim Cương. Ni sư thường bảo “Chỉ trở về nguồn tự tánh thì đốn tiệm có thể tùy đó mà thể nhập, hãy thường tịch tịnh, tránh xa thanh sắc ngôn ngữ”. Khi bảo thế, thì có một môn đồ đứng lên hỏi: “Tất cả chúng sanh bệnh, cho nên ta bệnh, thì làm sao khi nào cũng tránh xa thanh sắc?”. Rõ ràng đặt câu hỏi như thế là dựa vào quan điểm của Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh quyển Trung trong Đại Tạng Kinh(9): “Dĩ nhất thiết chúng sanh bệnh, thị cố ngã bệnh” (vì hết thảy chúng sanh bệnh, cho nên ta bệnh).
Kinh Duy Ma Cật xuất hiện rất sớm trong lịch sử Phật giáo nước ta, ngay từ những thế kỷ II, thứ III., mà vết tích ta có thể tìm thấy trong Kinh Tạp Thí Dụ quyển Hạ trong Đại Tạng Kinh(10). Tuy nhiên vào thời điểm ấy, tư tưởng được vận dụng là tư tưởng xem thân thể và sự sống của mỗi con người chúng ta dễ tan vỡ giống như bèo bọt. Vì thế, chúng ta không nên bám chặt vào tấm thân bèo bọt đó một cách mù quáng để hưởng thụ, để lo vun vén cho bản thân cá nhân, mà quên đi quyền lợi của nhiều người khác. Nói cách khác, thấy được tính dễ tan vỡ của xác thân mình để làm điều gì đó có lợi cho mình và người.
Tư tưởng này đã được truyền bá cho đến thời Diệu Nhân và đã có tác động nhất định lên quyết định xuất gia của cô công chúa cành vàng lá ngọc. Sau khi chồng chết, cô đã “tự thề ở vậy giữ nghĩa không tái giá”, chắc hẳn để nuôi con cho lớn khôn. Đến lúc đã trưởng thành trong Thiền Uyển Tập Anh đã ghi lời than của Ni sư : “Ta xem thế gian hết thảy các pháp cũng như mộng huyễn, huống gì bọn phồn vinh có thể nương tựa được sao !”.
Đối với Ni sư chỉ đi tìm Phật, học thiền. Thiền Phật chẳng cần tìm, ngậm miệng thì biết thôi. Nói thế, Diệu Nhân đã kế thừa cả một truyền thống học “Lý thiền Việt Nam”, tối thiểu bắt đầu từ thời Cảm Thành (?-860) cho tới Sùng Phạm (1004-1087). Cảm Thành đã cho rằng Phật ở khắp mọi nơi, còn Sùng Phạm thì bảo chân tâm là “đói ăn khát uống”. Với một quan điểm như thế về Phật, về tâm thì có gì phải nhọc công đi tìm, có gì phải cho sống chết là việc lớn.
Tham khảo
- Sách “Thiền sư Việt Nam”, Thích Thanh Từ, DL 1999 – PL 2543
- Sách “Thiền uyển tập anh”, Lê Mạnh Phát, Viện nghiên cứu Phật học, Nhà xuất bản Văn học, năm 1990
- https://thuvienhoasen.org/