Chùa Văn Hòa (Kiến Thụy, Hải Phòng)

Chùa Văn Hòa (Kiến Thụy, Hải Phòng)

Thông tin cơ bản

Chùa Văn Hòa, tên chữ là Phổ Chiếu tự, tọa lạc trên diện tích rộng khoảng 4.000m2, tại thôn Văn Hòa, xã Hữu Bằng, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Trước năm 1945 là xã Văn Hòa, tổng Văn Hòa, phủ Kiến Thụy, tỉnh Kiến An. Trước năm 1813 là xã Văn Lan, tổng Văn Lan, huyện An Lão, phu Kinh Môn, trấn Hải Dương. Sau kiêng húy, triều Nguyễn đổi thành Văn Hòa.

Các tư liệu lịch sử cho biết, Phổ Chiếu tự được xây dựng từ thời Lê sơ. Đến thời Mạc (thế kỷ XVI), vào đời vua Mạc Mậu Hợp, niên hiệu Diên Thành (1578-1585), chùa Văn Hoà đã được các thân vương triều Mạc đó góp công của trùng tu nên trở thành một ngôi chùa lớn đủ tam quan, gác chuông, Phật điện, nhà tăng, nhà khách, nội ngoại tự. Vào các đời vua Lê Kính Tông, niên hiệu Hoằng Định (1600-1619), Lê Dụ Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705-1729), Minh Mạng sơ niên (1820), Thành Thái sơ niên (1889), chùa Văn Hoà được trùng tu, sửa chữa. Đặc biệt, Thái hoàng Thái hậu nhà Mạc Vũ Thị Ngọc Toàn đã cung tiến tiền tu bổ chùa Phổ Chiếu.

Hiện vật

Hiện nay, chùa còn một tấm bia ghi: Thái Hoàng Thái Hậu thời nhà Mạc đem sản vật tới xây dựng nhà chùa và trên mẫu ruộng lưu lại để người quản lý lửa hương. Năm 1989, chùa Văn Hoà tiếp tục được trùng tu.

Các di vật hiện còn đôi câu đối, cho biết chùa Văn Hoà thuộc chốn tổ Đông Khê. Chùa hiện còn lưu giữ đư nhiều di vật cổ quý như tượng A-di-đà, Đức Ông, Ngọc Hoàng thượng đế, Quán Âm, các tấm bia ký mang pho cách nghệ thuật thời Mạc, thời Hậu Lê cũng như thời Nguyễn sau này.

Tượng A-di-đà có kích thước lớn hơn hẳn so với các pho tượng khác trên Phật điện, cao 1,42m, tọa thiền trên đài sen cao 21cm. Tượng mặc áo cà sa với những nếp gấp rất đều nhau ở hai bên thân, hai bên cánh tay và hai bị chân, giữa ngực áo lộ rõ dải bông cúc mãn khai.

Tượng Quán Âm đứng trên đài sen, cao 1,4m. Bên cạnh bộ tượng Tam Thế, A-di-đà, Quán Âm. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ được hệ thống tượng pháp khác như tương Ngọc Hoàng ngự trên ngai rồng trong trang phục hoàng đế, tượng Nam Tào, Bắc Đẩu trong tư thế thiết triều, tòa Cửu Long và Thích Ca Sơ Sinh, tượng Quán Âm Tống Tử. Bên cạnh đó, chùa Văn Hoà còn bảo tồn được hai pho tượng bằng đá xanh, chế tác từ khối đá theo lối tượng tròn với những đường nét tinh xảo. Theo nhận định của giới nghiên cứu mỹ thuật cổ, hai pho tượng đá này mang phong cách nghệ thuật thời Mạc, thế kỷ XVI.

Lịch sử

Các tư liệu lịch sử cho biết, Phổ Chiếu tự được xây dựng từ thời Lê sơ. Đến thời Mạc (thế kỷ XVI), vào đời vua Mạc Mậu Hợp, niên hiệu Diên Thành (1578-1585) chùa Văn Hoà đã được các thân vương triều Mạc đóng góp công của trùng tu nên trở thành một ngôi chùa lớn có đủ tam quan, gác chuông, Phật điện, nhà tăng, nhà khách nội ngoại tự.

Vào các đời vua Lê Kính Tông, niên hiệu Hoằng Định (1600-1619), Lê Dụ Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705-1729), Minh Mạng sơ niên (1820), Thành Thái sơ niên (1889), chùa Văn Hoà được trùng tu, sửa chữa. Đặc biệt, Thái hoàng Thái hậu nhà Mạc Vũ Thị Ngọ Toàn đã cung tiến tiền tu bổ chùa Phổ Chiếu. Hiện nay chùa còn một tấm bia ghi: Thái Hoàng Thái Hậu thờ nhà Mạc đem sản vật tới xây dựng nhà chùa và trên 2 mẫu ruộng lưu lại để người quản lý lửa hương. Năm 1989, chùa Văn Hoà tiếp tục được trùng tu.

Tục truyền, Hòa thượng Lê Thiện trụ trì chùa Đông Khê đã đưa môn đệ của Ngài ở chốn tổ Đông Khê về tru trì tại chùa Văn Hòa. Phía bên phải vườn chùa có khu mộ tháp – nơi đặt xá lị của các sư tổ trụ trì là Mahasa môn Thích Đăng Đăng (thế danh Tự Hài), Tỳ kheo Tu Tính Tịnh, Thích Lãng Lãng, tự Phổ Giới, Thích Tịch Tín, Thích Đường Đường

Năm 1997 đến năm 2002 đã xây dựng nhà Tổ, nhi tăng, nhà khách. Năm 2013, chùa đang xây dựng nhà tứ ân – nơi đặt ban thờ Đức Địa Tạng và ban thờ vong. Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chùa Văn Hoà đã bị tàn phá hết sức nặng nề. Ngôi chùa đã trở thành cơ sở nuôi giấu, bảo vệ cán bọ. du kích. Thực dân Pháp đã nhiều lần đưa quân đến chùa tàn phá gác chuông, đốt trụi vườn chùa, đập nát nhiều bia đá. Trên quả chuông đồng đúc năm Minh Mạng sơ niên (1820) còn lưu một vết đạn của quân Pháp xuyên thủng thân chuông.

Năm 1996, chùa Văn Hòa đã được Bộ Văn hóa – thông tin xếp hạng là Di tích Lịch sử – Văn Hóa cấp Quốc gia.

Tham khảo

  • Sách “Chùa Cổ Hải Phòng” (tập 1 – NXB Hải Phòng)

__________________

Các ngôn ngữ khác

1. Tiếng Anh (English)

Name and Geographical Location

Van Hoa Pagoda, formally Pho Chieu Tu, stands on a site of about 4,000 m² in Van Hoa hamlet, Huu Bang commune, Kien Thuy district, Hai Phong city. Before 1945 this area was Van Hoa commune, Van Hoa canton, Kien Thuy prefecture, Kien An province. Before 1813 it was Van Lan commune, Van Lan canton, An Lao district, Kinh Mon prefecture, Hai Duong principality; after a taboo on royal names, the Nguyen dynasty renamed it Van Hoa.

History

Historical sources indicate that Pho Chieu Tu was founded in the Early Le period. In the Mac era (16th century), during the reign of King Mac Mau Hop, Diên Thanh reign (1578–1585), Van Hoa Pagoda was renovated with contributions from Mac princes, becoming a large complex complete with three-entrance gate, bell tower, Buddha hall, monks’ quarters, guesthouse, and inner–outer precincts. Further restorations took place under Le Kinh Tong (Hoang Dinh reign, 1600–1619), Le Du Tong (Vinh Thinh reign, 1705–1729), the early Minh Mang years (from 1820), and the early Thanh Thai years (from 1889). Notably, Grand Empress Dowager of the Mac, Vu Thi Ngoc Toan, donated funds to repair Pho Chieu Tu.

Artefacts

A surviving stele records that the Mac Grand Empress Dowager provided resources to build the pagoda and endowed rice fields to sustain incense offerings. Van Hoa Pagoda underwent another restoration in 1989.

Couplet inscriptions identify Van Hoa as belonging to the Dong Khe patriarchal lineage. The pagoda preserves valuable antiquities such as statues of Amitabha, the Holy Guardian (Duc Ong), the Jade Emperor, Avalokitesvara, and several inscribed stelae bearing Mac-, Late Le–, and Nguyen-style artistry.

The Amitabha statue is markedly larger than the other icons on the main altar: height 1.42 m, seated on a 21 cm lotus base. The kasaya shows evenly spaced pleats along the sides, arms, and legs, with a fully blossomed chrysanthemum sash across the chest.

The standing Avalokitesvara on a lotus pedestal measures 1.4 m in height. Alongside the Tam The (Three Times Buddhas) and Amitabha–Avalokitesvara group, the pagoda houses other ensembles: the Jade Emperor enthroned on a dragon seat in imperial garb; the Southern and Northern Dipper deities in court audience; the Nine Dragons throne with Infant Shakyamuni; and Avalokitesvara Bestowing Sons. The site also preserves two finely carved round-sculpture statues in green stone, identified by art historians as Mac style (16th century).

Further Historical Notes

Tradition relates that Venerable Le Thien, abbot of Dong Khe Patriarchal Pagoda, sent his disciples from the Dong Khe patriarchal seat to serve as abbots at Van Hoa. To the right of the pagoda garden stands a stupa field containing the relic stupas of successive abbots: Mahasaman Thich Dang Dang (lay name Tu Hai), Bhikkhu Tu Tinh Tinh, Thich Lang Lang (style Pho Gioi), Thich Tich Tin, Thich Duong Duong, and others.

From 1997 to 2002, the Ancestral Hall, nuns’ quarters, and guesthouse were built; in 2013, the Tu An Hall (Hall of Four Gratitudes) was under construction to enshrine Ksitigarbha and memorial tablets. During the anti-French resistance, the pagoda was heavily damaged while serving as a revolutionary base that sheltered cadres and guerrillas; the French repeatedly destroyed the bell tower, burned the garden, and smashed stelae. A bullet hole from French gunfire still pierces the bronze bell cast in the early Minh Mang years (1820).

In 1996, Van Hoa Pagoda was designated a National Historical and Cultural Relic by the Ministry of Culture and Information.

Reference

Chua Co Hai Phong (Ancient Pagodas of Hai Phong), vol. 1, Hai Phong Publishing House.


2. Tiếng Pháp (Français)

Nom et Situation Géographique

La Pagode Van Hoa, dont le nom scriptural est Pho Chieu Tu, s’étend sur environ 4 000 m² au hameau Van Hoa, commune Huu Bang, district de Kien Thuy, ville de Hai Phong. Avant 1945 : commune Van Hoa, canton Van Hoa, préfecture de Kien Thuy, province de Kien An. Avant 1813 : commune Van Lan, canton Van Lan, district d’An Lao, préfecture de Kinh Mon, territoire de Hai Duong ; après un tabou dynastique, la dynastie Nguyen la renomma Van Hoa.

Histoire

Les sources indiquent que Pho Chieu Tu fut fondée sous les premiers Le. À l’époque Mac (XVIe siècle), sous le règne de Mac Mau Hop (ère Diên Thanh, 1578–1585), la Pagode Van Hoa fut restaurée grâce aux contributions des princes Mac, devenant un grand ensemble doté d’un portail à trois baies, d’un clocher, d’un sanctuaire bouddhique, de logements monastiques, d’une maison des hôtes et d’enceintes intérieure et extérieure. D’autres restaurations eurent lieu sous Le Kinh Tong (ère Hoang Dinh, 1600–1619), Le Du Tong (ère Vinh Thinh, 1705–1729), au début du règne de Minh Mang (dès 1820) et au début de celui de Thanh Thai (dès 1889). La Grande Impératrice douairière des Mac, Vu Thi Ngoc Toan, fit notamment don de fonds pour restaurer Pho Chieu Tu.

Objets

Une stèle subsistante atteste que la Grande Impératrice douairière Mac apporta des ressources pour la construction de la pagode et dota des rizières afin d’entretenir l’encens. En 1989, la Pagode Van Hoa fut à nouveau restaurée.

Des distiques renseignent l’appartenance de Van Hoa au foyer patriarcal de Dong Khe. La pagode conserve des antiquités précieuses : statues d’Amitabha, du Saint Gardien (Duc Ong), de l’Empereur de Jade, d’Avalokiteshvara, ainsi que des stèles dont le style relève des époques Mac, Le tardifs et Nguyen.

La statue d’Amitabha, nettement plus grande que les autres images de l’autel principal, mesure 1,42 m ; elle est assise sur un lotus de 21 cm. La robe (kasaya) présente des plis réguliers sur les flancs, les bras et les jambes, et une guirlande de chrysanthèmes pleinement épanouis traverse la poitrine.

La statue d’Avalokiteshvara debout sur lotus mesure 1,4 m. Aux côtés des ensembles Tam The (Trois Bouddhas des Temps) et Amitabha–Avalokiteshvara, on trouve l’Empereur de Jade trônant sur un siège-dragon en habits impériaux ; les divinités des Constellations du Sud et du Nord en audience ; le Trône des Neuf Dragons avec le Bouddha Shakyamuni nouveau-né ; et Avalokiteshvara Donnant des Enfants. Deux statues en pierre verte, sculptées en ronde-bosse avec une grande finesse, sont attribuées par les historiens de l’art au style Mac (XVIe siècle).

Annotations historiques complémentaires

La tradition rapporte que le vénérable Le Thien, abbé de la pagode patriarcale de Dong Khe, envoya ses disciples y assurer l’abbatiat à Van Hoa. À droite du jardin s’élève un champ de stūpas abritant les reliques d’abbés successifs : Mahasaman Thich Dang Dang (nom civil Tu Hai), le bhikkhu Tu Tinh Tinh, Thich Lang Lang (titre Pho Gioi), Thich Tich Tin, Thich Duong Duong, etc.

De 1997 à 2002 furent construits la Maison des Ancêtres, le quartier des nonnes et la maison des hôtes ; en 2013, la Maison des Quatre Gratitudes (Tu An) était en chantier pour y installer Ksitigarbha et l’autel des défunts. Durant la résistance anti-française, la pagode, base révolutionnaire, subit de lourdes destructions : clocher démoli, jardin incendié, stèles brisées. Une balle française a percé la cloche de bronze coulée au début du règne de Minh Mang (1820).

En 1996, la Pagode Van Hoa a été classée Monument Historique et Culturel National par le ministère de la Culture et de l’Information.

Référence

Chua Co Hai Phong (Pagodes anciennes de Hai Phong), vol. 1, Éditions Hai Phong.


3. Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

文和寺(字名「普照寺」)坐落于海防市建瑞县侯榜社文和村,占地约4,000平方米。1945年以前隶属建瑞府文和总文和社、建安省;1813年以前为海阳省京门府安老县文兰总文兰社,因避讳,阮朝改名为「文和」。

历史

史料记载,普照寺创建于黎初时期。至莫朝(十六世纪),莫茂洽在位之延成年间(1578—1585),文和寺由莫氏诸王出资出力重修,遂成规模宏大的寺院,具三门、钟阁、佛殿、僧舍、客堂、内外两重院落。其后又历经重修:黎敬宗弘定年间(1600—1619)、黎裕宗永盛年间(1705—1729)、明命初年(自1820起)、成泰初年(自1889起)。莫朝太皇太后武氏玉全亦捐资修葺普照寺。

文物

现存碑刻记述:莫朝太皇太后输将物资建寺,并留置田亩以供香火之资。1989年文和寺再度修复。

楹联显示文和寺隶属东溪祖庭。寺内保存多件珍贵古物:阿弥陀佛、德翁、玉皇上帝、观音等造像,以及具莫、后黎与阮代艺术风格之碑刻。

阿弥陀像较诸诸像尤巨:高1.42米,结跏趺坐于高21厘米之莲台上。袈裟于身侧、臂侧与腿部褶纹匀称,胸前饰满开菊花纹带。

立像观音高1.4米。除三世佛、阿弥陀—观音组像外,尚有玉皇乘龙座之帝装像、南斗北斗朝会像、九龙座与释迦初生像、送子观音等。另存两尊青石圆雕,刀法精妙,美术史界定为莫式十六世纪作品。

补充史事

相传东溪寺住持黎善禅师曾遣其门人自东溪祖庭来文和寺住持。寺园右侧为塔林,安置历任住持舍利:摩诃沙门释登登(俗名自咳)、比丘修性静、释朗朗(号普戒)、释寂信、释堂堂等。

1997—2002年间建成祖堂、尼僧寮与客堂;2013年兴建「四恩堂」,奉祀地藏菩萨并设往生位。法属时期侵略战争中,文和寺作为革命据点屡遭破坏:钟阁被毁、寺园被焚、多方碑石被击碎。铸于明命初年的铜钟(1820)至今尚存一处法军子弹贯穿之孔。

1996年,文和寺被越南文化—信息部列为国家级历史文化遗迹。

参考资料

《海防古寺》(第一卷,海防出版社)。

4.8/5 (6 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)