Chùa Thầy (Thiên Phúc tự – Quốc Oai, Hà Nội)

Chùa Thầy (Thiên Phúc tự – Quốc Oai, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Thầy, tên chữ Thiên Phúc tự, tọa lạc tại hai thôn Đa Phúc và Thụy Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai. Sau đợt điều chỉnh địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Quốc Oai, Thành phố Hà Nội. Khởi nguyên nơi đây chỉ là thảo am Hương Hải chốn Thiền sư Từ Đạo Hạnh tu luyện, theo thời gian chùa dần trở thành một trung tâm Phật giáo và tín ngưỡng lớn của vùng. Dân gian gọi là chùa Thầy để tôn kính Ngài. Ngoài ra, còn được biết đến với các tên chùa Sài, chùa Cả và Phật Tích tự. 

Lịch sử và nhân vật

Phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng chùa Thầy được xây dựng vào thời Lý Nhân Tông (1072 – 1132). Lịch sử xây dựng của chùa có thể chia thành bốn giai đoạn chính. 

Giai đoạn khởi nguyên của chùa Thầy tính từ trước khi Thiền sư Từ Đạo Hạnh xuất hiện đến cuối thế kỷ XI, khi nơi đây mới chỉ là một am nhỏ mang tên Hương Hải am, do dân làng dựng lên để thờ Phật. Đến cuối thế kỷ XI – đầu thế kỷ XII, Thiền sư Từ Đạo Hạnh, thuộc thế hệ thứ 12 của phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đã về tu hành, khai sơn và biến nơi đây thành một trung tâm Phật giáo quan trọng. Chùa Thầy được khởi dựng khoảng các năm 1107–1108 và hoàn thiện trước năm 1109, thời điểm Thiền sư cho đúc đại hồng chuông. Bài minh trên chuông do đệ tử Huệ Hưng soạn năm 1109 là chứng cứ xác thực về niên đại hình thành chùa.

Từ thời Lê Sơ đến Nguyễn, chùa nhiều lần bị tàn phá và trùng tu. Đầu thế kỷ XV, chùa hư hại nặng trong thời kỳ giặc Minh xâm lược. Vua Lê Hiến Tông (1497–1504) cho trùng tu chùa Thiên Phúc để tưởng nhớ công đức vua Lý Thần Tông; bệ tượng Lý Thần Tông cuối thế kỷ XV còn lưu giữ là di vật tiêu biểu của giai đoạn này. Năm Đại Chính thứ 9 (1538), bà Thái Chiêu Nghi Nguyễn Thị Ngọc Phương cùng gia đình quyên góp trùng tu Thủy Các và san bổ kinh Phật; đến năm 1570 dân làng tiếp tục sửa chữa chùa, tô lại tượng Phật. Năm 1602, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan cho xây dựng hai cây cầu Nhật Tiên và Nguyệt Tiên. Thế kỷ XVII là thời kỳ “chấn hưng Phật giáo”, chùa Thầy được đại trùng tu trong khoảng 1656–1666, hình thành cụm kiến trúc chính ba nếp nhà song song, tạo nên diện mạo cơ bản còn giữ đến ngày nay. Sang cuối thế kỷ XVIII (1739–1782; 1794), chùa tiếp tục được giới quý tộc và nhân dân cả nước đóng góp tu sửa nhiều hạng mục.

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, năm 1957 Nhà nước tiến hành trùng tu chùa Thầy theo nguyên tắc khoa học bảo tồn. Từ đó đến nay, di tích được tu bổ định kỳ; năm 1994 diễn ra một đợt trùng tu lớn với nguồn kinh phí đáng kể, góp phần gìn giữ diện mạo tổng thể của quần thể.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vua Lý Nhân Tông khi đã cao tuổi mà chưa có con trai nối ngôi nên xuống chiếu chọn con trong tôn thất lập làm Hoàng tử. Em vua là Sùng Hiền Hầu cũng chưa có con trai. Một lần, nhà sư Từ Đạo Hạnh ở núi Sài Sơn đến chơi, Sùng Hiền Hầu bày tỏ mong muốn cầu tự. Đạo Hạnh dặn: “Bao giờ phu nhân sắp đến ngày sinh thì báo cho tôi biết trước để cầu khấn với sơn thần”. Ba năm sau, phu nhân Đỗ Thị mang thai nhưng trở dạ mãi không sinh được, Sùng Hiền Hầu lập tức báo tin. Đạo Hạnh liền tắm rửa, thay áo, vào hang núi trút xác mà viên tịch. Cùng lúc đó, phu nhân hạ sinh con trai, đặt tên là Lý Dương Hoán; lên hai tuổi được lập làm Hoàng tử (1117) và sau này lên ngôi vua (1128), tức Lý Thần Tông, được xem là hậu thân của Từ Đạo Hạnh.

Mục Sơn Linh Chí Lược trong Sài Sơn thắng tích tạp kỷ do sư Tổ Huệ Giác ghi chép lại còn kể rằng khi 21 tuổi, vua Nhân Tông mắc một căn bệnh kỳ lạ: mọc lông, nanh, móng như quỷ dữ, ứng nghiệm lời tiên tri trước đó của Từ Đạo Hạnh rằng ông sẽ tái sinh làm con vua và mắc bệnh quỷ dữ trước khi thoát khỏi vòng sinh tử. Trước tình thế nguy cấp, hai Thiền sư Nguyễn Minh Không và Giác Hải truyền câu ca dao: “Muốn trị bệnh Thiên tử, cần tìm Nguyễn Minh Không” để lan khắp dân gian. Triều đình sai sứ rước Minh Không về chữa trị. Đến khi vào cung, Minh Không bày pháp, nhúng tay vào dầu sôi lấy ra 100 chiếc đinh, rồi rưới nước phép lên người vua, niệm chú trừ tà. Từ đó lông, móng, nanh quỷ rụng hết, nhà vua khỏi bệnh và trở lại hình dạng con người.

Sau khi Lý Thần Tông băng hà, thi hài được đưa về chùa Thiên Phúc (chùa Thầy), nơi gắn với Thánh Từ Đạo Hạnh. Ngôi chùa được cho là tỏa ra linh khí kỳ diệu, được các triều đình tôn phong là “Thượng đẳng Tối linh tự”. Thời nhà Minh, sứ thần sang nước ta thấy hương thơm lạ và thân xác như ngọc, bèn thờ cúng suốt bảy ngày; một giấc mộng chỉ dẫn họ phải làm lễ bằng năm gốc ngọc mới yên. Tro của di hài sau đó được cất giữ trang trọng tại khám bên trái chùa Thiên Phúc. Đến triều Lê Thánh Tông, Quang Thục Thái hậu cũng dời khám để cầu tự, thừa nhận sự linh thiêng đặc biệt của chùa và vị Thánh Từ Đạo Hạnh.

Kiến trúc cảnh quan

Chùa Thầy nằm gọn dưới chân núi Sài Sơn, một dải núi đá vôi hình vòng cung, còn gọi là núi Phật Tích hay Bồ Đà Lạc Sơn. Theo thuyết phong thủy, thế núi được ví như hình con rồng trầm mình dưới mặt nước hồ, trong đó ngọn Long Đẩu – tức đầu rồng – là viên ngọc trong miệng, còn chùa Thầy như nằm trong bụng rồng, được thế núi bao bọc vững chãi. Chùa quay mặt về hướng nam hơi chếch tây, dựa lưng vào núi Sài, nhờ đó tránh được nắng gắt buổi chiều mùa hè, tạo không gian mát mẻ, thanh tịnh. Phía trước chùa mở ra hồ Long Trì (ao rồng) rộng lớn, giữa hồ nổi bật tòa Thủy Đình chồng diêm, ngày nay là nơi tổ chức múa rối nước nhưng vốn có thể từng mang ý nghĩa biểu tượng như một tam quan. Từ bờ hồ dẫn vào chùa có hai cây cầu mái “thượng gia hạ kiều” nổi tiếng: Nhật Tiên Kiều ở phía đông nối với đền Tam Phủ và Nguyệt Tiên Kiều ở phía tây dẫn lên núi, cả hai đều do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan cúng tiến và xây dựng lại năm 1602.

Khuôn viên chính điện của chùa có mặt bằng hình chữ nhật, dài 60m, rộng 40m với diện tích khoảng 2.400m², bố cục cân đối và chặt chẽ. Cụm kiến trúc trung tâm gồm ba nếp nhà song song, tạo thành hình chữ tam (三), bao gồm Tiền Đường, Điện Phật và Điện Thánh; trong đó, gian Thiêu Hương nối giữa Tiền Đường và Điện Phật, tạo nên bố cục chữ công (工) độc đáo. Tiền Đường là nhà ba gian hai chái, dài 20m, cao 5,2m, kết cấu vì kèo kiểu giá chiêng – kẻ suốt; Điện Phật nằm phía sau, cao hơn 0,5m, dài 20m, rộng 9,5m, cao 5,5m, bộ khung phức tạp kết hợp cả chồng rường – giá chiêng và giá chiêng – kẻ suốt; Điện Thánh ở trong cùng, cao hơn Điện Phật 0,95m, có gian giữa rộng tới 6m, là nơi thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh và thể hiện cấu trúc độc đáo Tiền Phật – Hậu Thánh, vốn chỉ thấy trong chùa Việt Nam.

Ngoài trung tâm thờ tự, chùa còn có nhiều công trình phụ trợ: phía đông cầu Nhật Tiên là đền Tam Phủ dựng trên gò đất nổi giữa hồ; hai dãy hành lang bao quanh ba nếp chùa chính, kết cấu vì kèo cầu – cột trốn – bẩy hiên; gác Chuông và gác Trống đối xứng ở hai đầu hồi hành lang, đều có kiến trúc chồng diêm hai tầng mái, bít đốc ba tầng đấu; phía sau Điện Thánh là Nhà Tổ quy mô lớn gồm 11 gian. Các lớp kiến trúc của chùa trải dài qua nhiều thời kỳ: khởi dựng từ thời Lý (1107 – 1109) với dấu tích còn lại là bệ đá sư tử đội tòa sen và 7 chân tảng đá gan gà ở Điện Thánh; bộ khung chính hiện nay chủ yếu thuộc thế kỷ XVII, thời kỳ chấn hưng Phật giáo; đến thời Nguyễn, nhiều bộ mái và các hạng mục như Thủy Đình, Nhà Tổ, Nhà Bia được trùng tu. 

Hiện vật

Chùa Thầy là một trong những ngôi cổ tự tiêu biểu còn lưu giữ được hệ thống hiện vật phong phú, phản ánh nhiều lớp văn hóa, tín ngưỡng và nghệ thuật qua các triều đại. Tổng thể di tích hiện có 36 pho tượng tròn (không kể tượng La Hán) phân bố ở Điện Phật, Điện Thánh, hành lang, Nhà Tổ và đền Tam Phủ, trong đó nổi bật là bộ Tam Thế Phật bằng gỗ thuộc thế kỷ XVI, được coi là những pho tượng gỗ sớm nhất ở nước ta; bộ Di Đà Tam Tôn có niên đại thế kỷ XVII; cùng nhiều tượng Phật, Bồ Tát, Hộ pháp, Nam Tào, Bắc Đẩu, Thập Điện Diêm Vương, Tứ Trấn Thiên Vương… có niên đại từ thế kỷ XVIII đến XIX. Ở Điện Thánh, bên cạnh bộ Di Đà Tam Tôn thế kỷ XVII còn có tượng Từ Đạo Hạnh ngồi thiền định trên bệ đá sư tử thời Lý, khám thờ Từ Đạo Hạnh chạm khắc tinh vi thế kỷ XVI, tượng vua Lý Thần Tông và tượng Phỗng Chàm mang phong cách thế kỷ XVII – XIX. Các hành lang và Nhà Tổ còn lưu giữ tượng La Hán bằng đất phủ sơn thời Nguyễn, tượng chân dung phù điêu công chúa Minh Châu thế kỷ XVII và thêm một tượng Từ Đạo Hạnh thế kỷ XIX. Về bệ tượng và đồ thờ, chùa hiện có hệ thống chân tảng đá gan gà thế kỷ XI thời Lý, nhiều bệ đá hoa sen thời Lý – Trần, bệ gỗ thế kỷ XV – XVII gắn với các bộ tượng cổ, nhang án và khám thờ thế kỷ XVI – XVII. Ngoài ra, chùa Thầy còn sở hữu nhiều văn vật quý như chuông đồng (bản gốc đúc năm 1109 thời Lý, hiện còn quả chuông năm 1794), khánh đồng niên đại Minh Mạng (1836), tám tấm bia đá từ thế kỷ XVII ghi chép việc trùng tu, dựng tượng, tạo lệ; cùng hệ thống sắc phong thời Lê – Nguyễn. Về trang trí và nghệ thuật kiến trúc, chùa lưu giữ nhiều đầu dư, chạm khắc trên lá gió, đầu bẩy, cửa võng phong cách thế kỷ XVII, rồng đá thời Trần và Nguyễn, chó đá thời Nguyễn, đôi sấu thành bậc thế kỷ XIV. Những hiện vật này không chỉ minh chứng cho lịch sử lâu đời của chùa Thầy mà còn phản ánh tiến trình phát triển của nghệ thuật Phật giáo Việt Nam từ thời Lý, Trần, Lê đến Nguyễn.

Sự kiện và lễ hội

Lễ hội Chùa Thầy từ lâu đã đi vào ca dao, được nhân gian ca ngợi là: “Nhất vui là hội chùa Thầy”“Nhớ ngày mồng 7 tháng 3 / Trở vào hội Láng, trở ra hội Thày”. Đây là một trong những lễ hội lớn của vùng đồng bằng Bắc Bộ, mang đậm dấu ấn gắn với Thiền sư Từ Đạo Hạnh.

Hội chính thức mở vào ngày mồng 5 tháng 3 âm lịch và kéo dài đến ngày mồng 8, trong đó ngày mồng 7 tháng 3 được coi là chính hội. Đặc biệt, lễ hội Chùa Thầy còn gắn bó với hội Láng (Chiêu Thiền tự, làng Yên Lãng), nơi thờ Đức Thánh tổ và cũng là quê hương của bà Tăng Thị Loan – thân mẫu của Từ Đạo Hạnh. Sự gắn kết này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hai không gian thờ tự cùng tôn vinh vị Thiền sư đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống tinh thần dân gian.

Các hoạt động chính:

  • Lễ Mộc dục và rước bài vị

Trưa ngày 7 tháng 3, sau nghi thức Mộc dục (tắm tượng), các thôn Thụy Khuê, Đa Phúc, Sài Sơn và Khánh Tân đều mang cỗ chay – thường là hoa quả, oản, xôi. Khoảng ba giờ chiều, nghi thức rước bài vị Từ Đạo Hạnh diễn ra long trọng từ chùa Thầy đến Gò Thiên (còn gọi Quán Thánh), nơi dân gian truyền rằng quân Minh đã hỏa thiêu xác ngài sau khi hóa. Đoàn rước gồm nhiều thành phần: bài vị và ngựa đỏ của Thụy Khuê, bài vị và ngựa trắng của Đa Phúc, bài vị của Sài Khê và Khánh Tân, cuối cùng mới là bài vị Từ Đạo Hạnh. Mỗi thôn đều có trách nhiệm khiêng bài vị của mình, riêng bài vị ngài thì bốn thôn cùng chung tay khiêng từng góc. Đám rước đi chậm rãi trên quãng đường dài hơn một cây số, mất khoảng hai giờ đồng hồ. Khi đến Quán Thánh, áo vàng trên bài vị Từ Đạo Hạnh được thay bằng áo cà sa của Phật, biểu thị sự hòa quyện giữa yếu tố Phật giáo và tín ngưỡng dân gian. Đến lượt về, đoàn đi theo trật tự đảo ngược và thường kết thúc vào lúc trời đã tối, tạo nên không khí linh thiêng và trang nghiêm.

  • Múa rối nước tại Thủy đình

Trong lúc nghi lễ diễn ra ở chính điện, ngoài hồ Long Trì phía trước chùa, trò múa rối nước được tổ chức tại Thủy đình. Đây là loại hình nghệ thuật dân gian chỉ biểu diễn vào dịp hội, mỗi năm một lần. Theo truyền thuyết, chính Thiền sư Từ Đạo Hạnh là người đã dạy dân nghề múa rối, nên nhân dân tổ chức trò diễn này để tưởng nhớ công ơn của ngài, đồng thời tạo nên sắc thái đặc trưng cho lễ hội Chùa Thầy.

Lễ hội thu hút đông đảo du khách, tăng ni, Phật tử về chiêm bái, cầu nguyện và thưởng ngoạn. Ngoài việc dâng hương lễ Phật, nhiều người còn leo núi Sài Sơn, tham quan Chùa Đỉnh Sơn (Chùa Cao), vườn Trúc, hoặc khám phá hang Cắc Cớ và khu vực Chợ Trời. Hang Cắc Cớ từ lâu nổi tiếng là nơi nam nữ thanh niên hẹn hò, để lại câu ca dao quen thuộc: “Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy / Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ”. Không chỉ vậy, Chùa Thầy còn được coi là nơi cầu tự linh thiêng; tương truyền vua Lê Hiến Tông sinh ra là nhờ sự cầu tự của mẹ ông tại Chùa Đỉnh Sơn trên núi Sài Sơn.

Như vậy, lễ hội Chùa Thầy vừa mang tính tôn giáo – tín ngưỡng, vừa gắn với sinh hoạt văn hóa – nghệ thuật dân gian, trở thành điểm hẹn tâm linh và vui chơi của cộng đồng, góp phần tạo nên sức sống lâu bền cho không gian văn hóa Sài Sơn.

Xếp hạng

Chùa Thầy đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng là Di tích Kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt, theo Quyết định số 313/QĐ ngày 23/4/1962.

Tham khảo 

  1. An Nhiên, Đi lễ chùa Thầy – thăm nơi thờ ông tổ nghề múa rối nước truyền thống, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, đăng tải ngày 29/03/2016.
  2. Nguyễn Xuân Trung (Chủ biên) (2025), Chùa Thầy – Di tích quốc gia đặc biệt, Nxb Dân Trí.
  3. Thích Minh Thuận, Thiền sư Từ Đạo Hạnh và đời sống xã hội Đại Việt, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đăng tải ngày 17/02/2020.
  4. Nguyễn Văn Tiến (TS.) (2024), Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự), Nxb Khoa học Xã hội.

 

5/5 (2 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)