Đình Dục Tú
Đây là ngôi đình thờ Sỹ Nhiếp, quan Thái Thú đất Giao Châu thời Hán Vũ Đế. Sách Việt điện u linh tập chép rằng: Sĩ Nhiếp quê ở huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô (Trung Quốc), là người có đạo đức, hiếu hạnh, liêm chính. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Sĩ Vương ở ngôi (Thái thú) 40 năm, thọ 90 tuổi. Vương là người khoan hậu, khiêm tốn, lòng người yêu quý, giữ cả đất Việt, chống với thế mạnh Tam Quốc phương Bắc, đã sáng suốt lại mưu trí, có thể gọi là bậc vua hiền. Lúc ít tuổi học tại Kinh đô nhà Hán, theo học Lưu Tủ Ký ở Đình Xuyên, chuyên trị sách “Lã thị Xuân Thu,” có làm lời chú giải – được cử hiếu liêm, bổ làm Thượng thi lang, bổ nhiệm làm huyện lệnh Vu Dương, đổi là Thái thú Giao Châu (về sau sửa làm Giao Chỉ), phong là Long bộ đình hầu, đóng đô ở Liêm Lâu (nay là Long Biên). Sau nhà Trần truy phong tước hiệu “Thiên cảm gia Ứng linh vũ đại vương”.
Tương truyền, Đình Dục Tú được khởi dựng từ rất sớm, hiện nay không còn cứ liệu nào ghi chép về giai đoạn tạo dựng. Kiến trúc hiện còn cho chúng ta thấy đình được dựng ở thời Lê Trung Hưng và được tôn tạo ở thời Nguyễn. Bố cục của đình gồm: phía trước có hồ nước, sân đình, tiếp sau là nhà tiền tế, đại đình, hậu cung và khu nhà phụ trợ. Nhà tiền tế năm gian, bốn mái cong lòng thuyền, vì kèo giá chiêng chồng rường con nhị, nối tiền tế với đại đình bằng một đường hiên hẹp. Đại đình có 7 gian, xây kiểu vì kèo giá chiêng, rường chồng con nhị, cửa bốn bên thượng song hạ bản. Hậu cung xây ba gian. Nghệ thuật trang trí ngôi đình mang phong cách truyền thống giai đoạn XVII – XVIII của Bắc bộ, tiếp theo là các đề tài long, li, quy, phượng, tùng , cúc, trúc, mai của nghệ thuật mang phong cách thế kỉ XIX. Các di vật trong đình hiện còn một cuốn thần phả ghi sự tích của Sỹ Nhiếp, 18 đạo sắc phong, 1 pho tượng tròn tạc Sỹ Nhiếp, một ngai thờ, hai khám, một cuốn thư, hai con chim vẹt gỗ mang nét chạm khắc đẹp có giá trị nghệ thuật ở nửa đầu thế kỉ XVIII, hai hạc thờ, nhang án, ba cỗ kiệu nghệ thuật chạm khắc thế kỉ XVIII – XIX và nhiều đồ thờ tự khác.
Chùa Dục Tú
Chùa có từ bao giờ thì không có tài liệu nào có thể chứng minh. Căn cứ vào tấm bia trùng tu chùa vào năm 1622 cho thấy chùa Dục Tú có thể ra đời vào khoảng thế kỉ XV, nhưng cũng có thể là thế kỉ XVIII, IX vì bà họ Đào, thứ phi của Ngô Vương Quyền sinh ra ở đất làng Dục Tú.
Ban đầu, tên chùa là Thức, theo thời gian, lần lượt được gọi là chùa Hội, chùa Đào, chùa Bà Tông, chùa Chợ Vòng. Trong thời gian mang tên Chợ Vòng thì bị phá, dân làng phải di chuyển Tam bảo về ngôi nhà Thọ Lão của đình Dục Tú và đặt tên chữ là Tiên Cảnh Tự.
Căn cứ vào bia hậu Phật tại chùa, cho biết rằng chùa đã qua những đợt trùng tu vào các năm: Quý Dậu đời vua Gia Long (1813), Ất Mùi đời vua Minh Mạng (1835), Tân Hợi đời vua Tự Đức (1851). Lần trùng tu gần nhất vào đầu thế kỷ XXI, trùng tu theo mẫu là nhà Thọ Lão được dựng hồi năm 1887, trước sân chùa xây thêm tượng đài Quán Thế Âm Bồ tát.
Chùa nằm bên hữu đình làng, mặt quay về hướng Đông – Nam, bố cục gồm 2 nếp nhà 3 gian 2 dĩ nằm song song nhau theo hình chữ Nhị 二, bên cạnh là nhà Tổ, nhà Mẫu và nhà Tăng.
Bài minh trên tấm bia niên hiệu Vĩnh Tộ 4 (1622) đã ghi rõ công đức của bà Đào Thị Sa, Vương phi cung tần người làng Dục Tú đã góp công tu sửa chùa:
“Cúng ruộng vào bia
Bản xã danh thôn
Cổ tích lưu truyền
Đông Ngàn đất đẹp
Nay thời thịnh trị
Chùa nơi Dục Tú
Trước xây sau sửa
Chính bà họ Đào
Nối dõi trời Nam”.
Hiện nay trong chùa còn giữ được hiện vật cổ vật gồm các pho tượng Phật giáo Bắc tông như Tam Thế Phật, Thập điện Diêm vương, Phật Di Lặc, bia đá, và quả chuông đồng đúc năm Minh Mạng thứ 16 (1835). Chùa hiện nay được xây lại vào năm 1887, kiến trúc dạng chữ nhị với hai nếp nhà ba gian hai dĩ, kiểu vì kèo quá giang. Đây là nhà thọ từ của làng xưa. Hiện nay chùa còn 32 pho tượng Phật và tượng Hậu. Trong số các tượng có tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn bằng đồng. Trong chùa không có tượng Mẫu vì tượng Mẫu được thờ riêng bên trái của đình, đồng thời đó cũng là nơi thờ Đức thánh Trần. Ngoài một số tượng tròn, chùa còn có 3 bia đá mang niên đại khá sớm là 1622, 1873, 1851 ghi rõ năm tháng và công đức của những người góp công tu bổ chùa, một quả chuông đồng được đúc năm 1835 mang tên Tiên Cảnh tự chung, một bát hương đồng cổ xưa.
Quần thể Đình-Chùa
Cụm di tích đình – chùa Dục Tú là niềm tự hào của người dân nơi đây bởi cảnh đẹp thần tiên đã được đi vào thơ ca đương thời. Nằm trong vùng sinh sống của người Việt Cổ, Dục Tú đã được ca ngợi là đất “Dục Chung Anh – Tú Hải Hà” với nghĩa “Nuôi khí thiêng để làm đẹp sông biển”, có bề dày lịch sử hàng thiên niên kỷ với truyền thống văn hóa đẹp đẽ của xứ Kinh Bắc(1).
Nằm gần trung tâm Phật giáo Luy Lâu, các ngôi chùa thờ Phật dần dần lan ra những khu vực lân cận, đáp ứng lòng sung kính của người đương thời. Chùa là nơi gửi gắm tâm linh. Những ngôi chùa cổ từ xa xưa cũng đã thu hút không ít các công hầu, khanh tướng đến cửa thiền lễ Phật. Chùa Tiên Cảnh hơn thế, đã tiếp nhận mọi sự công được, trong đó có cả hai thứ phi của Ngô vương (Ngô Quyền), đã từng tận tâm trong việc tu bổ ngôi chùa của quê hương. Không những vậy, nơi đây còn là vùng đất của nhiều nhà khoa bảng trong lịch sử Nho học.
Cùng với đình Dục Tú, chùa Tiên Cảnh hợp thành một quần thể kiến trúc đẹp và khá độc đáo ở phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội ngày nay. Chùa là di tích ra đời sớm, dấu vết vật chất của các thời kỳ lịch sử còn in đậm trên kiến trúc và các di vật văn hóa. Từ quy mô bề thế của kiến trúc đến các kết cấu, các mảng chạm khắc đẹp, sinh động, các mái công hài hòa, uyển chuyển đến các viên gạch Bát Tràng cổ còn lại trong di tích giúp chúng ta hiểu thêm về di tích này.
Chùa cùng với đình đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa năm 1995.
Chú thích
(1): Giai đoạn đầu Tây lịch, đất Dục Tú thuộc trang Đường An. Tới thời Lê thuộc tổng Cổ Loa, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Sang đầu thời Nguyễn, nằm trong tổng Dục Tú, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Tới đầu thế kỷ XX, trực thuộc phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ ngày 31 tháng 5 năm 1961, xã Dục Tú trực thuộc huyện Đông Anh, nhập vào thành phố Hà Nội.