Phù Đổng Thiên Vương – Thánh Gióng

Phù Đổng Thiên Vương – Thánh Gióng

Thông tin cơ bản

Truyền thuyết

Thánh Gióng (chữ Nôm: 聖揀), hiệu là Phù Đổng Thiên Vương (扶董天王), hay Sóc Thiên Vương (朔天王), là nhân vật truyền thuyết Việt Nam, một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian, tượng trưng cho sức mạnh tuổi trẻ và tinh thần chống ngoại xâm, ý chí tự cường dân tộc. Dưới triều vua Lý Công Uẩn, ông được truy tôn là Xung Thiên Thần Vương (冲天神王). 

Ghi chép trong Việt điện u linh tập

Truyện về Phù Đổng Thiên Vương, còn được gọi là Sóc Thiên Vương hay Vệ Linh Sơn Thần, xuất hiện sớm trong Việt điện u linh tập, một tác phẩm thời Trần ghi chép các truyện thần linh, ma quái, sự tích linh ứng trong dân gian. So với truyền thuyết lưu truyền phổ biến, bản trong Việt điện u linh tập có nhiều dị biệt: không nhắc thời Hùng Vương, mà đặt thần tích tại núi Vệ Linh, thuộc quận Bình Lỗ.

Tác phẩm kể rằng, vào thời Lê Đại Hành, thiền sư Khuông Việt họ Ngô thường lên núi Vệ Linh ngắm cảnh, thấy địa thế linh thiêng bèn muốn dựng am tu hành. Đêm nọ, ông mộng thấy một vị thần mặc giáp vàng, tay cầm giáo và tháp báu, theo sau là hơn mười quỷ Dạ Xoa. Vị thần xưng là Tỳ Sa Môn Đại Vương, được Thiên Đế sai đến nước Nam để phù hộ cho hạ dân.

Sáng dậy, sư vào núi, thấy cây cổ thụ mây sắc bao phủ, bèn đốn gỗ tạc tượng lập đền thờ. Đến năm Thiên Phúc nguyên niên (980), khi quân Tống sang xâm lược, vua nghe đền này linh ứng nên sai Khuông Việt đến cầu đảo, quả nhiên linh nghiệm.

Việt điện u linh tập chép rằng, khi trong nước có giặc, vua sai sứ đi cầu người tài. Ở một thôn kia, có đứa trẻ còn nằm nôi bỗng cất tiếng nói: “Mẹ đem cơm cho con ăn, để con đi đánh giặc.” Chỉ ít lâu sau, đứa trẻ lớn nhanh phi thường, xin nhà vua ban cho ngựa sắt và gươm sắt, rồi xông pha trận mạc, chém giặc tan tành. Sau khi bình định xong, Thiên Vương phi ngựa về núi Vệ Linh, trèo lên cây đa rồi hóa về trời, để lại áo giáp và dấu tích nơi ấy. Dân chúng lập đền thờ phụng, cầu đảo đều linh ứng, triều Lý về sau cũng dựng miếu thờ ông tại Cảo Hương (bên hồ Tây) và tôn làm Phúc thần quốc gia.

Ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái

Đến thời Trần – Hồ, tác phẩm Lĩnh Nam chích quái đã hợp nhất hai nguồn truyền thuyết: Phù Đổng Thiên Vương trong dân gian và Sóc Thiên Vương của Việt điện u linh tập, hoàn chỉnh bản truyện có tính sử thi nhất, xác định niên đại đời Hùng Vương thứ sáu, thời điểm giặc Ân xâm lược nước ta.

Truyện kể rằng, vua Hùng nghe tin giặc Ân sắp sang, bèn lập đàn cầu đảo Long Quân. Ba năm sau, giặc kéo đến thật. Vua sai sứ đi khắp nơi tìm người tài. Tới làng Phù Đổng, có một phú ông hơn sáu mươi tuổi sinh được đứa con trai ba năm vẫn chưa biết nói, chỉ nằm ngửa mà ăn. Một hôm, nghe mẹ nói đùa rằng: “Thằng này chỉ ăn mà chẳng đánh giặc báo đền vua cha,” đứa trẻ bỗng bật nói: “Mẹ hãy mời sứ giả vào đây.”

Khi sứ đến, đứa trẻ bảo: “Về tâu vua rèn cho ta ngựa sắt cao mười tám thước, gươm sắt bảy thước, roi sắt và nón sắt, ta cưỡi ngựa đánh giặc thì nước sẽ yên.”

Vua nghe tâu liền sai thợ rèn làm đúng như lời. Từ đó, đứa bé ăn uống không ngừng, lớn nhanh như thổi, áo quần không đủ che thân, phải dùng hoa lau buộc thêm.

Khi quân Ân kéo đến chân núi Trâu Sơn (Vũ Ninh), đứa trẻ vươn mình cao hơn mười thước, hắt hơi mười tiếng, rút gươm hét vang: “Ta là thiên tướng đây!” rồi đội nón, cưỡi ngựa sắt lao thẳng ra trận. Ngựa sắt phun lửa, gươm múa chớp lòa, quân giặc tan tác, Ân vương tử trận.

Sau chiến thắng, Thánh Gióng phi ngựa lên trời tại núi Sóc Sơn, để lại dấu chân ngựa in trên đá. Vua Hùng nhớ công, phong ông làm Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ tại quê cũ, ban cho ngàn mẫu ruộng làm tự điền hương hỏa.

Đến thời Lý Thái Tổ, vua lại phong thêm mỹ hiệu Xung Thiên Thần Vương, cho dựng tượng tại núi Vệ Linh, hằng năm xuân thu nhị kỳ tế lễ trọng thể. Từ đó, Thánh Gióng được tôn là vị anh hùng khai quốc bất tử, biểu tượng cho lòng yêu nước và khí phách bất khuất của dân tộc Việt, được thờ phụng qua hàng nghìn năm lịch sử.

Những ghi chép trong chính sử

Đại Việt sử ký toàn thư chép: 

Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có người nhà giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không biết nói cười. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: “Xin cho một thanh gươm, một con ngựa, vua không phải lo gì”. Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Vũ Ninh. Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót đều rạp lạy, tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin hàng cả. Đứa trẻ phi ngựa lên trời mà đi. Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế”.

Ngự chế Việt sử tổng vịnh tập ghi lại rằng: 

Vua Hùng đời thứ 6, ở làng Phù Đổng, bộ Vũ Ninh, có ông nhà giàu, sinh ra 1 đứa con trai, đã lên 3 tuổi… đứa trẻ cưỡi ngựa bay lên không mất. Vua mệnh cho ngay trên vườn nhà ở, xây miếu thờ. Đời sau, vua Thái Tổ triều Lý phong làm Xung thiên thần vương. Đền thờ tại làng Phù Đổng, nay phong là Đổng Thiên vương.

Đại Nam nhất thống chí cũng ghi: 

Đền Đổng Xung thiên thần vương: ở xã Phù Đổng, huyện Tiên Du. Phần ngoại kỷ của Sử chép đời Hùng Vương giặc Ân xâm lược, thần cưỡi ngựa sắt đánh tan giặc, đi đến núi Vệ Linh thì bay lên trời. Hùng Vương sai lập đền ở trong hương để thờ. Đời Lê Đại Hành, thần giúp sức đánh tan quân Tống, Lê Đại Hành phong Thượng đẳng thần. Lê Thái Tổ phong là Xung thiên thần vương. Nay núi Vệ Linh cũng có đền thờ.

Sự thực lịch sử được gửi gắm trong huyền tích Thánh Gióng 

Hình tượng người anh hùng Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, vung roi sắt đánh tan giặc Ân, sau khi hoàn thành sứ mệnh thì bay về trời không chỉ là một biểu tượng thiêng liêng trong tâm thức dân gian mà còn là ký ức tập thể về một biến cố lịch sử thực sự đã xảy ra từ thời đại Hùng Vương.

Những dấu tích được tìm thấy trong Ngọc phả, cổ sử Việt – Hoa, cùng tư liệu khảo cổ thời kim khí cho thấy rằng huyền thoại Thánh Gióng không đơn thuần là sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian, mà chính là sự phản ánh một cuộc kháng chiến có thật của cư dân Văn Lang chống lại cuộc xâm lược của triều Ân phương Bắc.

Dấu tích lịch sử trong “Ngọc phả truyền thư” và cổ sử Trung Hoa

Theo Ngọc phả truyền thư, vào thời vua Hùng Vĩ Vương, thuộc chi Đoài (tức triều Hùng Vương thứ sáu), đã xảy ra một biến cố trọng đại: giặc Ân từ phương Bắc đem quân xâm lược nước ta. Trong bối cảnh đó, xuất hiện một đứa trẻ kỳ lạ ở làng Phù Đổng, từ khi sinh ra ba năm không biết nói, đến khi nghe tin nước nhà bị giặc, bỗng cất tiếng đòi vua cho sứ giả đến, xin được ra trận. Cậu bé lớn nhanh như thổi, chỉ trong chốc lát thành tráng sĩ khổng lồ, cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt đánh tan quân xâm lược, bảo vệ non sông Văn Lang. Sau khi chiến thắng, người anh hùng ấy bay thẳng lên trời, dân gian tôn là Phù Đổng Thiên Vương.

Điều đáng chú ý là, biến cố giặc Ân xâm lược nước ta không chỉ tồn tại trong truyền thuyết Việt Nam mà còn được ghi chép lại trong cổ sử Trung Hoa. Theo Thượng thư – Ân bản kỷSử ký – Ân bản kỷ, đời vua Cao Tông triều Ân (tức Vũ Đinh), quân Ân từng “vượt sông Hà, đánh nước Quỷ Phương, đóng quân tại đất Kinh ba năm”. Sự kiện này hoàn toàn trùng hợp với thời điểm mà Ngọc phả truyền thư ghi nhận giặc Ân tiến đánh Văn Lang. Như vậy, hai nguồn sử liệu tuy thuộc hai nền văn hóa khác nhau đều phản ánh cùng một hiện tượng lịch sử là cuộc chiến giữa triều Ân và cư dân Quỷ Phương/Văn Lang ở phương Nam.

Điểm thú vị là trong giáp cốt văn thời Vũ Đinh, chữ “Việt” (戉 / 越) xuất hiện tới hơn một trăm lần, với hàm ý là “bộ tộc phía Nam thường quấy nhiễu, cần đề phòng”. Điều này cho thấy, người Việt đã là một cộng đồng có tổ chức và đối kháng với triều Ân từ rất sớm, chứ không phải chỉ là một nhóm man di rời rạc. Do đó, giặc Ân trong truyền thuyết Thánh Gióng chính là quân đội triều Ân trong sử liệu Trung Hoa, còn nước Văn Lang chính là nước Quỷ Phương trong thư tịch cổ, quốc gia của người Việt cổ ở phương Nam sông Dương Tử.

Bối cảnh triều Ân, công cuộc nam chinh và sự xung đột văn hóa

Triều Thương (tức Ân) là vương triều thứ hai của Trung Hoa cổ đại, kế tục nhà Hạ, tồn tại từ khoảng năm 1600 đến năm 1154 trước Tây lịch. Sau nhiều thế kỷ, nhà Ân trở thành một cường quốc phương Bắc, thống trị vùng trung lưu sông Hoàng Hà, phát triển nghề luyện đồng, chữ viết giáp cốt và tế tự tổ tiên.

Tuy nhiên, cũng từ đây nảy sinh cuộc đối đầu căn bản giữa hai nền văn hóa:

  • Một bên là văn minh du mục – kim khí phương Bắc, do triều Ân đại diện.
  • Một bên là văn minh nông nghiệp – lúa nước phương Nam, do các bộ tộc Lạc Việt, Âu Việt, và Bách Việt hợp thành.

Đời vua Bàn Canh, triều Ân dời đô về đất Ân, mở rộng thế lực, đồng thời coi các tộc người Việt phương Nam là mối đe dọa tiềm tàng. Trong Sử ký – Ân bản kỷ, Tư Mã Thiên trích lời Ngũ Tử Tư dẫn bài cáo của Bàn Canh, rằng:

Bọn cuồng loạn láo xược ấy phải giết hết đi, không cho còn một mống nào để làm hại giống tốt ở ấp này. Đó là điều khiến nhà Thương hưng thịnh.

Lời tuyên cáo ấy không chỉ biểu lộ dã tâm diệt tộc, mà còn phản ánh một xung đột căn để giữa hai hệ tư tưởng và hai cách tổ chức xã hội: Cư dân du mục Bắc Hoàng Hà xem dân nông nghiệp phương Nam là thấp kém, trong khi cư dân Việt phương Nam xem người Bắc là xâm lược. Chính trong bối cảnh ấy, truyền thuyết Thánh Gióng ra đời, biểu tượng hóa 1 vị anh hùng dân tộc chống lại giặc phương Bắc đầu tiên trong lịch sử.

Niên đại Hùng Vương thứ sáu qua các nguồn Ngọc phả

Vấn đề niên đại Hùng Vương thứ sáu (thời kỳ Thánh Gióng ra đời) được nhiều thư tịch Việt Nam ghi chép tương đối thống nhất, đặc biệt là trong các bộ Ngọc phả cổ.

Bách Việt Ngọc phả truyền thư, soạn năm 971 dưới triều Đinh Tiên Hoàng, chép: “Thời Hùng Vĩ Vương thuộc chi Đoài, giặc Ân từ phương Bắc kéo xuống, Phù Đổng Thiên Vương ra tay dẹp loạn.

Nam Việt Hùng Vương Ngọc phả vĩnh truyền (980), thời Lê Đại Hành khẳng định: “Hùng Vĩ Vương húy Văn Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 TDL), lên ngôi năm 39 tuổi, truyền 5 đời vua, trị vì tròn một trăm năm.

Cổ Việt Hùng thị thập bát diệp Thánh vương ngọc phả cổ truyện Nguyễn Cố soạn năm 1472, triều Lê Thánh Tông cũng ghi trùng khớp: “Thời Hùng Vĩ Vương, giặc Ân sang xâm phạm, Phù Đổng Thiên Vương phá được.

Đối chiếu niên đại này với sử Trung Hoa, ta thấy tương ứng với thời Bàn Canh và Vũ Đinh triều Ân khoảng thế kỷ XV đến XIV trước Tây lịch. Tức là truyền thuyết Thánh Gióng phản ánh một biến cố lịch sử có thật diễn ra cách nay hơn ba nghìn năm, chứ không phải một sáng tạo dân gian thuần túy.

Đối chiếu địa lý, xác định nước Văn Lang và cuộc chiến

Một vấn đề gây tranh luận lâu dài là: nước Văn Lang thời Hùng Vương nằm ở đâu? Theo truyền thống, ta thường xác định Văn Lang bao gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Nhưng căn cứ vào cổ thư Trung Hoa và các ngọc phả Việt, có thể thấy rằng lãnh thổ Văn Lang thuở đầu rộng hơn nhiều, bao trùm cả vùng Quảng Tây, Quý Châu, Hồ Nam và Tứ Xuyên hạ, miền Hoa Nam hiện nay.

Sách Sơn Hải Kinh chép rằng nước Quỷ Phương ở phía Nam sông Dương Tử, cư dân có phong tục làm ruộng, đúc đồng, ở nhà sàn, thờ chim hoàn toàn trùng khớp với đặc trưng văn hóa Đông Sơn và Việt cổ. Như vậy, nước Quỷ Phương mà triều Ân đánh chính là nước Văn Lang của các vua Hùng.

Việc một số nhà nghiên cứu hiện đại xác định “bộ Vũ Ninh” ở Bắc Ninh chỉ là sự đồng danh địa danh về sau, bởi địa danh có thể dời, nhưng văn hóa và dân tộc gốc thì không.

Kết luận

Tổng hợp lại toàn bộ tư liệu, ta thấy rằng truyền thuyết Thánh Gióng không phải là hư cấu thuần túy, mà là sự ký ức hóa một cuộc chiến có thật giữa nước Văn Lang và triều Ân, phản ánh tinh thần chống ngoại xâm đầu tiên của dân tộc Việt.

Hình tượng Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, đánh giặc Ân chính là sự nhân cách hóa sức mạnh đoàn kết toàn dân, trong thời kỳ đất nước còn sơ khai.

Truyền thuyết ấy đã được thần thánh hóa qua hàng nghìn năm, trở thành huyền tích về anh hùng siêu nhiên, nhưng ở tầng sâu văn hóa, là sử thi dựng nước, giữ nước đầu tiên của người Việt, biểu tượng cho ý chí độc lập, tự cường và niềm tin bất diệt vào sức mạnh của chính dân tộc mình.

Văn hóa đại chúng

Ý nghĩa lịch sử về sức mạnh toàn dân và chính sách cầu hiền

Truyện Thánh Gióng không chỉ là huyền thoại anh hùng mà còn là ẩn dụ sâu sắc về sức mạnh của cộng đồng dân tộc, mọi người dân đều trở thành một phần của sức mạnh kháng chiến. Hình tượng ấy thể hiện tư tưởng “toàn dân vi binh”, tức là mọi thành phần xã hội đều có thể tham gia bảo vệ đất nước. Đây là tư tưởng xã hội tiến bộ, phản ánh một ý thức chính trị sơ khai về liên kết cộng đồng và là tiền đề cho khái niệm “quốc gia dân tộc” sau này.

Mặt khác, truyện cũng gửi gắm chính sách cầu hiền của nhà nước sơ khai: Thánh Gióng có xuất thân là thường dân, khi đất nước nguy nan tài năng, sức mạnh của ông được toàn dân và triều đình công nhận, được vua trọng dụng, ban cho vũ khí, ngựa sắt, áo giáp sắt. Điều này hàm ý tinh thần trọng dụng nhân tài, đề cao hiền lương, không phân biệt xuất thân, một quan niệm quản trị xã hội mang giá trị trường tồn.

Bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị trong thời hiện đại, tư tưởng toàn dân đồng lòng trong truyền thuyết Thánh Gióng chính là tinh thần đoàn kết dân tộc, là lời nhắc về sức mạnh bất khả chiến bại khi nhân dân gắn bó cùng nhau.

Tín ngưỡng, thờ phụng và lễ hội

Từ thời Lý, Thánh Gióng đã được chính thức đưa vào hệ thống tín ngưỡng quốc gia, được phong là “Xung Thiên Thần Vương” – vị thần cưỡi ngựa bay lên trời, hộ quốc an dân. Việc thờ phụng Thánh Gióng, triều đình muốn khẳng định mối liên kết giữa vương quyền và lòng dân, lấy biểu tượng anh hùng dân tộc làm chỗ dựa tinh thần cho quốc gia.

Hiện nay, có hai trung tâm thờ Gióng lớn nhất:

  • Đền Phù Đổng (Gia Lâm – Hà Nội): nơi sinh của Thánh Gióng.
  • Đền Sóc (Sóc Sơn – Hà Nội): nơi Gióng bay về trời, có dấu chân ngựa sắt, vết roi tre hóa rừng tre Đằng Ngà.

Các nghi thức trong lễ hội Gióng diễn ra hàng năm vào ngày mùng 9 tháng 4 âm lịch, gồm rước cờ, rước hoa tre, tế cờ, diễn lại cảnh đánh giặc và lễ tạ. Các triều đại phong kiến đều ban sắc phong, gia tăng uy thế cho lễ hội. 

Thánh Gióng trong văn hóa đại chúng hiện đại

Trong thời đại mới, hình tượng Thánh Gióng tiếp tục được tái hiện và cách tân trong nhiều loại hình văn hóa đại chúng. Từ sân khấu chèo, tuồng, cải lương, đến điện ảnh, hoạt hình và truyện tranh, hình tượng người thiếu niên cưỡi ngựa sắt vẫn luôn mang sức hấp dẫn đặc biệt.

  • Trong giáo dục, Thánh Gióng được đưa vào sách giáo khoa, biểu tượng học đường, tên trường, tên giải thưởng, nhằm nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và ý chí vượt khó của thanh thiếu niên.
  • Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (2010), Thánh Gióng được chọn làm biểu tượng văn hóa quốc gia, thể hiện niềm tự hào và sức sống trường tồn của dân tộc.
  • Truyền thông hiện đại cũng khai thác hình tượng Gióng trong các chiến dịch tuyên truyền về đoàn kết, bảo vệ Tổ quốc, khuyến khích sáng tạo và tinh thần công dân.
  • Về mặt học thuật, nhiều nhà sử học hiện nay cũng bàn luận lại câu chuyện Gióng, xem xét niên đại, yếu tố thần thoại và khả năng phản ánh thực tế lịch sử. Một số cho rằng Gióng là hình ảnh hóa thân của tầng lớp chiến sĩ thời Hùng Vương, tượng trưng cho ý thức quân sự – xã hội sơ khai của người Việt cổ.
  • Phương pháp nghiên cứu hiện đại đề cao việc đối chiếu văn bản (Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh tập, Đại Việt sử ký toàn thư), kết hợp với tư liệu khảo cổ và truyền khẩu, nhìn nhận Thánh Gióng như một ký ức tập thể hơn là cá nhân lịch sử.

Kết luận 

Thánh Gióng là huyền thoại chứa đựng dữ kiện lịch sử, là tấm gương phản chiếu tinh thần Việt, khi đất nước nguy nan, một đứa trẻ bình thường cũng có thể trở thành anh hùng cứu quốc. Hình tượng ấy là sự kết tinh của sức mạnh toàn dân, ý chí độc lập, và tinh thần đoàn kết cộng đồng. Thông điệp đó vẫn được cố kết và gửi gắm đến ngày nay:

  • Ở quá khứ, là biểu tượng bảo quốc an dân.
  • Ở hiện tại, là bài học huy động sức mạnh xã hội, phát huy lòng yêu nước và tinh thần tự cường.
  • Ở tương lai, là lời nhắc rằng mọi thế hệ đều có sứ mệnh “lớn nhanh” – vươn lên vì đất nước, vì cộng đồng và vì lý tưởng chung.

Tài liệu tham khảo

  1. Cổ Lôi ngọc phả truyền thư
  2. Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả
  3. Ngọc Hồ, Nhất Tâm (1992), Việt điện u linh tập, Nxb Cửu Long.
  4. Trần Thế Pháp (1960), Lĩnh Nam chích quái, Nhà sách Khai Trí.
  5. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  6. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa.
  7. Dực Tông Anh Hoàng Đế (1970), Ngự chế Việt sử tổng vịnh – Tập Hạ, Mai Thọ Truyền dịch, Phủ Quốc vụ Khanh đặc trách Văn hóa. 
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Phù đổng thiên vương

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)