Tên gọi và vị trí địa lý
Nằm bên tả ngạn sông Đuống, khu di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng (còn gọi là đền Thượng) tọa lạc tại làng Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội – vùng đất địa linh, nhân kiệt, thuộc xứ Kinh Bắc xưa, có bề dày lịch sử và truyền thống văn lâu đời. Nơi đây gắn với nhiều huyền thoại về thời kỳ đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc, là nơi chôn rau cắt rốn của người anh hùng Thánh Gióng.
Lịch sử và nhân vật
Thánh Gióng còn được tôn vinh là Phù Đổng Thiên Vương, là một trong bốn vị thánh bất tử (Tứ bất tử: Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử và Công chúa Liễu Hạnh) trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng Vương thứ 6, tại Kẻ Đổng (còn gọi là làng Gióng Mốt, tên cũ của làng Đồng Xuyên sau này) thuộc bộ Vũ Ninh xưa (sau là đất huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; từ năm 1961 mới sáp nhập vào huyện Gia Lâm) có một người đàn bà làm nghề trồng rau, “sống trinh khiết một mình không lấy chồng”.
Sau một đêm mưa gió, sáng sớm bà ra vườn cà ven sông, thấy một vết chân lớn chưa từng có. Bà đưa chân mình ướm thử. Nhìn thấy vườn cà bị giẫm nát, nhưng cà vẫn còn tươi, bèn hái về ăn. Sau đó, bà thấy trong mình chuyển động rồi có thai. Gần đến ngày sinh, dân làng biết được, liền đuổi bà ra khỏi làng. Cùng đường, bà phải về ở cữ tại trại Nòn (xóm Ban hiện nay).
Vào ngày mùng bảy tháng giêng lịch trăng, bà sinh ra được một cậu bé khôi ngô tuấn tú. Nhưng đã ba năm mà chẳng biết nói cười, hàng ngày chỉ nằm trên thúng treo trên gióng tre, do vậy mọi người gọi cậu là Gióng.
Bà vô cùng buồn phiền lo lắng. Khi đó, ngoài ngõ vang lên tiếng sứ giả rao mõ báo tin nước có giặc ngoại xâm và nhà vua đang cầu hiền tài ra giúp nước. Chợt cậu bé Gióng bật ra tiếng nói, mới cất tiếng nói đầu tiên. Đó là tiếng nói xin đi đánh giặc cứu nước. Gióng yêu cầu nhà vua rèn ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt cho. Sau “Bảy nong cơm, ba nong cà. Uống một hơi nước cạn đà khúc sông”, Gióng vươn vai cao lớn khác thường, mặc giáp sắt, cầm roi sắt, lên ngựa sắt.
Gióng phi ngựa đến chỗ vua đang đóng quân nhận lệnh rồi hướng phía giặc Ân làm tướng tiên phong, quân sĩ ào ào theo sau. Thấy vậy, dân làng trên đường đội quân Gióng đi qua cũng chạy theo, từ trẻ chăn trâu, người đánh cá đến người đập đất, người chài lưới ven sông… Hai tướng Dực và Minh của đất Hà Lỗ cũng đưa quân theo Gióng. Xung giữa trận tiền, giặc Ân bị đánh tơi bời, đứa thì bị giết, đứa sụp lạy quy hàng. Đang hăng chiến đấu, roi sắt của Gióng bị gãy, chàng liền quờ tay nhổ những khóm tre làng đầy gai mọc gần đấy quật vào quân giặc. Giặc chết như ngả rạ. Hàng loạt dãy tre làng được Gióng dùng vào đánh giặc. Chỗ rặng tre bị nhổ gần núi Trâu Sơn sau biến thành một dải đầm lớn gọi là đầm Thất Gian. Và những mảnh tre bị gãy ném rải rác khắp chiến trường, từ vùng Quế Dương cho đến Đông Ngàn sau này mọc thành loại tre đặc biệt có màu vàng óng ánh nên gọi là tre đằng ngà.
Đánh xong trên ở Trâu Sơn và Hà Lỗ, Gióng cho ngựa phi đến bến Bồ Đề và dừng lại uống nước sông Hồng. Vết chân của ngựa còn để lại hình lồi lõm ở một phiến đá lớn tại làng Phú Viên. Tiếp đó, Gióng lại phi ngựa vượt sông, đi ngược lên Hồ Tây, rồi buộc ngựa vào gốc đa bên bờ, nhảy xuống hồ tắm. Nơi này về sau được dân làng Xuân Tảo lập đền thờ cúng. Ăn cơm nắm xong, ngựa đưa Gióng dạo khắp vùng Đông Anh, Kim Anh, Hiệp Hòa.
Mỗi nơi ngựa Gióng đi qua đã để lại những cụm ao chuôm mang hình vết chân ngựa. Khi qua Phù Lỗ, đến chân núi Phù Mã, Thánh Gióng bèn cởi áo giáp sắt mắc vào cành đa, thúc ngựa lên đỉnh núi Vệ Linh (Sóc Sơn) bái vọng Mẹ, để lại nón sắt, roi sắt, nhìn non sông, đồng ruộng quanh vùng và hướng về Kẻ Đổng lần cuối, rồi một mình một ngựa bay thẳng lên trời. Hôm đó là ngày mồng chín tháng tư lịch trăng.
Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Gióng ở làng quê, phong Gióng làm Phù Đổng Thiên Vương, phong mẹ Gióng là Thánh Mẫu Bảo Vương, cho làng có xóm Ban nơi Gióng sinh ra được đặt tên là làng Phù Đổng. Tương truyền, năm 1010, khi dời đô về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã cho xây dựng đền Phù Đổng.
Hùng Vương nhớ công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập miếu thờ ở nhà cũ trong làng, lại ban cho một trăm khoảnh ruộng, sớm hôm hương lửa. Sau Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập miếu ở làng Phù Đổng bên cạnh chùa Kiến Sơn, lại tạc tượng ở núi Vệ Linh xuân thu hai mùa tế lễ.(1)
Sau đó, đền được tu bổ thêm:
Sau khi dời đô ra Thăng Long, vua Lý Công Uẩn đã sắc phong cho người anh hùng làng Gióng là Xung Thiên Đổng Thiên Vương Thánh Vị và cho tu bổ thêm nơi thờ tự này với tên gọi là điện Hiển Linh, đồng thời sắc lệnh cho chức sắc cùng dân chúng trong vùng hàng năm tổ chức hội trận Thánh Gióng để tưởng nhớ và ghi nhận công ơn ngài, cấp cho dân 8 giáp 100 mẫu ruộng để lấy hoa lợi cầu cúng quanh năm.(2)
Kiến trúc cảnh quan
Quần thể di tích Đền Thượng hiện tọa lạc trên khu đất rộng hơn hai mẫu, quay hướng Nam, trông ra đê sông Đuống. Đền gồm các hạng mục: thủy đình, cổng ngũ môn (năm cửa), phương đình, tiền đường, trung đường, hậu cung, tả hữu mạc, nhà giám, nhà ba gian, nhà khách, nhà hiệu.
Từ trên đê nhìn xuống là Ao Rối, nơi đã nhiều trăm năm tổ chức văn nghệ múa rối nước cho dân làng xem vào ngày hội.
Nhà Thủy đình có kết cấu hình vuông, diện tích mặt bằng 42,25m2, dùng làm nhà múa rối nước, sân vuông dùng làm sân khấu để diễn tuồng, ẩn dưới bóng đa cổ thụ, tán lá xum xuê, vốn được dựng theo kiểu “chồng diêm”, tám mái xải rộng, lợp ngói mũi hài, đầu đao cong vút từ thời Lê Cảnh Hưng (1705) với nhiều bức chạm tinh vi trên gỗ, mà đề tài là những cảnh sinh hoạt dân gian: người chăn dê, người thổi ống xì đồng… Thuỷ đình mang nhiều yếu tố dịch học mà trên đó những mảng chạm nói nên những ước vọng của dân chúng. Cụ thể là người xưa quan niệm: “Phi trí bất hưng, phi thương bất phú, phi công bất hoạt, phi nông bất ổn” thì các cụ đã lấy trí làm đầu. Mà trên đó có hai mảng chạm, một mảng chạm đề rất rõ là:
Quân tử trúc tổ tâm phùng mỹ lộc
Trượng phu tùng ngưỡng diện xạ phượng hoàng.
Qua sân gạch đến Nghi môn được xây bằng gạch cao 3,1m; rộng 2m, gồm năm cửa, mới được tạo dựng chấn song, khuôn bản vào cuối thế kỉ XVIII, chính giữa phía trên án ngữ bức đại tự Thiên Thượng Thần. Hai bên là đôi rồng đá chạm khắc thô nháp nhưng bề thế, khỏe khoắn, cùng đôi sư tử đá (bên dưới có dòng chữ khắc cho biết niên đại tạo tác vào năm ất Dậu, niên hiệu Vĩnh Thịnh, tức năm 1705 dưới triều Vua Lê Dụ Tông). Tại cổng Đền có đôi câu đối viết:
Thiết mã khóa vân cung, tuấn nhạc, linh quang thiên cổ ngưỡng
Thạch long kiều thủy các, sùng từ uy vọng ức niên khâm.
Dịch nghĩa:
Ngựa sắt vượt cung mây, núi cao rạng rỡ ánh thiêng, ngàn năm nhìn ngắm
Rồng đá chầu gác nước, đền lớn nguy nga vẻ đẹp, muôn thuở tôn sùng
Sau cổng chính là tòa Phương đình, kiểu chồng diêm tám mái, cách điệu theo dáng một bông sen, mái trên bờ nóc trổ thủng hoa chanh, vút lên bằng hai đầu kìm hình sừng, đầu đao uốn cong tạo ra thế nhẹ nhàng cho hai tầng mái lợp ngói mũi hài thời Hậu Lê. Bên trái là nhà thiêu hương, cấu tạo giống thủy đình, nhưng nhỏ hơn, lợp ngói ta, kích thước 20x30cm.
Liền nhà Thiêu hương là hai nhà tiền tế khá rộng. Nhà ngoài do Điền Quận công Nguyễn Huy (1610 – 1675), người làng Phù Dực, xã Phù Đổng đứng ra xây dựng. Nhà trong do Trạng Nguyên Đặng Công Chất, người chính làng Phù Đổng, đứng ra hưng công. Phía chính Đông là hai ngôi nhà ba gian do chính cung của chúa Trịnh Sâm là Đặng Thị Huệ (thế kỷ XVIII) quê chính tại Phù Đổng cung tiến. Phía trong là hậu cung nằm trên thế đất cao hơn, bao gồm 3 tòa nhà cấu trúc hình chữ công, tống số 12 gian có tượng Thánh Gióng cao 3m, hai bên có sáu tượng quan văn, quan võ, hai phỗng quỳ và bốn viên hầu cận “tứ trấn”.
Đền còn lưu được cả thảy 21 đạo sắc phong (trong đó đời Lê có 12 đạo, đời Tây Sơn có 3 đạo, đời Nguyễn có 6 đạo). Sắc có niên đại sớm nhất là sắc Đức Long năm thứ 5 (1634).
Trong Đền, còn nhiều hiện vật có giá trị như: chiếc ngai thờ từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII) chạm trổ tinh vi; đôi chim mang nghệ thuật Trung Hoa do Đặng Thị Huệ cung tiến, bình hương, nghê đồng, hai thanh kiếm, câu đối do anh em thi hào Nguyên Du cung tiến năm 1818… Tại Đền còn có một bia đá rất đẹp dựng năm 1660, cũng là một hiện vật hiếm thấy tại các ngối đến khác ở nước ta.
Phía sau đến có một giếng nước trong, gọi là giếng Ngọc.
Từ cổng vào, bên phải của khu đền chính còn các nhà việc, dành cho những người đến dự lễ hội, chia ra các ban tế của các xã xung quanh.
Bên trái của đền là chùa Kiến Sơ.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội chính của đền là hội Gióng. Lễ hội diễn ra từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 4 Âm lịch hàng năm (ngày hội chính là ngày 9/4). Hội Gióng được tổ chức quy mô hơn (5 năm một lần, vào các năm kết thúc là 0 hoặc 5) được gọi là hội chính, các năm còn lại được gọi là hội lệ.
Mùng bảy hội Khám
Mùng tám hội Dâu
Mùng chín đâu đâu cũng về hội Gióng
Xếp hạng
Lễ hội cũng đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Phù Đổng (Khu di tích lịch sử đền Phù Đổng, Khu di tích lịch sử đền Gióng) được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt năm 2013.
Chú thích
[1] Văn Quảng, Văn hóa tâm linh Thăng Long – Hà Nội, Nxb Lao Động, 2009, tr 50.
[2] UBND huyện Gia Lâm, Di tích Lịch sử Văn hóa – Cách mạng kháng chiến huyện Gia Lâm, Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội, 2010, tr 47.
Tham khảo
- UBND huyện Gia Lâm (2010), Di tích Lịch sử Văn hóa – Cách mạng kháng chiến huyện Gia Lâm, Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội.
- Văn Quảng (2009), Văn hóa tâm linh Thăng Long – Hà Nội, Nxb Lao Động.
- Nguyễn Khắc Đoài, Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Phù Đổng (huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội), Website Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch – Cục di sản Văn hoá.
_______________
Các ngôn ngữ khác
1. English
Name and Geographical Location
Lying on the left bank of the Duong River, the Special National Relic of Phu Dong Temple (Den Phu Dong)—also called Upper Temple—stands in Phu Dong village, Phu Dong commune, Gia Lam District, Hanoi. This Kinh Bac heartland is famed for its deep history and enduring cultural traditions, and it is the birthplace of national hero Saint Giong (Thanh Giong).
History and Figures
Saint Giong, venerated as Phu Dong Thien Vuong, is one of Viet Nam’s Four Immortals (Tan Vien Son Thanh, Phu Dong Thien Vuong, Chu Dong Tu, and Princess Lieu Hanh) in Vietnamese folk belief.
According to legend, in the reign of Hung Vuong VI, in Ke Dong (also called Giong Mot, later Dong Xuyen) of the old Vu Ninh commandery (later Tien Du, Bac Ninh; incorporated into Gia Lam from 1961), there lived a vegetable-growing woman who “kept her chastity and did not marry.”
After a stormy night, she saw a gigantic footprint by the riverside eggplant patch, tried her foot in it, picked the trampled yet fresh eggplants and ate them; soon she conceived. Near term, the villagers learned of it and expelled her; she gave birth at Trai Non (now xom Ban).
On the 7th day of the first lunar month, she bore a handsome boy who, for three years, neither spoke nor smiled, lying in a basket slung from a bamboo yoke—hence the name Giong.
One day a royal herald announced an invasion and the king’s call for talent. The boy suddenly spoke for the first time—asking to fight the enemy. He requested an iron horse, iron armor, and an iron spear. After “seven baskets of rice and three baskets of eggplant, and a single draught that drained a stretch of the river,” he grew into a giant, donned iron armor, took the iron spear, and mounted the iron horse.
Receiving orders from the king, Giong led the vanguard against the Yin (An) invaders. Villagers along the route—cowherds, fishermen, farmers—joined the ranks; the generals Duc and Minh of Ha Lo also brought troops. In the thick of battle, Giong’s iron spear broke; he uprooted thorny village bamboos and thrashed the enemy, felling them like reeds. The uprooted grove near Trau Son became the That Gian Marsh; bamboo splinters scattered across Que Duong to Dong Ngan later sprouted into the golden dang-nga bamboo.
After victories at Trau Son and Ha Lo, Giong rode to Bo De wharf to drink from the Red River—his horse’s hoofprint remains impressed on a large stone at Phu Vien village. He crossed the river toward West Lake, tethered his horse to a banyan and bathed—later a shrine was raised at Xuan Tao. After eating rice balls, he toured Dong Anh, Kim Anh, and Hiep Hoa. Hoof-shaped ponds mark his path. At Phu Lo, beneath Phu Ma mountain, he hung his iron armor on a banyan, spurred his horse up Ve Linh (Soc Son) to bow toward his Mother, left his iron helmet and whip, gazed over the land, turned once more toward Ke Dong, and ascended to heaven on the 9th day of the 4th lunar month.
In gratitude, Hung Vuong ordered a temple in his home village, conferred the title Phu Dong Thien Vuong, ennobled his mother as Thanh Mau Bao Vuong, and named the village Phu Dong. Tradition holds that in 1010, upon moving the capital to Thang Long, Ly Thai To built Phu Dong Temple.
Sources record: Hung Vuong established the shrine with endowments of 100 plots of rice land; later Ly Thai To honored him as Xung Thien Than Vuong, set a shrine beside Kien Son Pagoda, and installed a statue at Ve Linh for spring–autumn rites.
After the capital move to Thang Long, Ly Cong Uan (Ly Thai To) further ennobled the hero as Xung Thien Dong Thien Vuong Thanh Vi, renovated the shrine as the Hien Linh Hall, ordered the annual Saint Giong battle-festival, and endowed eight hamlets with 100 mau of fields for perpetual offerings.
Architecture and Setting
The Upper Temple complex occupies over two mau (≈ 0.7 ha), faces south toward the Duong River dike, and comprises: Water-Puppetry Pavilion (Thuy dinh), Main Gate (Nghi mon) with Five-Gate front, Pavilion (Phuong dinh), Worship Hall (Tien duong), Middle Hall (Trung duong), Inner Sanctuary (Hau cung), Side Halls (Ta/Huu mac), stewards’ houses, a three-bay house, guesthouse, and service halls.
Below the dike lies the Puppet Pond, where water-puppetry has animated festival days for centuries. The Thuy dinh is square (42.25 m²), an eight-eaved multi-tier structure roofed with shoe-tile (ngoi mui hai), its Late Le (Cảnh Hung, 1705) wooden reliefs vividly depict folk life (goatherd, bronze-blower, etc.), embodying social ideals: learning, commerce, crafts, and agriculture.
Beyond the brick-paved yard rises the Five-Gate Main Gate, 3.1 m high and 2 m wide, refitted in the late 18th c., bearing the great plaque “Thien Thuong Than.” Flanking are robust pairs of stone dragons and stone lions (inscribed yi mao/Vinh Thinh 1705, reign of Le Du Tong). The couplet at the gate proclaims:
“Iron steed vaults clouded bows; sacred radiance crowns high peaks—admired for millennia.
Stone dragons guard the waterside pavilion; the august temple is revered for myriad years.”
Inside stands the Phuong dinh, an eight-eaved lotus-like pavilion with pierced citrus-blossom cresting; to the left, a smaller Incense-Offering Hall. Two spacious Front Halls follow: the outer built by Dien Quan Cong Nguyen Huy (1610–1675) of Phu Duc, the inner by Doctor-Laureate Dang Cong Chat of Phu Dong. To the east are two three-bay houses endowed by Dang Thi Hue (principal consort of Trinh Sam, 18th c.), a native of Phu Dong.
The higher Inner Sanctuary comprises three Công-plan houses (12 bays) with a 3-m statue of Saint Giong, six attendant civil/military officials, two kneeling acolytes, and four “Four-Q uarters” guards.
The temple preserves 21 royal decrees (sac phong)—12 Le, 3 Tay Son, 6 Nguyen—the earliest dated Duc Long 5 (1634). Other treasures include a finely carved Le Restored throne, a Chinese-style bird pair donated by Dang Thi Hue, bronze incense burners, two swords, and a couplet gifted in 1818 by the brothers Nguyen Du; a particularly fine 1660 stele survives. Behind the temple is the Sacred Well (Gieng Ngoc).
Right of the main axis are festival service houses (for surrounding villages’ ritual guilds); to the left stands Kien So Pagoda.
Events and Festival
The main Giong Festival runs annually 7–9 of the 4th lunar month (principal day 9/4). Every five years (years ending in 0 or 5) the grand festival is held; other years are customary festivals.
Popular verse says:
The seventh—Kham Festival;
The eighth—Dau Festival;
The ninth—everywhere returns to Giong.
Protection Status
The Giong Festival is inscribed by UNESCO on the Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity.
Phu Dong Temple Historic–Artistic Monument (Phu Dong Temple Area / Giong Temple Area) was designated a Special National Relic in 2013.
2. Français
Dénomination et localisation
Situé sur la rive gauche du fleuve Duong, le Temple de Phu Dong (Den Phu Dong) — dit Temple supérieur — se trouve au village de Phu Dong, commune de Phu Dong, district de Gia Lam, Hanoï. Terre du Kinh Bac, il s’agit du berceau du héros national Saint Giong (Thanh Giong).
Histoire et personnages
Phu Dong Thien Vuong (Saint Giong) appartient aux Quatre Immortels du Vietnam (Tan Vien, Phu Dong, Chu Dong Tu, Princesse Lieu Hanh).
La légende, fixée sous Hung Vuong VI, raconte la naissance prodigieuse de Giong, son armement de cheval, armure et lance de fer, sa croissance fulgurante, ses victoires contre les envahisseurs Yin (An), puis son envol vers le ciel le 9e jour du 4e mois lunaire après avoir parcouru Trau Son, Ha Lo, Bo De, Phu Vien, le lac de l’Ouest, Dong Anh, Kim Anh, Hiep Hoa. Les mares en forme d’empreintes de sabots et les bambous “dang-nga” rappellent sa geste.
En reconnaissance, Hung Vuong érigea un sanctuaire, conféra le titre de Phu Dong Thien Vuong, anoblit sa mère (Thanh Mau Bao Vuong), et donna au village le nom de Phu Dong. En 1010, Ly Thai To bâtit le Temple de Phu Dong. Les sources mentionnent ensuite les titres de Xung Thien Than Vuong, la fondation d’un sanctuaire près de la pagode Kien Son et d’une statue au mont Ve Linh, ainsi que la rénovation de la Salle Hien Linh et l’instauration du festival de Saint Giong dotée de rizières perpétuelles.
Architecture et cadre
Le complexe (plus de deux mau) fait face au sud et comprend : pavillon des marionnettes sur l’eau (Thuy dinh), porte principale à cinq baies (Nghi mon), pavillon (Phuong dinh), salle de culte (Tien duong), salle médiane (Trung duong), sanctuaire intérieur (Hau cung), salles latérales, maisons de service, maison à trois travées, maison des invités, etc.
Le Thuy dinh carré (42,25 m²), à toiture à étages (huit avant-toits) et tuiles “mui hai”, porte des décors sculptés (époque Le postérieure, 1705) illustrant la vie populaire.
La porte à cinq baies (3,1 m de haut, 2 m de large) arbore le grand panneau “Thien Thuong Than” et des dragons/lions de pierre (datés 1705, règne Le Du Tong) avec un distique célébrant le cheval de fer et la majesté du temple.
Viennent ensuite le Phuong dinh lotusiforme, la salle des parfums, deux salles antérieures (l’une par Nguyen Huy, 1610–1675 ; l’autre par le docteur lauréat Dang Cong Chat), deux maisons offertes par Dang Thi Hue (favorite de Trinh Sam), puis le sanctuaire intérieur (3 bâtiments en plan Công, 12 travées) avec statue de 3 m de Saint Giong, six officiers, deux acolytes et quatre gardiens.
Le temple conserve 21 décrets royaux (Le, Tay Son, Nguyen ; le plus ancien 1634), un trône finement sculpté (Le restaurée), une paire d’oiseaux d’art chinois (don de Dang Thi Hue), encensoirs, deux épées, un distique des frères Nguyen Du (1818) et une stèle de 1660. À l’arrière se trouve le puits sacré (Gieng Ngoc). À gauche : pagode Kien So.
Fêtes
Le festival de Giong a lieu les 7–9 du 4e mois lunaire (jour principal 9/4) ; la grande fête se tient tous les cinq ans (années finissant par 0 ou 5).
Classement
Le festival de Giong est inscrit par l’UNESCO sur la Liste représentative du patrimoine culturel immatériel de l’humanité.
Le Temple de Phu Dong a été classé Site national spécial en 2013.
3. 中文(繁體)
名稱與地理位置
扶董祠(又稱上殿),位於越南河內市嘉林縣扶董社扶董村,地處舊京北之地,臨左岸紅河支流瀘江。此地山川靈秀,人傑地靈,自古文風鼎盛。祠宇所依之地,正為民族開國初期英靈聖跡之一——聖母誕聖之所,為越南「四不朽」之一聖——扶董天王(聖象降誕之地)。
歷史與人物
扶董天王,即聖象,又稱扶董聖公,列為越南民間信仰「四不朽」之一(即:傘圓山聖、扶董天王、朱童子、公主柳杏)。
傳說載:雄王第六世時,武寧部之杳董村(即今扶董)有婦人種蔬為生,貞潔自守。偶一日晨起園中,見巨足印於茄畦,試以己足踐之,忽覺異氣入體,遂懷孕。村人訝之,逐出村外,乃至嫩寨(今班坊)產一子。
七月初七日(農曆正月七日)誕育一嬰,容貌端正,而三載不語,終日臥於竹架之上,故人呼為「象子」。
當時國有外寇,王遣使徵募壯士。象忽啟口言:「請為我鑄鐵馬、鐵甲與鐵鞭,我當滅敵救國。」遂食七筐飯、三筐茄,飲一口水盡一河,化為巨人,披甲執鐵鞭,乘鐵馬而行。
象馳馬領兵,討伐殷寇,兩將翼、明率師相從。戰至激烈之際,鐵鞭折,象拔村中竹以為兵,揮之如雷,寇眾披靡。其所拔竹地,後成沼澤名曰「七間塘」。竹折碎遍地,後生黃節竹,名「藤牙竹」。
勝寇後,象馳馬至蒲提津(今紅河邊),馬蹄陷石成印;復渡河上西湖,繫馬於榕樹,浴於湖中。後民感德,於春草村建祠奉祀。象復北上,至扶魯、衞靈山(索山),解甲懸於榕枝,留鐵笠、鐵鞭,叩首遙拜母親,仰觀山川田野,遂騎馬昇天。是日農曆四月初九日。
雄王感其功,封為「扶董天王」,其母封為「聖母保王」,令建祠於故里,賜田百頃,以供香火。李太祖建都昇龍(1010)時,重修此祠,命名顯靈殿,並加封「沖天神王」。
建築與景觀
今扶董祠(上殿)佔地二畝餘,坐北朝南,臨瀘江堤岸。祠區佈局嚴整,前後依次有:水亭、五門樓(五闕門)、方亭、前殿、中殿、後殿,並左右廂房、齋堂、客舍諸建築。
堤下有水戲池,為百年來舉行水傀儡戲之所。水亭方形,面積四十二平方米,建「重簷八頂」之制,覆瓦如履,雕飾精緻,題材多取民俗生活,如牧羊、吹管等景。其上有對聯:「君子竹祖心逢美祿;丈夫松仰面射鳳凰」,寓意民智為本,四業並興。
進入祠門,見五闕門磚構,高三.一米,闊二米,中題「天上神」橫匾。門前有石龍、石獅各一對,雕於永盛乙酉(1705)年黎裕宗朝。聯曰:
「鐵馬跨雲宮,俊嶽靈光千古仰;
石龍橋水閣,崇祠威望億年欽。」
門後為方亭,八頂重簷,象蓮花盛開,屋脊鏤花穿透,簷角飛翹。其左為焚香殿,右為齋房。
再進為兩層前殿:外殿由田郡公阮輝(1610–1675)倡建,內殿由狀元鄧公質主持。東側有三間屋為鄧氏惠(鄭森妃)供獻。後殿在高阜之上,為「工」字形結構,共十二間,中央奉聖象銅像,高三米,左右侍立文武官像六尊,俯伏侍者二,及「四鎮」侍衛四員。
祠內今存歷代敕封二十一道:黎朝十二、阮朝六、西山朝三。最早者德隆五年(1634)。其餘文物尚有:黎中興期御座雕刻精美、惠氏所獻中華銅鳥一對、銅獅、香爐、雙劍、阮攸兄弟於1818年所獻聯對、石碑一方,刻於1660年,石質瑩潤,文字工整。後殿後方有「玉井」,泉清不竭。
左側為建山寺(即今建初寺),右側設祭典行房,供諸社輪班祭祀之用。
節慶與祭典
扶董祠最盛之祭典為「象會」(又稱「扶董會」),每年農曆四月七日至九日舉行,以初九為正會。凡逢末位「五」或「零」之年,舉辦大會,稱「正會」;其餘為「例會」。
民諺曰:
「七日會勘,八日會油,九日四方同赴象會。」
會期中有巡神、獻供、水戲、武陣演習諸儀式,重現聖象征伐之功。
等級與保護
扶董象會於2010年被聯合國教科文組織(UNESCO)列入《人類非物質文化遺產代表作名錄》。
扶董祠歷史建築群(含象祠、顯靈殿、建山寺等)於2013年奉越南政府總理決定,列為「國家特別級歷史建築藝術遺址」。


