Chùa Lạc Thị (Linh Quang Tự – Thanh Trì, Hà Nội)

Chùa Lạc Thị (Linh Quang Tự – Thanh Trì, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Giới thiệu chung

Chùa Lạc Thị có từ cuối thế kỷ XVII, tên chữ là Linh Quang tự, thuộc làng Lạc Thị, xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Lược sử

Chùa Lạc Thị được xây vào khoảng niên hiệu Chính Hòa (1680-1705). Căn cứ vào nội dung bài ký khắc trên tấm bia đá cổ nhất còn sót lại thì chắc chùa đã có từ trước năm 1716. Chùa từng nhiều lần được sửa chữa và tôn tạo vào những năm Cảnh Hưng 14 (1753), Minh Mệnh 6 (1825), Bảo Đại 9 (1935) rồi 1954, 1973 và đầu thế kỷ XXI. Đặc biệt lần cải tạo lớn bắt đầu từ cuối thập niên 2010 đã làm thay đổi hoàn toàn quy mô và dáng dấp của ngôi chùa cũ.

Thờ tự

Chùa thờ các vị Tổ sư tại ngôi Tổ đường. Theo lời của hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, “ Phật giáo thờ các vị Tổ sư thì thờ từ Tổ Đệ nhất Ca Diếp sau khi nhận y bát của Đức Phật Thích Ca truyền trao. Ngài là Đệ nhất Tổ sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, cho tới các vị trụ trì tới ngày hôm nay”.

Trụ trì chùa

Hiện nay chùa Linh Quang do Hòa thượng Thích Thanh Nhã – Ủy viên Thường trực HĐTS Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Phó trưởng ban Thường trực Ban nghi lễ Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm trụ trì.

Kiến trúc

Chùa Linh Quang quay mặt về hướng đông nhìn ra sông Tô Lịch, cổng Tam Quan được xây lại và dịch chuyển vị trí về phía Bắc khoảng 30m. Chùa Linh Quang có quy mô khá lớn, bố cục của chùa bao gồm: Tam quan, Tiền đường, Thượng điện và nhà Tổ

Tam quan

Tam quan của chùa gồm 3 cổng đồ sộ đều cao 3 tầng, mỗi cổng có 4 trụ biểu ở hai phái trước và sau. Mặt trước giáp với vỉa hè con đường Vĩnh Quỳnh khá rộng và được trải nhựa. Sau cổng là một sân gạch rất lớn dẫn đến bậc thềm cao đưa khách lên chùa chính.

Ở tầng thứ nhất chia làm 3 cửa cuốn vòm gồm 1 cửa chính và 2 cửa phụ mang ý niệm về 3 cách nhìn của đạo Phật, đó là Hữu quan, Không quan và Trung quan, thể hiện cái sắc là giả, cái không là vô thường và Trung quan mang ý nghĩa trung dung cho cả hai.

Có thể nói rằng:

  • Không quan có nghĩa là nhìn, xem và quan sát, cái gì cũng có nhưng cũng là không
  • Hữu quan có nghĩa là sự vật thì biến hóa vô cùng, nhưng cái gì cũng có.
  • Trung quan nghĩa là không phải là không mà cũng không phải là có, tức nó ở giữa, vừa có vừa không và con đường đi đến Phật là con đường chân thật

Hai cửa phụ còn được gọi là Tả môn và Hữu môn, bên trên đắp 2 chữ Hán: Tùy duyên và Phương tiện. Từ cổng chính ở tầng thứ 2 làm thêm 1 tầng nữa với 4 mái đao cong, bên trong tầng này bài trí pho tượng Hộ pháp Vi Đà với đại nguyện bảo vệ Tam bảo. Bên trên mái, bờ nóc gắn 3 bảo tháp Cửu phẩm liên hoa như một biểu trưng cho tông phái Tịnh độ ở ngôi chùa này.

Tiền đường

Qua khoảng sân vào chùa chính có kết cấu chữ Cộng với năm gian hai dĩ, Tiền đường và Thiêu hương làm theo kiểu hai tầng tám mái đao, quanh cổ diêm là các bức hoành phi đắp chữ Hán.

Chính giữa nóc Tiền đường đắp nổi 3 chữ Linh Quang tự. Phần cổ diêm giữa hai tầng là các bức hoành phi đắp chữ Hán như Pháp Vương vô thượng tôn, … Hai bên là hai chữ Thanh và Tĩnh như nhắc phật tử vào chùa cần phải trang nghiêm thanh tịnh. Các bộ vì Tiền đường được làm theo kiểu thượng giá chiêng chồng rường con nhị, hai vì hồi bưng ván trên hai hàng chân cột. Tại đây bài trí bàn thờ Đức Ông bên trái và bàn thờ Thánh Tăng bên phải. Bên cạnh đó là hai pho Hộ Pháp Khuyến Thiện và Trừng Ác.

Thượng điện

Thượng điện nằm song song với Tiền đường nối từ Thiêu hương được làm 3 tầng tạo sự cao, sâu và cũng tạo thêm diện tích để bài trí tượng Phật.

Thượng điện bài trí các lớp tượng như sau: Lớp 1 là bộ tượng Tam Thế Thường Trụ Diệu Pháp Thân hay Tam Thế Tam Thiên Phật; lớp 2 là bộ tượng Tây Phương Tam Thánh; lớp 3 là  tượng  Thích Ca Niêm Hoa hay Niêm Hoa Vi Tiếu; lớp 4 là Phật Di Lặc được gọi là Đấng Từ Tôn ( Từ Thị), được coi là vị Phật cứu thế; lớp 5 là Phật Chuẩn Đề hay Bồ Tát Chuẩn Đề, Chuẩn Đề Phật Mẫu… mang ý nghĩa là thanh tịnh; lớp 6 là tượng Thích Ca nhập Niết bàn; lớp 7 là tòa Cửu Long và tượng Thích Ca Sơ Sinh. Ngoài ra, ở hai bên hồi là Bồ Tát Quan Âm  ở bên trái và Bồ Tát Địa Tạng ở bên phải và đây cũng là nơi bài trí của bộ tương Thập Điện Diêm Vương.

Nhà Tổ

Tại nhà Tổ phía sau chùa còn bài trí tượng các vị Tổ đã từng trụ trì. Trong khuôn viên chùa có một tháp mộ sư cao 3 tầng.

Cảnh quan của chùa Lạc Thị cũng cho thấy công trình này đã được xây dựng trên cùng một khu đất cao của làng và luôn được mọi người dân trong làng gìn giữ nét đẹp cổ kính xưa.

Di vật 

Trong ngôi chùa Linh Quang trước đây có một hệ thống đầy đủ các tượng Phật giáo Bắc tông, in đậm phong cách nghệ thuật điêu khắc của thế kỷ XIX (thời Nguyễn). Đến bây giờ, chùa Lạc Thị còn lưu giữ được một số di vật quý: tấm bia đá cổ mang niên đại Vĩnh Thịnh thứ 11 (1706 – 1719) và 8 bia khác có niên đại từ cuối thời Lê cho đến thời Nguyễn, 2 quả chuông đồng cùng nhiều đôi câu đối, hoành phi cỡ lớn, …

Sự kiện – Thành tích

Ngày 9-1-1990, chùa Linh Quang đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

__________________________________

Các ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Lac Thi Pagoda, also known as Linh Quang Pagoda, has a history of over three hundred years, built around the Chính Hòa period (1680-1705). However, based on the content on the remaining ancient stone stele, it shows that the pagoda may have existed before 1716. The pagoda has undergone several repairs and upgrades in various periods, from the 18th century to the early 21st century.

The pagoda worships the ancestral masters, and currently, it is led by Venerable Thích Thanh Nhã, an important member of the Permanent Council of the Vietnam Buddhist Sangha. The architecture of the pagoda is very special, with the Tam Quan gate rebuilt and relocated, as well as parts like the Front Hall, Upper Hall, and Ancestral House meticulously and skillfully decorated.

Lac Thi Pagoda was recognized as a national architectural and artistic relic on January 9, 1990, and in this pagoda, many precious artifacts from the Lê to Nguyễn dynasties are still preserved. The landscape around the pagoda also reflects the reverence and respect of the villagers who diligently preserve it.

Tiếng Trung (Chinese)

樂氏寺,又被稱為靈光寺,歷史超過三百年,建於正和時期(1680-1705)。然而,根據剩餘的古老石碑上的內容,顯示這座寺廟可能在1716年之前就已存在。這座寺廟在18世紀至21世紀初經歷了幾次修復和升級。

寺廟供奉祖師,目前由越南佛教僧團常設理事會的重要成員Thích Thanh Nhã尊者領導。該寺的建築非常特別,Tam Quan門重建並重新定位,還有前殿、上殿和祖屋等部分被精心裝飾。

1990年1月9日,樂氏寺被確認為國家建築和藝術遺產,在這座寺廟中,從黎朝到阮朝的許多珍貴文物仍被保存下來。寺廟周圍的景觀也反映了村民對其的尊崇和尊重,他們勤奮地保護著它。

Tiếng Pháp (French)

Le pagode Lac Thi, également connue sous le nom de pagode Linh Quang, a une histoire de plus de trois cents ans, construite autour de la période Chính Hòa (1680-1705). Cependant, selon le contenu de la stèle en pierre ancienne restante, il semble que la pagode puisse avoir existé avant 1716. La pagode a subi plusieurs réparations et mises à niveau à différentes époques, du XVIIIe siècle au début du XXIe siècle.

La pagode rend hommage aux maîtres ancestraux, et actuellement, elle est dirigée par le Vénérable Thích Thanh Nhã, un membre important du Conseil permanent de la Sangha bouddhiste du Vietnam. L’architecture de la pagode est très spéciale, avec la porte Tam Quan reconstruite et déplacée, ainsi que des parties comme le Hall avant, le Hall supérieur et la Maison ancestrale décorées avec soin et habileté.

La pagode Lac Thi a été reconnue comme un site national de patrimoine architectural et artistique le 9 janvier 1990, et dans cette pagode, de nombreux artefacts précieux des dynasties Lê à Nguyễn sont toujours préservés. Le paysage autour de la pagode reflète également le respect et l’admiration des villageois qui la protègent avec diligence.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)