Miếu Lạc Thọ Đình (Nam Từ Liêm, Hà Nội)

Miếu Lạc Thọ Đình (Nam Từ Liêm, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Miếu Lạc Thọ Đình, thường được gọi ngắn gọn là Lạc Thọ Đình, tọa lạc tại xã Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Đây là một công trình kiến trúc mang tính tín ngưỡng và tưởng niệm, gắn liền với danh nhân Thám hoa Nguyễn Quý Đức, Tể tướng triều Lê – Trịnh. Tên gọi “Lạc Thọ Đình” bắt nguồn từ tư tưởng trong sách Luận Ngữ: “Người trí sống thọ, người nhân sống vui”, thể hiện khát vọng về sự an lạc và trường thọ. Đây cũng là nơi được xây dựng để làm nhà khách, đón tiếp vua chúa và các vị quan trọng thời Nguyễn Quý Đức còn sinh thời.

Lịch sử và nhân vật

Miếu Lạc Thọ Đình được Thám hoa Nguyễn Quý Đức khởi dựng vào năm Kỷ Tỵ (1709) và khánh thành vào năm Tân Mùi (1711). Sau khi cáo quan hồi trí vào năm 1717, Thám hoa đã sử dụng công trình này như một nhà khách trong những năm cuối đời (1717–1720). Vào năm 1719, Chúa Trịnh Cương từng xa giá đến thăm, cùng với đó là các quan đồng liêu như Đặng Đình Tướng, Nguyễn Đăng Bảo. Sau này, nhiều học giả và nhân sĩ cũng từng tới đây, trong đó có Tri phủ Phạm Khắc Gia – người đã để lại nhiều bút tích ngợi ca công trạng của Tam vị Đại vương họ Nguyễn Quý.

Trải qua các thế hệ, nơi đây trở thành địa điểm hành lễ, tưởng niệm vị đại thần Nguyễn Quý Đức. Theo gia phả, con cháu hậu duệ đã từng bước biến đổi công trình từ nhà Lạc Thọ sang thành miếu thờ, với sự đầu tư chỉnh chu cả về thiết kế nội thất và các linh vật truyền thống như thạch mã (ngựa đá), thạch khuyển (chó đá).

Kiến trúc cảnh quan

Miếu Lạc Thọ Đình mang dáng dấp kiến trúc truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Dáng kiến trúc theo kiểu nhà chữ “Quốc”, hình vuông, mỗi cạnh dài 8m. Công trình gồm hai vì gỗ, thượng chồng rường, hạ kẻ bảy, tạo thành bốn mái truyền thống. Bốn đầu đao được đỡ bằng bốn trụ gạch lớn, thể hiện sự bền vững và trang trọng. Ngói lợp là loại ngói cỡ đại 30x30cm, đặc biệt có chân móc ngói, giúp giữ ngói chắc chắn trên mái. Kết cấu kiến trúc chủ yếu bằng gỗ, với hệ mái lợp ngói, tường gạch bao quanh. Công trình từng được tu sửa lớn vào năm 1936 (sửa phần gỗ mái) và đặc biệt là vào năm 2018, toàn bộ tường, mái, khung gỗ và ngói được trùng tu theo quy mô cũ. Vật liệu đều được đặt làm riêng, tái hiện đúng nguyên mẫu nhằm giữ gìn tính nguyên bản của di tích.

Trước đình có sân lát gạch truyền thống và các kiến trúc phụ trợ hài hòa trong tổng thể cảnh quan cổ kính. Hai cặp câu đối cổ hiện vẫn còn, được làm lại vào năm 2018 nhưng vẫn để mộc, giữ đúng tinh thần cổ tự.

Hiện vật

Miếu Lạc Thọ Đình hiện còn bảo tồn được nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật cao, phản ánh truyền thống thờ tự và sự tri ân hậu thế đối với công lao của Thám hoa Nguyễn Quý Đức. Trong những hiện vật tiêu biểu là các bức hoành phi và câu đối cổ

Bức hoành phi:

息休下天 

Thiên hạ hưu tức

Bốn chữ Thiên hạ hưu tức lấy từ câu Tể tướng Quý Đức thiên hạ hưu tức có nghĩa: Có tể tướng Quý Đức, thiên hạ được yên vui. Đây là sự đánh giá công bằng, phần thưởng cao quý cho con người ở ngôi cai trị thời trên là vua, chúa dưới là trăm họ cần lao. Bức hoành nguyên bản không còn, nhưng đã được phục dựng đúng vị trí cũ vào năm 2018, hiện vẫn giữ nguyên ở dạng mộc để bảo tồn nét mộc mạc ban đầu.

Biển đề tên miếu được lập ngay từ năm khánh thành công trình 1711, là minh chứng lịch sử cho quá trình hình thành và tên gọi chính thức của công trình này.

亭壽樂

Lạc Thọ đình 

Các câu đối tại ban thờ, cửa tả và cửa hữu, mang giá trị văn chương và triết lý sâu sắc. Trong đó có đôi câu đối do bản xã chánh hương hội Lê Văn Điền bái phụng năm Khải Định Ất Sửu (1925), cùng các đôi câu đối cổ khác thể hiện rõ đặc điểm văn hóa Nho giáo và niềm tự hào dòng tộc:

Câu đối tại ban thờ:

為相為神橋梓蓮株濃湛露
有民有社枌輸故里沐餘菠

Vi tướng vi thần kiều tử liên châu nồng trạm lộ
Hữu dân hữu xã phần du cố lý mộc dư ba.

(Khải Định Ất Sửu Hạ (1925)
Bản xã chánh hương hội Lê Văn Điền bái phụng)

Câu đối ở cửa tả:

地出王侯相繼世
人傳文物一名香

Địa xuất vương hầu tướng kế thế
Nhân truyền văn vật nhất danh hương

Câu đối ở cửa hữu:

雪嶺春深喬木古
松溪水潤岸花光

Tuyết lĩnh xuân thâm kiều mộc cổ
Tùng khê thủy nhuận ngạn hoa quang

Đặc biệt, miếu còn lưu giữ được bút tích và thơ vịnh của Tri phủ Phạm Khắc Gia (người Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Làm quan đến tri phủ phủ Thiệu Thiên, Thanh Hóa thời Cảnh Hưng) đã đề tại miếu năm 1798. Bài thơ và câu đối do ông sáng tác không chỉ ca ngợi công đức Thám hoa Nguyễn Quý Đức mà còn nâng tầm vùng đất Thiên Mỗ thành một trong “Tứ đại danh hương đất kinh kỳ”.

Bản nguyên văn chữ Hán

端拜名祠動懷先哲偶成疽詩一律對句一聯
其詩:舊傳公母喝水天星落入水壅懷胎十三月始生

 

 

其對句:   公爲相時天下歌曰
                宰相貴德天下休息

1a  休息民生四海頌聲千古美
1b  就将聖學三朝請坐一家私

歲在戊午仲春穀日
紹天舊守鲁齋居士古慈廉
東鄂坊笵克家 拜

Bản phiên âm dịch, dịch nghĩa

Kính cẩn đến bái ngôi từ đường danh tiếng, cảm động nhớ bậc tiên triết, ngẫu hứng viết thành thơ luật một bài, câu đối một vần.
Truyền thuyết cũ kể về mẹ ông uống nước có sao trời rơi vào vò nước hoài thai 13 tháng mới sinh ra ông.

Sáng rực thai tinh giáng cự nho
Danh đề khoa bảng chói kim âu
Ba triều tỏa ánh công tràn sử
Bẩy cổn theo vua ổn định trào
Đỉnh giáp một nhà thiên hạ có
Phúc thần ba vị xưa nay không
Muôn năm miếu vũ bừng trời đất
Sơn đẩu ngất cao người ngẩng theo

Câu đối:

Khi ông làm Tể tướng thiên hạ từng ca ngợi
“Tể tướng Quý Đức thiên hạ hưu tức”:

Hưu tức dân sinh tứ hải tụng thanh thiên cổ mỹ
Tựu tương thánh học tam triều thỉnh tọa nhất gia tư

(Tuế tại Mậu Ngọ trọng Xuân cốc nhật(1798)
Thiệu Thiên quan thủ, Lỗ Trai cư sĩ, cổ Từ Liêm
Đông Ngạc phường Phạm Khắc Gia bái vịnh.)

Đặc biệt câu luận trong bài thơ:

Đỉnh giáp nhất môn thiên hạ hữu
Phúc thần tam diệp cổ lai vô

Hai câu này đã được hậu thế chọn làm câu đối treo ở gian giữa từ đường họ Nguyễn Quý, khắc ghi một gia phong kiệt xuất mà từ xưa đến nay vẫn chưa có dòng họ có được (ba đời nối nhau khi sống được phong Vương, khi hóa được phong Phúc Thần).

Sự kiện và lễ hội

Miếu không tổ chức lễ hội riêng biệt mà thường được lồng ghép trong các hoạt động tế lễ, tưởng niệm chung của dòng họ và dân làng Đại Mỗ vào dịp hội làng và lễ giỗ các vị Tam Đại Vương, nhất là vào ngày Rằm tháng Hai âm lịch hằng năm.

Xếp hạng

Hiện nay, Miếu Vườn Chùa chưa có xếp hạng di tích riêng, nhưng nằm trong quần thể các công trình tưởng niệm Tam Đại Vương, được xếp hạng là Di tích lịch sử lưu niệm danh nhân cấp quốc gia năm 1986.

Tài liệu tham khảo

  1. Thế phả họ Nguyễn Quý, Tư liệu gia truyền họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ.
  2. Phạm Khắc Gia. (1798). Bút tích đề thơ tại nhà thờ họ Nguyễn Quý. Bản lưu trong gia phả, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
Chính diện

Nội dung chính

Một bình luận

  1. Avatar photo
    Nguyễn Quý Sản

    hệ thống nghi môn,
    Bỏ câu trên vì không có

  2. Avatar photo
    Nguyễn Quý Sản

    tiền đường,
    Thay bằng ban thờ

  3. Avatar photo
    Nguyễn Quý Sản

    Trải qua các thế hệ, nơi đây trở thành địa điểm hành lễ, tưởng niệm các vị tiền nhân, đặc biệt là ba vị đại thần Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân và Nguyễn Quý Kính, được nhân dân và con cháu tôn xưng là Tam vị Đại vương. Theo gia phả, con cháu hậu duệ đã từng bước biến đổi công trình từ nhà khách sang miếu thờ, với sự đầu tư chỉnh chu cả về thiết kế nội thất và các linh vật truyền thống như thạch mã (ngựa đá), thạch khuyển (chó đá)
    Đoạn trên được sửa lại như sau
    Trải qua các thế hệ, nơi đây trở thành địa điểm hành lễ, tưởng niệm vị đại thần Nguyễn Quý Đức. Theo gia phả, con cháu hậu duệ đã từng bước biến đổi công trình từ nhà Lạc Thọ sang thành miếu thờ, với sự đầu tư chỉnh chu cả về thiết kế nội thất và các linh vật truyền thống như thạch mã (ngựa đá), thạch khuyển (chó đá)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)