Nhà thờ Tam Đại Vương họ Nguyễn Quý (Đại Mỗ, Hà Nội)

Nhà thờ Tam Đại Vương họ Nguyễn Quý (Đại Mỗ, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Nhà thờ Tam Đại Vương họ Nguyễn Quý còn được biết đến với tên gọi “Nguyễn tộc từ đường” hay “Tam vị đại vương từ đường”, tọa lạc tại phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội). Đây là trung tâm thờ tự chính của dòng họ Nguyễn Quý, một trong những dòng họ khoa bảng tiêu biểu của đất Thăng Long xưa, nổi bật với ba đời làm quan lớn trong triều đình Lê – Trịnh. Tên gọi “Tam Đại Vương” dùng để tôn xưng ba vị tổ là Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý ÂnNguyễn Quý Kính – những người có công trạng lớn với triều đình và nhân dân, được phong thần và thờ tự trang trọng tại đây.
Bên cạnh nhà thờ chính, hệ thống thờ tự còn bao gồm các miếu thờ riêng ba vị Đại vương: Miếu Lạc Thọ Đình, Miếu Vườn ChùaMiếu Thái Sơn Bắc Đẩu, đều nằm trong địa phận phường Đại Mỗ, góp phần tạo nên một quần thể di tích liên hoàn và độc đáo.

Lịch sử và nhân vật

Huyền tích phát tích dòng họ

Thế phả của họ Nguyễn Quý chép rằng: Tổ mẫu ba đời của Nguyễn Quý Đức mất ngày 19 tháng 5, được an táng tại xứ Mả Kiệt. Trong ngày đưa tang, khi linh cữu đến xứ Mả Kiệt thì trời bất ngờ nổi cơn mưa to gió lớn, mây gió vần vũ khiến đoàn đưa tang không thể tiếp tục, phải tạm nghỉ trú mưa từ sáng đến gần tối. Khi quay lại, thấy “mối đã đùn thành ngôi mộ, ý thần nhân là vậy“. Ngôi mộ đó về sau được xác định theo la kinh là tọa thế “Cấn long đinh hướng“, là đất “Đại địa phát văn chương“. Đây là ngôi mộ phát phúc của dòng họ, và cũng là ngôi mộ thiên táng đầu tiên ở tổng Thiên Mỗ. Hậu thế ngày sau giở sách mới biết đất đó đã được trời dành cho họ Nguyễn Quý từ 500 năm trước.

Theo sách Nam Hải dị nhân liệt truyện của cử nhân Phan Kế Bính cũng trích dẫn một đoạn liên quan đến địa linh này. Theo đó, khi Tả Ao đi qua làng Thiên Mỗ, thấy một ngôi đất to, định dùng để táng cho một người thuộc họ Trần. Tuy nhiên, khi đặt tróc long xuống đất thì “tróc long đỗ ba lượt“. Tả Ao niệm chú gọi Thổ thần, được trả lời rằng: “Đất này phát ba đời quốc sư đại vương, con cháu công hầu không bao giờ hết. Giời đã để cho nhà Nguyễn Quý Đức; còn nhà họ Trần kia ít hổng phúc, không kham nổi được đất này“. Sau đó, Tả Ao đặt cho họ Trần một ngôi đất bên cạnh, dặn rằng nếu phát đến Tể tướng thì phải chuyển mộ đi, nếu không thì con cháu sẽ bị phiêu bạt. Quả đúng như vậy, sau này dòng họ Trần có người phát đến Tể tướng thì hậu duệ phải ly tán bốn phương. Cả hai ngôi mộ của họ Nguyễn và họ Trần đến nay vẫn còn nguyên vẹn.

Ba đời Phúc Thần

Nhà thờ là nơi thờ phụng ba vị danh nhân của dòng họ Nguyễn Quý, được tôn xưng là Tam Đại Vương. Nguyễn Quý Đức (1648 – 1720) là Thám hoa, Thiếu phó, Tham tụng, từng giữ chức Binh bộ Thượng thư dưới triều Lê – Trịnh, nổi danh là bậc hiền lương chính trực, hết lòng vì nước. Con trai ông là Nguyễn Quý Ân (1692 – 1766), nối nghiệp cha làm quan đến chức Tể tướng. Cháu nội Nguyễn Quý Đức, con trai Nguyễn Quý Ân là Nguyễn Quý Kính – một học giả uyên bác đã đóng góp nhiều cho việc giáo hóa và trị quốc. Sau khi ba vị qua đời, đều được triều đình phong thần và dân làng Thiên Mỗ phụng thờ với lòng kính trọng sâu sắc.

Tại miếu Lạc Thọ Đình còn lưu giữ bút tích và thơ vịnh của Tri phủ Phạm Khắc Gia (người Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Làm quan đến tri phủ phủ Thiệu Thiên, Thanh Hóa thời Cảnh Hưng) đề tại miếu năm 1798, có một câu thơ như sau:

Đỉnh giáp nhất môn thiên hạ hữu,
Phúc thần tam diệp cổ lai vô.

Một nhà khoa giáp thiên hạ từng có,
Ba đời làm phúc thần chưa thấy ở thế gian.

Năm 2019, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã phối hợp với Trung tâm Hoạt động VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức lễ kỷ niệm 370 năm ngày sinh Quốc lão, Đại vương, Thám hoa Nguyễn Quý Đức; 345 ngày sinh Quốc sư, Đại vương, Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân; 325 năm ngày sinh Quốc sư Công vị Đại vương Nguyễn Quý Kính, và trao tượng đồng danh nhân Nguyễn Quý Ân cho dòng họ Nguyễn Quý tại di tích Quốc gia Đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Kiến trúc cảnh quan

Bốn đời thủy tổ họ Nguyễn Quý định cư tại ngõ Đống Điếm, thuộc tổ dân phố Đình số 1. Tại đây hiện vẫn còn lưu giữ nhà thờ thủy tổ và nhà thờ chi Giáp, những công trình và mảnh đất tổ tiên ấy là minh chứng rõ rệt cho bề dày truyền thống của một dòng họ lâu đời trên đất Thiên Mỗ. Trong số các hậu duệ, cụ Nguyễn Quý Đức là người con út, cũng là người thứ hai trong gia đình.

Căn cứ vào văn bia có niên đại sớm nhất hiện còn là năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), có thể xác định rằng nhà thờ đã được xây dựng từ trước đó. Bia mô tả nhà thờ vào thời điểm ấy rất “nguy nga tráng lệ”, phản ánh vị thế quan trọng của công trình ngay từ đầu. Theo lời hậu nhân của dòng họ, Hậu cung của nhà thờ là ngôi nhà gỗ năm gian được làm vào năm 1670 khi Nguyễn Quý Đức đỗ khoa Hoành từ được bổ làm quan vào hàng Thị nội văn chức. Khi Thám hoa Nguyễn Quý Đức mất năm 1720 nhà ở được chuyển thành nơi thờ tự đồng thời xây nhà đại bái, tả mạc, hữu mạc công việc kéo dài đến năm 1736, tiếp tục công việc tôn tạo xây nghi môn, bình phong hồ bán nguyệt. Vào năm Đinh Hợi, niên hiệu Minh Mạng (1827), nhà Tiền tế được nâng cấp, là dấu mốc định hình nên diện mạo kiến trúc hiện tại. Năm 1992 kè đá hồ lớn. Đến năm Quý Hợi, niên hiệu Khải Định (1923), dòng họ lập bức hoành phi với bốn chữ “TAM ĐẠI VƯƠNG TỪ ĐƯỜNG” chính là tên chữ chính thức của nhà thờ. Khi lập hồ sơ xếp hạng di tích năm 1986, tên gọi “Nhà thờ Tam Đại Vương họ Nguyễn Quý” cũng được xác lập và ghi nhận trong văn bản hành chính. Tuy nhiên, trong đời sống thường nhật, người dân và con cháu trong họ vẫn quen gọi đơn giản là “nhà thờ” hoặc “nhà thờ họ Nguyễn Quý”. Lần gần nhất là năm 2020, trùng tu nhà hữu mạc, tả mạc, kè đá hồ bán nguyệt, xây hàng rào làm cổng.

Khu di tích nhà thờ (theo tờ bản đồ số 3 lập năm 1992) mô tả từ ngoài vào trong: Ngoài cùng là hồ lớn 1700m2 có tạo lập hòn đảo nhỏ ở giữa được kè bờ bằng đá hộc.
 
Tiếp theo là hồ nhỏ hình bán nguyệt diện tích mặt nước 360m2 hai hồ tạo thành thế “lưỡng hồ song đối” . bốn góc hồ có bốn cây muỗm cổ thụ loại cây có thân to thẳng, lá xanh quanh năm, có quả màu vàng hương thơm vị ngọt tượng trưng cho sự trường tồn, vững chắc.
 
Cổng dẫn vào kề với hồ bán nguyệt dẫn đến nghi môn là đôi đồng trụ lớn trên đỉnh là hình tượng chim phượng quay đầu ra bốn hướng, lồng đèn chạm tứ linh, có dây nho quấn quanh. Chân cột có đôi thạch khuyển. Phía trước nghi môn chừng 8m là bình phong dạng cuốn thư xây gạch đắp vữa hình tượng sư tử hý cầu. Sân gạch rộng 276m2 lát gạch bát vuông, hai bên sân là hai dãy tả, hữu mạc mỗi dãy 5 gian. Tả mạc đồng thờ là nhà bia chứa ba trụ bia hộp, hữu mạc là nơi bày cỗ bàn những ngày lễ trọng. Nhà đại bái gồm 7 gian 2 dĩ, đầu hồi bít đốc, phía trước có hai trụ biểu, cánh phong trổ cửa đi sang hai bên, hai gian hồi xây bệ gạch. Bộ vì kèo theo kiến trúc chồng rường giá chiêng, bảy hiên chạm trổ hoa lá cách điệu đơn giản.
 
Kiến trúc của đại bái, tả hữu mạc, nghi môn, bình phong, hồ bán nguyệt mang đậm phong cách nghệ thuật đặc trưng của thời Nguyễn.
 
Nhà hậu cung 5 gian cửa bức bàn, quá giang vượt, vì kèo theo lối kẻ chuyền, bảy hiên, kết cấu gỗ đều đơn giản không chạm trổ, bào trơn đóng vuông, gỗ tốt chưa phải trùng tu. Từ cột con đến tường hậu xây bệ gạch tạo thành giường cầu để khám thờ , ngai thờ. Sập thờ bằng gỗ, chân quỳ thấp được đỡ bằng trụ gạch xây.
 
Bên ngoài đầu hồi hậu cung có cây hương với hai chữ “Linh Ứng” theo sự tích Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân có người con trai khoảng mươi tuổi đã theo chân cha vào phủ Chúa, nhà chúa thấy khôi ngô đã chấm cho quận chúa. Không may người con trai ấy lại yểu mệnh, khi quận chúa đến tuổi cập kê chấm vào đám nào cũng không thành, nhà chúa nhớ đến lời hứa hôn năm trước bèn phong cho chức Quận công phò mã, sai lập cây hương thờ đồng thời làm lễ cắt duyên âm, quận chúa lại nên duyên mới. Đời sau mọi người đến kêu cầu đều linh ứng.
 
Hậu cung có ba ban thờ, chính giữa thờ Thám hoa Nguyễn Quý Đức, gian bên hữu thờ Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân (con trưởng Nguyễn Quý Đức), gian bên tả thờ Công vị Nguyễn Quý kính (cháu trưởng Nguyễn Quý Đức).
 
Trong khuôn viên nhà thờ có 4 cây muỗm cổ thụ, được công nhận là Cây Di sản Việt Nam vào tháng 5 năm 2013. Cây muỗm là loại thân gỗ lớn, tán xòe rộng, xanh tốt quanh năm, tượng trưng cho sức sống bền bỉ. Bốn cây được trồng ở bốn góc ao, tạo thế “tứ trụ”, vừa có giá trị cảnh quan vừa mang ý nghĩa phong thủy sâu sắc.
 
Xét về tổng thể Nhà thờ Tam Đại Vương họ Nguyễn Quý có xuất phát điểm từ nhà ở của Thám hoa Nguyễn Quý Đức thế kỷ XVII tới nay liên tục được phát triển, xây mới trùng tu từ nhà đại bái, tả hữu mạc, nghi môn, bình phong, hồ bán nguyệt, hồ lớn, trồng cây, đều tuân theo quy hoạch phong thủy của việc tạo dựng khu thờ tự có trục thần đạo theo hướng Bắc- Nam. Tuy việc xây dựng kéo dài qua nhiều năm, nhiều thế hệ nhưng các bộ phận kết cấu nên khu thờ tự đều hài hòa về tỷ lệ, phù hợp về kích thước không có sự xây dựng chắp vá tạo nên không gian thờ tự trang nghiêm kính cẩn.
 
Bên cạnh nhà thờ trung tâm, hệ thống các miếu thờ riêng từng vị Tam Đại Vương góp phần làm nên một quần thể tưởng niệm đầy đủ và hài hòa. Miếu Lạc Thọ Đình được khởi dựng năm 1709, hoàn tất năm 1711, thờ Nguyễn Quý Đức. Đây là công trình ba gian đơn giản, từng được phục dựng vào năm 2018. Miếu Vườn Chùa xây dựng năm 1737 thờ Nguyễn Quý Ân, sử dụng vật liệu đá ong truyền thống, được trùng tu gần đây vào năm 2020. Còn Miếu Thái Sơn Bắc Đẩu thờ Nguyễn Quý Kính được dựng khoảng năm 1742. Dù kiến trúc đơn sơ, miếu vẫn toát lên vẻ trang nghiêm nhờ những giá trị văn tự và thờ tự còn được bảo tồn.

Hiện vật

Nhà thờ họ Nguyễn Quý hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá, phản ánh rõ nét truyền thống khoa bảng và trung liệt của dòng họ. Trong tả mạc có ba tấm bia đá mang niên đại cuối thời Lê, ghi công đức ba vị danh thần:

Bên trong nhà thờ còn bảo tồn 29 đạo sắc phong, trải dài từ niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) đến Khải Định thứ 9 (1924); 40 hoành phi câu đối, cùng nhiều bài thơ và văn tế cổ.

Nhà thờ còn lưu giữ hai bức tranh bột màu vẽ trên giấy bồi khổ 1200×1800 do họa sĩ phương tây vẽ (xét theo hoàn cảnh bấy giờ nhà Trịnh có nhiều mối quan hệ với Hà Lan nên họa sĩ phương tây ở đây là Hà Lan). Bức họa chân dung Nguyễn Quý Đức trong tư thế ngồi thiền đầu trần, y phục dân thường mô tả ông đã từ quan về hưu bức tranh vẽ vào khoảng 1717 khi ông về hưu. Bức họa chân dung Nguyễn Quý Kính cũng trong tư thế ngồi thiền, râu tóc bạc phơ, y phục dân thường, mũ áo quan treo một bên. Bức tranh được vẽ năm 1764 (bức vẽ chân dung Nguyễn Quý Kính râu tóc bạc trắng có liên quan đến chuyện năm 1740 khi đó cụ mới có 47 tuổi vâng mệnh Vũ Thái phi lập Trịnh Doanh lên ngôi chúa và Lê Hiển tông lên ngôi vua, suy nghĩ việc trọng đại của đất nước chỉ một đêm mà râu tóc bạc trắng). Bảo tàng Mỹ Thuật đã trực tiếp sao chép lại bức này khổ 600×900 treo tại bảo tàng.
 
Ba pho tượng đồng Tam vị Đại Vương họ Nguyễn Quý nằm trong chương trình “Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân” do tạp chí Xưa và Nay thuộc Hội Khoa Học Lịch Sử phát động. Được Viện Sử Học giúp đỡ khai thác tài liệu, tổ chức hội thảo cùng với Trung tâm hoạt động VHXH Văn Miếu- Quốc Tử Giám tổ chức. Các pho tượng đồng Tam vị Đại Vương được hoàn thành, tổ chức hội thảo tại Văn Miếu bàn giao cho dòng họ rước về nơi thờ tự tại Nhà thờ họ Đại Mỗ Từ Liêm, Hà Nội. Cả ba pho tượng đều là sáng tác của nghệ nhân Tạ Duy Đoán trên cơ sở ảnh mẫu Tam Vị Đại Vương tượng cao tính cả bệ 1100 nặng 80kg. Tượng đồng Thám hoa Nguyễn Quý Đức hoàn thành năm 2001, tượng đồng Công vị Nguyễn Quý Kính hoàn thành năm 2016 và tượng đồng Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân hoàn thành năm 2018.
 
Trước đó còn có một cỗ xe Ngọc lộ. Năm 1717 khi Thám hoa Nguyễn Quý Đức về quê trí sĩ triều đình ban tặng cỗ xe Ngọc lộ, cỗ xe được bảo quản tốt tới năm 1961 Viện Bảo tàng Lịch sử đã mượn cỗ xe này làm hiện vật trưng bày tại bảo tàng. Hiện nay cỗ xe này vẫn đang được viện bảo tàng lịch sử bảo quản. Mới đây có thêm thông tin từ bức ảnh do Viện Bác cổ chụp chiếc xe bốn bánh gỗ do Chúa ban cho Thám hoa dùng hàng ngày vào chầu trong Phủ. Chiếc xe Ngọc Lộ do Chúa ban có hai bánh và bánh xe được bọc cỏ Bồ đi cho êm.
 
Ngoài nhà thờ chính, tại các miếu thờ trong tổng Mỗ, đặc biệt là Miếu Lạc Thọ Đình và Miếu Vườn Chùa vẫn còn lưu lại bài thơ và câu đối do Tri phủ Phạm Khắc Gia viết năm 1798, thể hiện tinh thần tri ân sâu sắc và giá trị văn học đặc sắc đương thời.

Sự kiện và lễ hội

Trong năm, nhà thờ tổ chức ba sự kiện quan trọng:

Xuân tế: Diễn ra vào ngày mồng 9 tháng Giêng, vốn là lệ cố định của nhà thờ theo Hương ước làng Đại Mỗ năm 1925. Trước đây, làng đứng ra tổ chức tế lễ. Sau năm 1945, nghi lễ không còn do làng đảm nhiệm mà trở thành dịp gặp mặt đầu xuân của con cháu về viếng tổ tiên. Người đến chiêm bái đều được nhận lộc là oản gạo và chuối tiêu (sản vật mang ý nghĩa nông nghiệp). Ngày nay, Xuân tế còn gắn với tiệc nhỏ thân tình đón tiếp họ hàng và khách phương xa.

Hội nhà thờ: Hình thành sau khi Thám hoa Nguyễn Quý Đức mất năm 1720. Ban đầu, dân tứ xứ đến chợ Khánh Nguyên cảm ơn công lao ông lập chợ nên rước bài vị lên thảo xá cúng lễ và mở hội. Sau đó, làng Đại Mỗ chính thức chọn ngày Rằm tháng Hai hằng năm làm lễ Hội nhà thờ. Lễ hội kéo dài 3 đến 7 ngày, có phân công dân ba thôn tế lễ tại nhà thờ. Hương ước làng cũng ghi rõ quy ước tổ chức. Ngày nay, lễ hội do con cháu dòng họ tổ chức, duy trì ba thôn cùng tế lễ, mở hội và đặc biệt bảo tồn trò kéo lửa thổi xôi thi – một trò chơi kết hợp giữa tâm linh, mưu trí và sức mạnh.

Chứa việc nhà thờ: Trong năm, hai dịp cần huy động đông đảo con cháu là Xuân tế và Hội nhà thờ. Dòng họ chia thành 8 chi, luân phiên đảm nhiệm công việc cúng tế và tổ chức lễ hội, được gọi là “chứa nhà thờ”. Chi trưởng khởi đầu luân phiên, riêng chi Cụ Đồng Thần do đông người nên đảm nhiệm hai năm liên tiếp.

Xếp hạng

Ngày 12 tháng 12 năm 1986 điều 2, nhà thờ và ba miếu được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.

Tư liệu tham khảo

  1. Hương ước làng Đại Mỗ, soạn năm 1925, lưu giữ tại địa phương.
  2. Nam Hải dị nhân liệt truyện, Phan Kế Bính, Nxb. Hội Văn học Nghệ thuật Thăng Long tái bản, Hà Nội, 1926.
  3. Thế phả họ Nguyễn Quý, Tư liệu gia truyền họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ.
  4. Hồ sơ di tích: Nhà thờ Tam Đại Vương họ Nguyễn Quý, tư liệu xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, Bộ Văn hóa và Thông tin, năm 1986.
  5. Văn bia nhà thờ họ Nguyễn Quý
    – Thiên Mỗ Đại vương từ đường bi ký, Hà Tôn Huấn và Nghiêm Bá Đĩnh soạn, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736).
    – Quốc sư Đại vương miếu vũ bi ký, Nhữ Đình Toản, Lê Hữu Kiều và Nghiêm Bá Đĩnh soạn.
    – Công vị Đại vương từ đường bi ký, Nguyễn Gia Phan soạn.

 

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Một bình luận

  1. Avatar photo
    Nguyễn Quý Sản

    Chứa việc nhà thờ: Trong năm, hai dịp cần huy động đông đảo con cháu là Xuân tế và Hội nhà thờ. Dòng họ chia thành bảy chi, luân phiên
    Chỗ này chữa chữ bảy = tám

  2. Avatar photo
    Nguyễn Quý Sản

    Các miếu chưa được xếp hạng chính thức,
    Theo quyết định ngày 12 tháng 12 năm 1986 điều 2 quy định Nhà thờ và ba miếu đều được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa

  3. Avatar photo
    Nguyễn Quý Sản

    Ba đời khoa bảng
    Chữa lại là BA ĐỜI PHÚC THẦN mới đúng (chỗ này nhà báo viết sai)

  4. Avatar photo
    Nguyễn Quý Sản

    Bên trong nhà thờ còn bảo tồn 38 đạo sắc phong, trải dài từ niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) đến Khải Định thứ 9 (1924); hai cỗ hiệu, 40 hoành phi câu đối, cùng nhiều bài thơ và văn tế cổ.
    Đoạn trên nên thay bằng đoạn sau
    Bên trong nhà thờ còn bảo tồn 29 đạo sắc phong, trải dài từ niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) đến Khải Định thứ 9 (1924); 40 hoành phi câu đối, cùng nhiều bài thơ và văn tế cổ.
    vì hiện trạng bắt đầu được kiểm kê từ năm 2000 chỉ có 29 sắc phong và không có hai cỗ kiệu

  5. Avatar photo
    Nguyễn Quý Sản

    Nhầm năm sinh – mất của cụ Nguyễn Quý Ân, chữa đúng là: 1673-1722

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)