Danh Nhân Nguyễn Quý Ân

Danh Nhân Nguyễn Quý Ân

Thông tin cơ bản

Danh nhân Nguyễn Quý Ân (1673–1722) trưởng nam của cụ Thám Hoa Quốc Lão Đại Vương Nguyễn Quý Đức, là một trong ba danh nhân thuộc dòng họ khoa bảng danh tiếng của tổng Mỗ xưa. Ông từng giữ chức Hoàng giáp, nội giảng Quốc Tử Giám, Quốc sư, và là tác giả hai tác phẩm lớn: Thiên tự vănTứ thư đại chú. Khi qua đời, ông được triều đình truy phong là Đại vương, Thượng đẳng phúc thần, được thờ làm Thành hoàng tại nhiều làng trong tổng Mỗ.

Sự nghiệp khoa bảng, quan lộ

Danh nhân Nguyễn Quý Ân, tự Thư Trạch, Thụy Ôn Cẩn, sinh  trưởng trong một gia tộc khoa bảng và trung liệt nổi tiếng ở Đại Mỗ. Từ nhỏ, ông đã bộc lộ thiên tư tài mạo, đĩnh ngộ khác thường. Mới hơn 6 tuổi ông đã thông hiểu luật làm thơ, ai cũng khen là tài tử.

Năm 17 tuổi (1690), đời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Trị thứ 15, cha ông là vị Thám hoa phụng mệnh triều đình sung chức Chánh sứ sang sứ Tàu, đã gửi ông theo học quan Thám hoa họ Chu, người xã Bật Ninh, huyện Yên Dũng, là bậc văn chương mô phạm nhất lúc bấy giờ. Chưa đầy nửa năm học tập, ông đã nghĩa sách thuộc làu, nổi tiếng là bậc danh sĩ.

Đến năm 21 tuổi (1693), ông Nguyễn Quý Ân ứng thi và đỗ đứng thứ tư trên bảng vàng.

Năm 25 tuổi (1697) ông tiếp tục thi Hội trúng tam tràng, tiếp kì thi khoa Sĩ vọng được trúng thứ nhì, tuyển vào hàng Nội thị Văn chức.

Sau một năm (1698), ông nhậm chức Hồng lô tự thừa.

Mùa xuân năm Quý Mùi (1703) niên hiệu Vĩnh Trị thứ 28, ông lại thi Hội, trúng Tam trườnng, được tuyển vào Nội yết phiên cung.

Đến năm Bính Tuất (1706) thời vua Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 2, ông nhậm chức Thông chánh sứ ty, thông chánh thừa ở tuổi 34.

Năm 37 tuổi (1709) phụng mệnh cùng với quan thái bảo Trường Quận Công cầm quyền dẹp giặc, chẳng bao lâu dân sự lại được an cư lạc nghiệp.

Năm 38 tuổi (1710) lại trúng khoa Sĩ vọng,

Năm 41 tuổi (1713) ông được cử đi phát chẩn cho dân các huyện Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên, Thanh Oai bị mất mùa đói kém. Trong công việc ông tỏ ra sáng suốt, công bằng nhân ái, khiến dân sở tại mãn nguyện cùng nhau dâng sớ ca ngợi công đức của ông với triều đình.

Năm Ất Mùi (1715) 43 tuổi đỗ Đệ nhị giáp chính Tiến sĩ tức Hoàng Giáp. Sau đó được thăng chức Hàn Lâm Viện Hiệu Lý kiêm tri thị nội thư tả binh phiêu.

Năm Đinh Dậu (1717) Ông được thăng chức Khâm sai Bồi tụng, năm ấy Trịnh nhân vương kiến lập ngôi phủ từ là Trịnh Giang có hỏi hai bên tả hữu chức Sư phó, bách quan triều đình thấy cụ minh mẫn, cẩn thận tiến cử cụ làm Hữu tư giảng để ngày ngày lên nhà thánh học giảng dạy thế tử. Là người nổi tiếng về tài bút thiếp, viết vào dạng tốt nhất lúc bấy giờ. Ông có tập thiếp “Thiên tự chính văn và tứ thứ đại chú” cho sĩ tử trong nước tập chữ và lưu ở bí thư các. Người đời ca ngợi chữ viết của Ông rằng: “Tâm chính tắc bút chính”. Cũng trong năm này ông được tham gia soạn văn bia trong đợt dựng 21 tấm bia để danh Tiến sĩ tại Văn Miếu.

Các tấm bia do ông soạn:

  1. Vĩnh Thọ nhị niên Kỷ Hợi khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1659)
  2. Dương Đức nhị niên Quý Sửu khoa Tiến sĩ đề danh ký (Khoa thi năm 1673).
  3. Chính Hoà cửu niên Mậu Thìn khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1688)
  4. Chính Hoà nhị thập tứ niên Quý Mùi khoa Tiến sĩ đề danh ký. (Khoa thi năm 1703)

Năm 1718 nhà vua tổ chức cuộc thi cho các bách quan soạn sách dạy Hoàng tử và Thế tử học, trong cuộc thi này ông chiếm giải nhất, trong cuộc thi thơ “Đề Văn Miếu và vịnh phong cảnh núi Dục thuý” do nhà Vua tổ chức ông cũng đều trúng giải nhất và được khen thưởng rất hậu.

Sau đó ông được thăng chức Đề Hình Giám Sát Ngự Sử, trong công việc, ông sử án rất công bằng chính trực, khiến không ai bị hàm oan. Ông nổi tiếng là vị quan toà rất nghiêm minh. Năm 1719 Triều đình khảo sát chính tích trăm quan, ông trúng bậc nhất.

Mùa Hạ năm 1720 ông về quê nhà cư tang thân phụ. vừa đoạn tang ông mắc bệnh

Năm Nhâm Dần (1722) giờ Sửu ngày 09 tháng 6  ông mất tại chính tẩm hưởng thọ 50 tuổi. Mộ táng tại xứ Bờ Thang, thuộc Mễ Trì bản xã

Năm Canh Tuất niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 2 (1730) Triều đình truy phong Đặc Tiến Kim Tử vinh lộc đại phu. Hình bộ tả thị lang tước Diễn quân công. Gia tặng công bộ Thượng thư, Thiếu bảo và cấp cho xã Mễ Trì (cùng huyện) làm xã tự sự.

Năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức thứ 3 (1734) vua Lê Thuần Tông ban sắc bao phong Trung thần đoan chính Đại vương tự điển thị chung, thượng đẳng phúc thần cấp dân bản xã làm tạo lệ và năm mẫu ruộng để phụng sự

Di sản – Tưởng niệm

Là người chính trực, thanh liêm, cương nghị, thiện ác phân minh, ông lấy lời thẳng giúp vua, dùng học thuật kinh thư giúp chúa, văn không tô vẽ bay bướm mà giản dị tự nhiên. Ông còn có công lớn được người đời nhớ mãi, đi tới nhiều nơi khuyên dân làm ruộng, trồng dâu, chiêu dụ những dân phiêu tán đi khai khẩn ruộng hoang, tạo được sự no đủ, bình an cho muôn dân. Ông còn là tác gia, để lại cho đời 2 tác phẩm lớn, là: Thiên tự văn, Tứ thư đại chú.

Khi cha qua đời, ông xin về cư tang, nhưng chỉ một thời gian sau bệnh nặng và qua đời, hưởng thọ 50 tuổi. Triều đình ra sắc chỉ định rõ: “Người giữ trọng trách Quốc sư, vua chúa đang trông cậy, giúp rập rất nhiều thì nay không còn, thật xiết bao đau xót”. Triều đình truy phong ông là Đại vương, Thượng đẳng phúc thần, cho nhiều làng trong tổng Mỗ lập đền thờ.

Ông tri phủ Phạm Khắc Gia có bài thơ bái ở từ đường có hai câu nhắc chuyện thi cử đó:

Hai lượt hoành từ bảng chép tên
Thềm quan lần bậc bước chân lên

Có thể nói ông đã có ba lần đỗ Tiến sĩ, làm quan tới Bồi tụng, được phong Thiếu bảo Diễn Quẫn công.

Con trai ông là Nguyễn Quý Kính, đỗ Hương cống, sau giữ chức Tham tụng (Tể tướng), Thượng thư Bộ Lại, tước Kính Quận công.

Ngày 13/1, tại Hà Nội, Viện Sử học Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Ban Liên lạc dòng họ Nguyễn Quý đã tổ chức Lễ tưởng niệm 345 năm ngày sinh và trao tượng đồng danh nhân Nguyễn Quý Ân (1673–1722).

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Kế Bính. Nam Hải dị nhân liệt truyện. Bản in Nôm. (Trích dẫn nội dung liên quan đến địa cuộc của họ Nguyễn Quý tại Thiên Mỗ).
  2. Vũ Tuân Sán (1976). “Nguyễn Quý Đức – Nguyễn Quý Ân – Nguyễn Quý Kính”. In Danh nhân Hà Nội – Tập 2. Hà Nội: Hội Văn nghệ Hà Nội.
  3. Nguyễn Quý thị văn phả, gồm 5 tập, lưu giữ tại nhà hậu duệ dòng họ Nguyễn Quý ở Đại Mỗ.
  4. Thế phả họ Nguyễn Quý. Tư liệu gia truyền họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ.
  5. Văn bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội (1715), do Nguyễn Quý Ân soạn và khắc dựng.
  6. Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Tư liệu Lễ tưởng niệm 345 năm ngày sinh Nguyễn Quý Ân, ngày 13/01/2022.
  7. Viện Sử học Việt Nam – Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tư liệu hội thảo và vinh danh danh nhân Nguyễn Quý Ân, 2022.
Chấm điểm

Hình ảnh

Văn bia

Chia sẻ
Tượng Đồng nguyễn quý Ân

Nội dung chính

Một bình luận

  1. Avatar photo
    Nguyễn Quý Sản

    quán Thám hoa Chu, Chỗ này sửa lại cho câu văn rõ ý : quan Thám hoa họ Chu

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)