Danh nhân Nguyễn Quý Kính (1693 – 1766) là cháu nội của Thám hoa Nguyễn Quý Đức, con trưởng của Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân. Ông là một vị đại thần xuất sắc dưới triều Lê trung hưng, nổi bật bởi tài năng chính trị, đức độ, cùng công lao ổn định triều chính, chấn chỉnh nội trị và bảo vệ quyền uy chính thống của vương triều. Ông từng giữ chức Tham tụng (tương đương Tể tướng) và được tôn vinh là Đại vương, Thượng đẳng phúc thần, thờ phụng tại nhiều làng quê tổng Mỗ xưa.
Nếp nhà khoa bảng
Nguyễn Quý Kính, tự Thức Khâm, húy Năng, thụy Trung Liệt (còn có tên Nguyễn Quý Cảnh), sinh trưởng trong một gia tộc khoa bảng và trung liệt bậc nhất đất Thiên Mỗ. Ông là con trưởng của Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân, cháu đích tôn Thám hoa Nguyễn Quý Đức (người từng giữ chức Tể tướng và Quốc sư triều Lê). Từ nhỏ đã sớm bộc lộ tư chất thông minh, đĩnh ngộ, ông đỗ Hương cống năm 22 tuổi và được tuyển vào thị nội văn chức, rồi lần lượt được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Lê.
Sự nghiệp khoa bảng, quan lộ
Năm 22 tuổi (1714) thi đỗ ngay Hương Cống tuyển vào hàng Thị nội văn chức rồi thăng Lễ bộ lang trung.
Năm 37 tuổi (1730) nhậm chức Phó tri hộ phiên rồi thăng Luân thông chánh phó sứ.
Năm 39 tuổi (1732) bổ cai quản xứ Thanh Hoa bản quán của vua chúa.
Năm 40 tuổi (1733) được vời vào thị giảng cho em chúa là Trịnh Doanh.
Năm 41 tuổi (1734) được dự tiến triều thụ chức Thái thượng tự khanh, Thiêm sai Thị nội thư, tả hộ phiên.
Năm 45 tuổi (1738) lãnh chức Bồi tụng, Công bộ hữu thị lang.
Khi Trịnh Giang mắc bệnh sợ sấm sét phải ở dưới hầm (Thưởng Trì Cung) hoạn quan Hoàng Công Phụ chuyên quyền, bên ngoài giặc giã nổi lên , bên trong hoàng thân Lê Duy Mật dấy binh chiếm Thanh Hóa. Lĩnh mật chỉ của Vũ Thái phi mẹ của Trịnh Giang, Trịnh Doanh ông bí mật bàn bạc với mấy vị đại thần quyết định việc triều đình. Mùa Xuân năm Canh Thân (1740) ông lập mưu điều Hoàng Công Phu đi vắng xa, còn quân trong vương phủ đổi hết lỵ sở mật khẩu, đưa hương binh của em trai Nguyễn Quý Thường thay quân tam phủ cho sung vào đội bảo vệ. Mưu định ngày khai ấn đầu năm thì khởi sự. Ông đem việc ấy trình lên Vua xin cho sắc dụ. Hôm ấy ông hầu Trịnh Doanh đến phủ, Tham tụng Nguyễn Công Thể tuyên đọc sắc lập Trịnh Doanh lên ngôi chúa. Nguyễn Quý Kính dìu Trịnh Doanh lên ngôi tức Minh Đô Vương, tôn Trịnh Giang làm thái thượng vương. Lúc ấy mới ban lệnh bắt quận thực, quận bào, bắt hết nghịch đảng ở các ngả. Trong triều và cung cấm nhờ thế được yên ổn. Mọi việc đều do ông sửa định. Trịnh Doanh lưu ông ở luôn trong phủ, đêm ngày bám sát Quốc chính. Ông tham mưu cho Trịnh Doanh khuyên vua Lê Ý Tông trả lại ngôi cho Lê Hiển Tông. Lê Hiển Tông về lại ngôi đặt niên hiệu Cảnh Hưng ở ngôi tới 46 năm. Nhân đó phục vị cho các đại thần bị hãm hại như Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Hãng, Đỗ Bá Phẩm, Trần Hiền.
Triều đình luận công, ông được thăng Tham Tụng, vinh phong Kính Quận Công được ban Kim bài khắc 8 chữ “Suy Trung Dực Vận Dữ Quốc Đồng Hưu“
Năm Tân Dậu (1741) ông kiêm chức đốc phủ ở Sơn Tây, mùa đông năm ấy chúa sai ông cùng thượng thư Vũ Công Tể làm chiêu phủ sứ chia đi các đạo khuyến dân làm ruộng trồng dâu, chiêu dụ những người phiêu tán trở về. Trong gia tộc ông đã khuyến khích em trai Nguyễn Quý Thường đến thôn Trung Hoàng, xã Thanh Bình, huyện Chương Mỹ ngày nay khai hoang lập ấp, nay vẫn còn nhà thờ và mồ mả tại địa phương.
Năm 64 tuổi (1757) ông noi gương ông nội Nguyễn Quý Đức, nhiều lần xin cáo quan về trí sĩ, cuối cùng được triều đình chấp thuận. Nhà vua phong cho ông là Quốc Lão tham dự triều chính, lại gia phong làm Thái Tử, Thái Phó. Nhưng năm sau (1758) lại có chiếu chỉ truyền triệu Nguyễn Quý Kính hồi cung vào ban ngũ Lão ở luôn tư đệ tại Kinh Đô.
Năm Tân Tỵ (1761) mùa Hạ vua chúa về nhà chơi ban tặng 50 lạng bạc, tự tay đề tặng 4 chữ Kiều Mộc Đại Xa
Năm Nhâm Ngọ (1762) vua chúa lại ngự giá đến chơi đề tặng 8 chữ “Thái Sơn Bắc Đẩu, Kiều Mộc Thế Thần”
Năm Giáp Thân niên hiệu Cảnh Hưng thứ 25 (1764) ông cho mời họa sĩ “tây dương” đến nhà vẽ Châu Duyên.
Ông cho mở trường học ngay tại tư dinh, đón thày về dạy cho các công tử, lại cưu mang cả trò nghèo hiếu học, những người thành danh kể đến Ngô Duy Viên người La Khê đỗ Đồng Tiến sĩ năm (1769), hay Nguyễn Thế Lịch đỗ Đồng Tiến sĩ năm (1715) còn gả con gái, cho đất lập nghiệp. Nguyễn Thế Lịch sau đổi là Nguyễn Gia Phan người viết văn bia “Công vị Đại Vương từ đường bi ký” dựng tại từ đường năm 1827
Ngày 27/7 năm Bính Tuất (1766) ông mắc bệnh triều đình cử quan Thái y về chăm nom. Chúa Trịnh đích thân về thăm hỏi bệnh tình.
Ngày 8 tháng Chạp năm 1766 ông mất tại quê nhà, thọ 74 tuổi. Tin đến triều đình, vua và chúa ngự giá đến ngay, xa giá đến cầu Thiên Khánh chúa đã khóc to lên rằng “Thày ơi! Công thày mở nước cho tôi” khi đến nhà lại khóc, thật là ai cảm vô cùng. Triều đình ban tặng một cỗ Ngọc Am, sai các trọng thần Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Nghiễm về giám tang. Mộ cụ táng tại cánh đồng phia Tây làng nay là xã Tây Mỗ, (sau lại chuyển về cánh đồng phía Bắc của làng).
Đức hạnh và vinh danh
Quý Kính không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc mà còn là nhà giáo dục, nhà chú giải có nhiều đóng góp cho học thuật đương thời. Các trước tác và bản chú giải của ông từng được lưu truyền và đánh giá cao trong giới học giả. Khi ông mất, vua Lê và chúa Trịnh đến khóc trước linh cữu, truy phong ông làm Đại vương, sắc phong Thượng đẳng phúc thần và cho các làng trong tổng Mỗ lập đền thờ ông làm Thành hoàng.
Cũng như ông và cha mình, Nguyễn Quý Kính giữ lối sống thanh đạm, giản dị, để mộ phần ngay trước cửa đình thôn Giao Quang (quê hương ông). Tại đây hiện còn lưu giữ được miếu thờ Thái Sơn Bắc Đẩu, dấu tích mộ chí và các tư liệu liên quan đến công lao của ông đối với đất nước và quê hương.
Ngày 18/6/2016, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp với Viện Sử học Việt Nam, Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Ban liên lạc dòng họ Nguyễn Quý tổ chức lễ Tưởng niệm 250 năm ngày mất và trao tượng đồng danh nhân Nguyễn Quý Kính (1693–1766).
Tài liệu tham khảo
- Phan Kế Bính. Nam Hải dị nhân liệt truyện. Bản in Nôm. (Trích dẫn nội dung liên quan đến địa cuộc của họ Nguyễn Quý tại Thiên Mỗ).
- Vũ Tuân Sán (1976). “Nguyễn Quý Đức – Nguyễn Quý Ân – Nguyễn Quý Kính”. Danh nhân Hà Nội – Tập 2. Hà Nội: Hội Văn nghệ Hà Nội.
- Nguyễn Quý thị văn phả, gồm 5 tập, lưu giữ tại nhà hậu duệ dòng họ Nguyễn Quý ở Đại Mỗ.
- Thế phả họ Nguyễn Quý. Tư liệu gia truyền họ Nguyễn Quý, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Bản chép tay, lưu giữ tại tư gia dòng họ.
- Danh nhân Nguyễn Quý Kính – niềm tự hào của người Đại Mỗ. VOV2. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2025, từ https://vov2.vov.vn/danh-nhan-nguyen-quy-kinh-niem-tu-hao-cua-nguoi-dai-mo-28183.vov
- Khoa bảng dòng họ Nguyễn Quý: Hai đời Tể tướng, ba đời Đại vương. Báo Giáo dục & Thời đại. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2025, từ https://giaoducthoidai.vn/khoa-bang-dong-ho-nguyen-quy-hai-doi-te-tuong-ba-doi-dai-vuong-post708589.html
- Nguyễn Quý Kính – Vị đại thần danh tiếng thời Lê Trung Hưng. Video. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2025, từ https://www.youtube.com/watch?v=DPSFqXMKLzE


Một bình luận
Đã xem