Vua Lê Ý Tông (1719 – 1759)

Vua Lê Ý Tông (1719 – 1759)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Lê Ý Tông (chữ Hán: 黎懿宗, 29 tháng 3 năm 1719 – 10 tháng 8 năm 1759), tên húy là Lê Duy Thận (黎維祳), sử cũ cũng chép là Lê Duy Chấn, là vị Hoàng đế thứ mười bốn của triều Lê Trung hưng và là hoàng đế thứ hai mươi lăm của nhà Hậu Lê. Đặc biệt, ông còn là vị Thái thượng hoàng cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Ý Tông có quan hệ huyết thống gần gũi với họ Trịnh: ông là cháu ngoại của Vũ Thái phi, người thuộc dòng dõi Trịnh. Nhờ cậy vào mối quan hệ ấy, từ thuở nhỏ, Duy Thận được đưa vào nuôi dạy trong cung phủ, nhận nhiều sự yêu thương và chăm sóc, nhưng đồng thời cũng chịu sự giám sát chặt chẽ. Do tính cách hiền hòa, dễ uốn nắn và thuận theo sự sắp đặt của phủ chúa, ông trở thành một sự lựa chọn thuận tiện đối với quyền thần Trịnh Giang.

Vì thế, sau khi vua Lê Thuần Tông băng hà vào tháng 4 năm 1735, Trịnh Giang đã gạt bỏ Duy Diêu, trưởng tử của Thuần Tông (sau này là Lê Hiển Tông để lập Lê Duy Thận lên ngôi). Từ đây, ông trở thành vị quân vương mới của triều đình, dưới niên hiệu Ý Tông, và trị vì đến tháng 5 năm 1740.

Trị vì

Sau khi được Trịnh Giang đưa lên ngôi năm 1735, Lê Ý Tông lấy niên hiệu là Vĩnh Hựu và chính thức trở thành vị hoàng đế thứ mười bốn của triều Lê trung hưng. Tuy nhiên, quyền hành thực chất vẫn nằm trong tay phủ chúa. Trong 6 năm trị vì, ông chủ yếu giữ vai trò tượng trưng, còn mọi công việc triều chính đều do họ Trịnh quyết định.

Đến tháng 5 năm 1740, trước tình hình xã hội rối ren với nhiều cuộc nổi dậy nông dân khắp nơi, chúa Trịnh Doanh (người vừa thay Trịnh Giang) đã buộc Ý Tông nhường ngôi cho Lê Duy Diêu, con trưởng của vua Thuần Tông, để hợp lòng người và củng cố chính danh cho triều Lê. Trong tờ chiếu nhường ngôi, Ý Tông cũng nêu rõ vì thiên hạ còn nhiều kẻ làm loạn, muốn giữ yên cõi bờ nên tôn lập con trưởng để trọng tông thống, thu phục lòng dân.

Sau khi thoái vị, ông trở thành Thái thượng hoàng, sống ở điện Càn Thọ. Theo lệ, số xã dân cung phụng dành cho ông được ấn định bằng một phần ba so với phần chính của hoàng đế đương triều. Từ đó, Ý Tông trải qua 19 năm ở ngôi Thái thượng hoàng, sống yên ổn dưới sự bảo hộ của phủ chúa.

Triều đại của ông chỉ ghi nhận một niên hiệu duy nhất là Vĩnh Hựu, đánh dấu một giai đoạn ngắn ngủi nhưng nhiều biến động trong lịch sử triều Lê Trung hưng.

Gia quyến

Thân phụ: Lê Dụ Tông (黎裕宗), hoàng đế thứ 11 của triều Lê Trung hưng.

Thân mẫu: Cung phi Nguyễn Thị, sau được truy tôn làm Hiến Từ Hoàng thái hậu.

Hậu cung: 

  • Tuyên Vũ Huy Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Du: xuất thân từ dòng họ Trịnh, thế gia quyền quý nắm giữ thực quyền triều chính.

  • Đức Quý phi Vũ Thị

Hậu duệ: không có

Cuối đời

Sau gần hai thập kỷ trên cương vị Thái thượng hoàng, Lê Ý Tông sống lặng lẽ trong nội cung, không can dự nhiều vào triều chính. Mọi quyền hành thực tế vẫn do phủ chúa Trịnh kiểm soát. 

Tháng 8 năm 1759, Lê Ý Tông qua đời, hưởng thọ 41 tuổi. Triều đình khi ấy cử hành tang lễ theo nghi thức dành cho hoàng đế. Thi hài ông được đưa về an táng tại lăng Phù Lê, tọa lạc trên núi Trinh Sơn, thuộc thôn Nguyên Sơn, xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Tài liệu tham khảo 

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

___________________

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Background

Le Y Tong (Chinese: 黎懿宗; 29 March 1719 – 10 August 1759), personal name Le Duy Than (黎維祳; some chronicles record Le Duy Chan), was the 14th emperor of the Le Restoration and the 25th ruler of the Later Le dynasty. Notably, he was also the last Retired Emperor (Thai thuong hoang) in Vietnamese history.

Le Y Tong had close blood ties to the Trinh clan: he was the maternal grandson of Vu Thai phi, a woman of Trinh lineage. Thanks to that connection, Duy Than was brought up from childhood within the Trinh residence, receiving much affection and care—but also strict supervision. Gentle in temperament, pliable, and accommodating to the Trinh household’s arrangements, he became a convenient choice for the powerful lord Trinh Giang.

Thus, after Emperor Le Thuan Tong died in the 4th lunar month of 1735, Trinh Giang bypassed Thuan Tong’s eldest son Duy Dieu (later Le Hien Tong) and enthroned Le Duy Than. From then, under the reign title Y Tong, he ruled until the 5th lunar month of 1740.

Reign

Raised to the throne by Trinh Giang in 1735, Le Y Tong adopted the reign title Vinh Huu and formally became the 14th emperor of the Le Restoration. In reality, however, effective power remained in the Trinh lords’ hands. During his six-year reign he served mainly as a figurehead, while state affairs were decided by the Trinh.

In the 5th lunar month of 1740, amid mounting social unrest and widespread peasant uprisings, Trinh Doanh (who had just replaced Trinh Giang) compelled Y Tong to abdicate in favor of Le Duy Dieu, Thuan Tong’s eldest son, to placate public sentiment and reinforce the Le court’s legitimacy. In his abdication edict, Y Tong stated that with rebels still rampant throughout the realm, he was installing the eldest son to uphold dynastic orthodoxy and win back the people’s hearts for the sake of stability.

After abdication he became Retired Emperor, residing in Can Tho Hall. By custom, the number of villages assigned to provide his maintenance was set at one-third of that allotted to the reigning emperor. Y Tong then spent nineteen years as Retired Emperor, living quietly under the Trinh household’s protection.

His reign records only a single era name, Vinh Huu, marking a brief yet turbulent phase in Le Restoration history.

Family

Father: Le Du Tong (黎裕宗), the 11th emperor of the Le Restoration.

Mother: Consort Nguyen Thi, posthumously honored Empress Dowager Hien Tu.

Consorts

Empress Tuyen Vu Huy Trinh Thi Ngoc Du — from the Trinh clan, a great aristocratic house that held real power.

Imperial Noble Consort (Duc Quy phi) Vu Thi.

Issue

None.

Final years

For nearly two decades as Retired Emperor, Le Y Tong lived quietly in the inner palace and took little part in government. Real authority remained with the Trinh.

In August 1759, Le Y Tong died at the age of 41. The court held his funeral with imperial rites. His remains were interred at Phu Le Tomb, located on Trinh Son Mountain, Nguyen Son hamlet, Thieu Nguyen commune, Thieu Hoa district, Thanh Hoa province.

References

  1. Quynh Cu & Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Thanh Nien Publishing.
  2. Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Giao Duc Publishing.
  3. Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Dong Thap General Publishing.
  4. Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien, … (1993), Dai Viet su ky toan thu, Social Sciences Publishing.
  5. Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, The Nom Preservation Society.
  6. Le trieu ngoc pha.
  7. Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Bac Thanh Printing House.
  8. Quoc su quan trieu Nguyen (1962), Dai Nam thuc luc tien bien, Su Hoc Publishing.
  9. Quoc su quan trieu Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam Cuong muc, Giao Duc Publishing.

____________________

Tiếng Pháp (français’)

Origines

Le Y Tong (chữ Hán : 黎懿宗, 29 mars 1719 – 10 août 1759), nom personnel Le Duy Than (黎維祳), que les chroniques anciennes consignent aussi sous Le Duy Chan, fut le quatorzième empereur de la période Le trung hung et le vingt-cinquième souverain de la dynastie Hau Le. Fait remarquable, il fut également le dernier Thai thuong hoang (empereur retiré) de l’histoire du Vietnam.

Y Tong avait des liens de sang étroits avec la maison Trinh : il était le petit-fils maternel de Vu Thai phi, issue de la lignée Trinh. Grâce à ce lien, Duy Than fut, dès l’enfance, élevé au sein de la résidence seigneuriale, comblé d’affection et de soins, mais aussi placé sous une stricte surveillance. De tempérament doux, malléable et enclin à suivre les arrangements de la résidence des seigneurs, il devint un choix commode pour le tout-puissant Trinh Giang.

Ainsi, à la mort de l’empereur Le Thuan Tong en avril 1735, Trinh Giang évinça Duy Dieu, fils aîné de Thuan Tong (le futur Le Hien Tong) pour porter Le Duy Than sur le trône. Dès lors, sous le règne d’Y Tong, il gouverna jusqu’en mai 1740.

Règne

Élevé au trône par Trinh Giang en 1735, Le Y Tong adopta l’ère Vinh Huu et devint officiellement le quatorzième empereur de la période Le trung hung. Toutefois, le pouvoir réel demeura entre les mains de la résidence des Trinh. Durant ses six années de règne, il n’occupa qu’un rôle symbolique ; toutes les affaires de l’État furent décidées par les Trinh.

En mai 1740, devant un royaume en plein désordre, marqué par de multiples insurrections paysannes, le seigneur Trinh Doanh (qui venait de succéder à Trinh Giang) contraignit Y Tong à abdiquer en faveur de Le Duy Dieu, fils aîné de Thuan Tong, afin de rallier les cœurs et de consolider la légitimité de la dynastie Le. Dans son édit d’abdication, Y Tong précisa que, le pays étant encore troublé par de nombreux rebelles, il instituait l’aîné de la lignée pour honorer l’orthodoxie dynastique et recueillir l’assentiment du peuple.

Après son abdication, il devint Thai thuong hoang et résida au dien Can Tho. Selon l’usage, le nombre de communes chargées de son entretien fut fixé au tiers de celui dévolu à l’empereur régnant. Y Tong vécut ensuite dix-neuf ans en tant qu’empereur retiré, paisiblement, sous la protection de la résidence des Trinh.

Son règne ne connut qu’une seule ère, Vinh Huu, marquant une période brève mais mouvementée de l’histoire de la restauration Le.

Famille

Père : Le Du Tong (黎裕宗), onzième empereur de la période Le trung hung.

Mère : la concubine Nguyen Thi, élevée à titre posthume au rang de Hien Tu Hoang thai hau (impératrice douairière).

Harem

Tuyen Vu Huy Hoang hau Trinh Thi Ngoc Du : issue de la maison Trinh, grande lignée détentrice du pouvoir effectif.

Duc Quy phi Vu Thi.

Descendance

Aucune.

Fin de vie

Après près de deux décennies comme Thai thuong hoang, Le Y Tong mena une existence discrète dans l’enceinte du palais, sans s’impliquer dans le gouvernement, resté de fait sous le contrôle de la résidence des Trinh.

En août 1759, Le Y Tong s’éteignit à l’âge de 41 ans. La cour organisa des funérailles selon le cérémonial impérial. Sa dépouille fut inhumée au mausolée de Phu Le, situé sur le mont Trinh Son, hameau Nguyen Son, commune Thieu Nguyen, district Thieu Hoa, province de Thanh Hoa.

Références

  1. Quynh Cu, Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Nxb Thanh Nien.
  2. Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Nxb Giao duc.
  3. Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Nxb Tong hop Dong Thap.
  4. Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien, … (1993), Dai Viet su ky toan thu, Nxb Khoa hoc Xa hoi.
  5. Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, Hoi Bao ton di san chu Nom.
  6. Le trieu ngoc pha.
  7. Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Nha in Bac Thanh.
  8. Quoc su quan trieu Nguyen (1962), Dai Nam thuc luc tien bien, Nxb Su hoc.
  9. Quoc su quan trieu Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Nxb Giao duc.

____________________

Tiếng Trung (中文)

身世

黎懿宗(1719年3月29日—1759年8月10日),名讳黎維祳,旧籍亦作黎維震,为黎中兴第十四位皇帝、后黎朝第二十五位皇帝。尤为特殊者:他也是越南历史上最后一位太上皇。

懿宗与鄭氏渊源甚近:其外祖母为武太妃,出自鄭氏宗族。凭此关系,自幼被接入府中抚养,受宠而亦严加监护。因其性情和顺、易于裁驭、乐从府中安排,遂为权臣鄭江之“便当之选”。

故黎純宗于1735年四月崩后,鄭江排除純宗嫡长子黎維祧(后之黎顯宗),而立黎維祳即位,是为黎懿宗,在位至1740年五月。

在位

1735年由鄭江拥立后,黎懿宗建元“永祐”,正式为黎中兴第十四帝。然而实权尽归鄭府。六年在位期间,帝多居象征地位,朝政悉由鄭氏裁决。

至1740年五月,因四方农民起义迭起、时局纷扰,新任鄭主鄭營(代鄭江而立)迫懿宗禅位于黎維祧(純宗之嫡长),以顺人心、固黎室名分。懿宗让国诏书亦言:天下多乱,欲靖疆宇,故尊立长子以重宗统,收复民心。

禅位后,懿宗为太上皇,居乾寿殿。按制,其供奉社邑之额为当朝皇帝正额之三分之一。自是以太上皇身份安度十九年,受鄭府庇护而无虞。

其朝仅有一号“永祐”,虽期短而多故,于黎中兴史具标识性。

家属

父:黎裕宗(黎中兴第十一帝)。

母:宫妃阮氏,后追尊为宪慈皇太后。

后宫

宣武徽皇后鄭氏玉瑜:出自鄭氏勋门,握政要势。

德贵妃武氏。

后嗣

无子嗣。

末年

为太上皇近二十年,黎懿宗淡居内廷,少干政务,实际权力仍为鄭府所总。1759年8月,懿宗崩,享年四十一。朝廷以帝礼发引,其遗体葬于扶黎陵,座落于贞山(今清化省紹化县紹原社元山村)。

参考文献

  1. 瓊居、杜德雄(2001),《越南历代》,青年出版社。
  2. 潘輝注(2007),《历朝宪章类志》,教育出版社。
  3. 黎貴惇(1993),《大越通史》,同塔综合出版社。
  4. 黎文休、潘孚先、吳士連等(1993),《大越史记全书》,社会科学出版社。
  5. 黎嵩,《大越通监总论》,喃字文献保护会。
  6. 《黎朝玉谱》。
  7. 陳仲金(1943),《越南史略》,北城印书馆。
  8. 阮朝国史馆(1962),《大南实录前编》,史学出版社。
  9. 阮朝国史馆(1998),《欽定越史通鑑綱目》,教育出版社。
Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)