Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên (1689 – 1751)

Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên (1689 – 1751)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên là chính phi của Trịnh Cương. Bà có tên là khác là  Vũ Thị Tông, thụy hiệu Từ Đức, triều đình cũng như nhân dân tôn kính suy tôn là Quốc Thánh Mẫu.

Theo gia phả họ Vũ, Thái phi sinh ngày 21 tháng 3 năm 1688 (năm Mậu Thìn), mất ngày 21 tháng 9 âm lịch năm 1751 (năm Tân Mùi), hưởng thọ 63 tuổi. Năm 1706, khi vừa 18 tuổi, bà kết hôn với chúa Trịnh Cương. Thời điểm đó, Trịnh Cương đang nắm quyền ở Đàng Ngoài, được vua Lê phong làm Khâm sai Tiết chế các xứ, chỉ huy cả thủy lẫn bộ, kiêm Tổng quốc chính, mang hàm Thái úy Phổ Quốc Công, đứng đầu Kinh Quốc Phủ.

Thân phụ của Thái phi là Vũ Tất Tố, được phong tước Tuấn (Duệ) Trạch Công; thân mẫu là Trịnh Thị Năm, được phong Quận phu nhân, quê ở My Thử, Đường An. Hai ông bà sinh được bốn người con, gồm hai trai và hai gái. Thái phi là con gái cả trong gia đình; hai em trai là Vũ Trạc (còn gọi là Vũ Đạc) và Vũ Thiết (tức Vũ Tất Thận); em gái út là Vũ Thị Sơ.

Sự nghiệp

Bà còn là người đầy thao lược về mặt chính trị, quân sự. Bà đã từng nhiếp chính, điều khiển chính sự để lập chúa, phò vua; điều binh, khiển tướng để dẹp loạn bảo vệ chính quyền Lê Trịnh.

Thứ nhất, điều khiển quần thần lập Chúa.

Năm 1729 Chúa Trịnh Cương mất (lúc đó Bà Thái phi 41 tuổi), Trịnh Giang là con trưởng kế vị ngôi Chúa. Trịnh Giang và đại thần Hoàng Công Phụ điều hành chính sự ở Đàng ngoài. Do việc điều hành đất nước của Trịnh Giang có những chính sách không hợp lòng dân, gây bất bình khiến nông dân nổi loạn ở nhiều nơi. Trước tình hình đó, Bà Thái phi đã bàn định với quần thần lập Trịnh Doanh (con thứ của Bà) để thay Chúa Trịnh Giang (con trưởng của Bà).

Về việc lập Trịnh Doanh thay Trịnh Giang nhiều sử sách đã ghi chép lại. Sách Đại Việt sử ký tục biên đã ghi lại: “Thái phi Vũ Thị triệu Giảng thần Nguyễn Quý Kính khuyên Doanh, tính kế dẹp nội loạn cho yên xã tắc. Kính bèn đem mệnh của Thái phi đến bàn với Nguyễn Công Thái cùng nhau định kế”. Lợi dụng lúc Hoàng Công Phụ đem toàn quân bản bộ ra dẹp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển ở ngoài, Nguyễn Quý Kính đem hương binh vào kinh bảo vệ phủ chúa, nói với Trịnh Doanh về ý chỉ của Thái phi và vào chầu vua Lê, xin ra chỉ đưa Trịnh Doanh lên ngôi chúa. Sau đó hương binh của Quý Cảnh giết hết bè đảng của Hoàng Công Phụ. Năm Canh Thân (1740 – lúc đó Bà Thái phi 53 tuổi), Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang, lấy hiệu là Minh đô vương tiến tôn Trịnh Giang làm Thái thượng vương.

Trịnh Doanh liền ban hành nhiều quyết định hợp lòng người, được quần thần và dân chúng ủng hộ. Chính sách cai trị dưới thời Trịnh Doanh khá chắc chắn và hoàn chỉnh. Nhiều sắc chỉ được ban hành dưới thời Trịnh Cương (đã bị Trịnh Giang bỏ) nay được thực hiện.

Trịnh Doanh chăm lo chính sự, cho đặt ống đồng ở cửa phủ để nhận thư từ dân chúng tố giác việc làm sai trái của quan lại. Khi cần tuyển chọn và cất nhắc quan lại, Trịnh Doanh coi trọng thực tài nên trước khi bổ nhiệm ai, người đó phải vào phủ đường yết kiến để chúa trực tiếp hỏi về công việc, ai có khả năng mới trao cho chức quyền. Chúa thưởng phạt rất công minh. Nhiều danh sĩ xuất thân khoa bảng được trọng dụng thời đó, tiêu biểu là Lê Quí Đôn, Ngô Thì Sĩ..v.v.

Với sự hậu thuẫn đắc lực của Bà Thái Phi cùng các đại thần như: Hoàng Ngũ Phúc, Vũ Tất Thận, Phạm Đình Trọng.v.v…trong một thời gian ngắn Chúa Trịnh Doanh đã đưa xã hội Đàng ngoài trở lại ổn định và phát triển. Lịch sử đã ghi nhận những năm Chúa Trịnh Doanh cầm quyền ở Bắc Hà là thời kỳ đất nước ổn định và thịnh đạt.

Thứ hai, điều binh, khiển tướng bảo vệ kinh thành Thăng Long

Đương thời chúa Trịnh Giang tính tình bạo ngược, trong kinh ngoài trấn nông dân đứng lên dựng cờ khởi nghĩa khắp nơi, chống lại chính quyền họ Trịnh. Chúa Trịnh Doanh sau khi lên ngôi quyết tâm đánh diệt tất cả những cuộc khởi nghĩa này. Mỗi khi ngự giá của Chúa xuất kinh, đều do Vũ Thái phi lo liệu việc trong triều.

Mùa đông năm 1741, khi Chúa mang đại quân đánh dẹp bọn giặc Vũ Đình Dung ở Ngân Già, quân Ninh Xá của Nguyễn Cừ nhân sơ hở tiến quân lén về định đánh úp Kinh thành. Nhờ sự thao lược của Bà Thái phi, Kinh thành vẫn yên ổn.

Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục – Chính biên Quyển XXXVIII: “…Trước kia, khi đại quân trẩy xuống mặt nam, Nguyễn Cừ ở Ninh Xá cùng đồ đàng là Trần Diệu, nhân lúc sơ hở, tiến thẳng quân sát bến Bồ Đề, trong kinh thành không có quân, lòng người rất lo sợ. Lúc ấy. Thái phi Vũ Thị ở trong cung điều khiển bọn Trịnh Đạc chiểu theo địa giới giữ bốn cửa thành; lại phân phối sai quan văn là bọn Phạm Kinh Vĩ, Nguyễn Bá Quýnh đem hết dân cư ngoài thành ra bến sông bố trí hàng ngũ, để làm nghi binh, Đề lãnh Đặng Đình Mật đem quân trong cơ của mình sang qua sông, đánh Nguyễn Tuyển, Đình Mật bị bại, quay về.”

Lúc Trịnh Doanh mới dẹp được giặc Ngân Già, chợt được tin báo ở kinh thành đưa đến, Doanh hạ lệnh cho các đạo quân phải tinh sương đi mau trở về để cứu nơi căn bản. Khi đạo quân kéo về đến xã Kim Lan, thì giặc đã trốn chạy xa rồi, kinh sư vẫn được yên ổn”.

Qua đời và an táng

Ngày 21 tháng 9 ÂL năm thứ 12 Cảnh Hưng đời vua Lê Hiển Tông, tức 8 tháng 11 năm 1751, Vương thái phi Vũ thị qua đời, hưởng thọ 63 tuổi, ban tên thụy là Từ Đức, an táng ở thôn Thanh Chương, xã Kim Hoạch, huyện Thụy Nguyên (nay là huyện Thiệu Hóa), trấn Thanh Hoa. Đến đời Tĩnh vương Trịnh Sâm thì dời mộ phần sang xã Bổn Thủy, huyện Vĩnh Lộc.

Gia đình

Bà là Thái phi cùng Chúa Trịnh Cương sinh ra được 3 người con:

  1. Con trưởng là Đức Thái thượng vương (Đức Dụ tổ Thuận vương) Trịnh Giang (Chúa Trịnh Giang);
  2. Con thứ là Đức Thánh thượng Đại nguyên súy Tổng quốc chính sự Thượng sư Thượng phụ Anh Đoán Vạn Trị Vũ công Minh vương (Đức Nghị tổ Ân vương ) Trịnh Doanh (Chúa Trịnh Doanh).
  3. Con gái Thái trưởng công chúa Trịnh Thị Ngọc Cư, gả cho một Hoàng tử con Vua Lê Thuần Tông.

Về các người em của Bà:

  1. Vũ Trạc (Vũ Đạc), được phong các tước Phụ quốc thượng tướng quân, chỉ huy sứ Trạc Quận công và được ban Quốc tính mang họ Chúa (Trịnh Đạc).
  2. Vũ Thị Lưu (Sơ). qui tại Chùa Kim Liên ngày 10 tháng 8 (không rõ năm), sau Trụ trì tại Chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh; được phong tặng Viên không hoà thượng, Gia phong trung khiết hiếu hạnh, Trang tĩnh từ tuệ đại bồ tát, Bồ tát vương.
  3. Vũ Thiết (Vũ Tất Thận): được phong Súy Trung Dực vận Công thần Đồng Tham tụng Trung Doanh khuôn quân doanh Đô đốc phủ chánh Đô đốc Thự phủ sự kiêm Tôn nhâm phủ Hữu Tôn chính Đại tư đồ Bính trung công, Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân – Đại Tư Đồ Quốc lão Quận Công Đốc Khánh, vâng cho theo họ Trịnh là Trịnh Thiết cũng như Vương thân vậy

Nhận định

Trong sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Vua Tự Đức đã có lời khen: “Vũ Thị cũng là một người anh kiệt trong phái phụ nữ, cho nên mới có thể mấy lần định được kế mưu lớn.”, có ý khen bà Thái phi một lần chủ trương lập chúa Trịnh Doanh và một lần điều khiển các tướng bảo vệ kinh thành.

 Bà được tôn phong danh hiệu cao quý: Ý công Hậu đức Trang hạnh Đoan nghi Khuông vận Diễn phúc Quốc Thánh mẫu, đủ thấy công lao, sự ảnh hưởng của Bà đối với đất nước thời đó. Quốc Thánh Mẫu là một tôn hiệu cao quý. Trong lịch sử phong kiến, có đến hàng trăm, hàng nghìn hậu phi của vua chúa, nhưng được phong Quốc Thánh Mẫu thì không phải là nhiều. Theo sách Lịch Triều hiến chương loại chí, lịch sử phong kiến cũng chỉ nhắc đến 4 người được phong tôn hiệu cao quý này. Sách Lịch triều hiến chương loại chí còn nhận định:“Còn như vợ Dương vương [Trịnh Tạc] là họ Trịnh (người làng Thịnh Mỹ, huyện Lôi Dương) có công nuôi Gia Tông, được tôn phong là Quốc Thái Mẫu, vợ Nhân vương, họ Vũ (người làng My Thữ, huyện Đường An) có công nuôi ý Tông, được tôn phong là Quốc Thánh Mẫu, vì đã là vợ chúa tôn quý, lại nuôi nấng con vua, đức ý rõ ràng, cho nên được vinh tôn huy hiệu quý như thế, cũng chả lấy gì làm quá đáng”

Thờ tự

Hiện nay Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên đang được phụng thờ tại ba nơi: (1). Đền Bà Kiệu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; (2). Đền Bà Chúa tại thôn Tổ hỏa, xã Lý Thường Kiệt, tỉnh Hưng Yên (được xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2002) và (3). Đền Bà chúa Me Vũ Thị Ngọc Nguyên tại thôn Phục Lễ, xã Vĩnh Hồng, Bình Giang, Hải Dương (được xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2019 theo Quyết định số 333/QĐ-UBND ngày 22/01/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương).

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Thai Phi Vu Thi Ngoc Nguyen (1689–1751)

Background

Vu Thi Ngoc Nguyen was the principal consort of Trinh Cuong. She was also known by the personal name Vu Thi Tong, with the posthumous title Tu Duc. Both the court and the populace revered and exalted her as Quoc Thanh Mau (National Holy Mother).

According to the Vu clan genealogy, the Thai Phi was born on the 21st day of the 3rd lunar month in 1688 (the Mau Thin year) and died on the 21st day of the 9th lunar month in 1751 (the Tan Mui year), at the age of 63. In 1706, at the age of eighteen, she married Lord Trinh Cuong. At that time, Trinh Cuong held power in Dang Ngoai and had been invested by the Le king as Imperial Commissioner and Supreme Commander of all naval and land forces, concurrently Chief Administrator of State Affairs, bearing the rank of Thai Uy Pho Quoc Cong, and standing at the head of the Kinh Quoc Phu.

Her father was Vu Tat To, ennobled as Tuan (Due) Trach Cong; her mother was Trinh Thi Nam, titled Quan Phu Nhan, from My Thu village, Duong An district. The couple had four children—two sons and two daughters. Vu Thi Ngoc Nguyen was the eldest; her younger brothers were Vu Trac (also called Vu Dac) and Vu Thiet (i.e., Vu Tat Than); her youngest sister was Vu Thi So.

Career

Political and Military Leadership

She was a woman of remarkable political and military acumen. On several occasions she acted as regent, directing state affairs to enthrone lords and support the king, and commanding troops to suppress rebellions and safeguard the Le–Trinh regime.

Guiding the Court to Install a New Lord

In 1729, Lord Trinh Cuong died (the Thai Phi was then forty-one). His eldest son Trinh Giang succeeded as lord, with the grand minister Hoang Cong Phu assisting in governing Dang Ngoai. Trinh Giang’s unpopular policies provoked widespread unrest and peasant uprisings. Facing this crisis, the Thai Phi consulted with the court officials and resolved to install Trinh Doanh, her second son, in place of Trinh Giang.

This episode is recorded in historical sources. Dai Viet su ky tuc bien notes: “The Thai Phi Vu Thi summoned the lecturer Nguyen Quy Kinh and urged Doanh to devise plans to pacify internal disorder and stabilize the realm. Kinh then conveyed the Thai Phi’s command to Nguyen Cong Thai, and together they settled upon a strategy.” Taking advantage of Hoang Cong Phu’s absence while suppressing the Nguyen Tuyen uprising, Nguyen Quy Kinh led militia troops into the capital, protected the lord’s palace, conveyed the Thai Phi’s will to Trinh Doanh, and petitioned the Le king for an edict enthroning him. The militia then eliminated Hoang Cong Phu’s faction.

In the Canh Than year (1740), when the Thai Phi was fifty-three, Trinh Doanh ascended the lordship with the title Minh Do Vuong, while Trinh Giang was honored as Thai Thuong Vuong.

Under Trinh Doanh, many humane and popular measures were enacted, restoring decrees first promulgated under Trinh Cuong but abandoned during Trinh Giang’s rule. Administration became orderly and effective. A bronze tube was placed at the palace gate to receive petitions and accusations from the people. Officials were selected for merit; before appointment, candidates were personally examined by the lord. Rewards and punishments were impartially applied, and eminent scholars such as Le Quy Don and Ngo Thi Si were promoted. With the strong backing of the Thai Phi and senior ministers—including Hoang Ngu Phuc, Vu Tat Than, and Pham Dinh Trong—Dang Ngoai soon returned to stability and prosperity.

Commanding Troops to Defend Thang Long

During Trinh Giang’s tyrannical rule, peasant rebellions erupted throughout the capital and provinces. After ascending the throne, Trinh Doanh resolved to suppress them all. Whenever the lord personally led campaigns outside the capital, all court affairs were entrusted to the Thai Phi.

In the winter of 1741, while the lord led the main army to suppress Vu Dinh Dung’s forces at Ngan Gia, Nguyen Cu’s Ninh Xa troops attempted a surprise attack on Thang Long. Thanks to the Thai Phi’s strategic command, the capital remained secure. Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc records that she coordinated defenses at the four city gates, deployed civilians as decoys along the riverbank, and maneuvered loyal forces to thwart the attack until the main army returned, preserving the safety of the capital.

Death and Burial

On the 21st day of the 9th lunar month in the 12th year of Canh Hung under Le Hien Tong (8 November 1751), the Dowager Princess Vu Thi passed away at the age of 63. She was granted the posthumous title Tu Duc and buried at Thanh Chuong hamlet, Kim Hoach commune, Thuy Nguyen district (now Thieu Hoa district), Thanh Hoa. During the reign of Trinh Sam, her tomb was relocated to Bon Thuy commune, Vinh Loc district.

Family

With Lord Trinh Cuong, the Thai Phi bore three children:

  1. Trinh Giang, the eldest son, later Lord Trinh Giang;
  2. Trinh Doanh, the second son, later Lord Trinh Doanh;
  3. Trinh Thi Ngoc Cu, a senior princess, married to a prince, son of Le Thuan Tong.

Her siblings included:

  • Vu Trac (Vu Dac), ennobled as Phu Quoc Thuong Tuong Quan, titled Trac Quan Cong, and granted the Trinh surname as Trinh Dac;
  • Vu Thi Luu (So), who became a nun at Kim Lien Pagoda and later abbess of Phat Tich Pagoda, honored with lofty Buddhist titles;
  • Vu Thiet (Vu Tat Than), who attained the highest military and civil ranks, was ennobled as Quoc Lao Quan Cong, and likewise granted the Trinh surname as Trinh Thiet.

Assessment

In Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Emperor Tu Duc praised her: “Vu Thi was indeed a heroic woman, able on several occasions to determine great stratagems,” commending her role in enthroning Trinh Doanh and defending the capital. She was honored with the exalted title Y Cong Hau Duc Trang Hanh Doan Nghi Khuong Van Dien Phuc Quoc Thanh Mau, reflecting her immense merit and influence. Historically, very few royal consorts received the title Quoc Thanh Mau, underscoring the exceptional esteem accorded to her.

Worship

Today, Thai Phi Vu Thi Ngoc Nguyen is venerated at three sites:

  1. Ba Kieu Temple, Hoan Kiem District, Hanoi;
  2. Ba Chua Temple, To Hoa hamlet, Ly Thuong Kiet commune, Hung Yen Province (provincial historic monument, 2002);
  3. Ba Chua Me Vu Thi Ngoc Nguyen Temple, Phuc Le hamlet, Vinh Hong commune, Binh Giang district, Hai Duong Province (provincial historic monument, 2019).

References

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

Tiếng Pháp

Thai phi Vu Thi Ngoc Nguyen (1689–1751)

Origines et statut

Vu Thi Ngoc Nguyen était l’épouse principale (chinh phi) de Trinh Cuong. Elle portait également le nom personnel Vu Thi Tong, et reçut à titre posthume le thụy hiệu Tu Duc. Tant la cour que la population la vénéraient et la glorifiaient sous le titre honorifique de Quoc Thanh Mau.

Selon la généalogie du clan Vu, la Thai phi naquit le 21e jour du 3e mois de l’année Mau Thin (1688) et décéda le 21e jour du 9e mois lunaire de l’année Tan Mui (1751), à l’âge de 63 ans. En 1706, à l’âge de 18 ans, elle épousa le seigneur Trinh Cuong, alors détenteur du pouvoir en Dang Ngoai, investi par le roi Le du titre de Kham sai Tiet che cac xu, commandant suprême des forces terrestres et navales, cumulant la fonction de Tong quoc chinh, avec le rang de Thai uy Pho Quoc Cong, à la tête du Kinh Quoc Phu.

Son père était Vu Tat To, titré Tuan (Due) Trach Cong ; sa mère, Trinh Thi Nam, portait le titre de Quan phu nhan, originaire de My Thu, Duong An. Le couple eut quatre enfants : deux fils et deux filles. Vu Thi Ngoc Nguyen était l’aînée ; ses deux frères étaient Vu Trac (également appelé Vu Dac) et Vu Thiet (de nom Vu Tat Than) ; sa sœur cadette était Vu Thi So.

Rôle politique et militaire

Elle fut une femme dotée d’un remarquable sens stratégique, tant sur le plan politique que militaire. À plusieurs reprises, elle exerça la régence, dirigea les affaires de l’État pour établir le seigneur, soutenir le roi, mobiliser les troupes et réprimer les révoltes, assurant ainsi la pérennité du régime Le–Trinh.

Premièrement : diriger les hauts dignitaires pour établir le seigneur

En 1729, à la mort de Trinh Cuong (la Thai phi ayant alors 41 ans), Trinh Giang, son fils aîné, lui succéda comme seigneur. Le gouvernement de Trinh Giang, assisté du grand mandarin Hoang Cong Phu, adopta des politiques impopulaires, provoquant de nombreuses insurrections paysannes.

Face à cette situation, la Thai phi consulta les hauts dignitaires et décida de promouvoir Trinh Doanh, son second fils, afin de remplacer Trinh Giang.
Le Dai Viet su ky tuc bien rapporte : « La Thai phi Vu Thi convoqua le conseiller Nguyen Quy Kinh pour exhorter Doanh à élaborer un plan visant à apaiser les troubles internes et à préserver l’État. Kinh transmit ensuite l’ordre de la Thai phi à Nguyen Cong Thai afin d’en arrêter la stratégie. »

Profitant de l’absence de Hoang Cong Phu, parti réprimer la révolte de Nguyen Tuyen, Nguyen Quy Kinh fit entrer les milices locales dans la capitale, protégea le palais du seigneur, informa Trinh Doanh de la volonté de la Thai phi, puis sollicita auprès du roi Le un édit proclamant Trinh Doanh seigneur. Les partisans de Hoang Cong Phu furent alors éliminés.

En l’an Canh Than (1740), Trinh Doanh monta sur le trône seigneurial sous le titre de Minh Do vuong, tandis que Trinh Giang fut élevé au rang de Thai thuong vuong.

Sous son règne, Trinh Doanh promulgua des politiques populaires, rétablit des édits abandonnés auparavant et gouverna avec équité. Il institua notamment un dispositif permettant au peuple de dénoncer les abus des fonctionnaires, sélectionna les mandarins selon le mérite réel, et administra récompenses et sanctions avec impartialité. De nombreux lettrés éminents, tels que Le Qui Don et Ngo Thi Si, furent alors promus.

Avec le soutien décisif de la Thai phi Vu Thi Ngoc Nguyen et de hauts dignitaires comme Hoang Ngu Phuc, Vu Tat Than et Pham Dinh Trong, la société de Dang Ngoai retrouva rapidement stabilité et prospérité. L’histoire reconnaît cette période comme un âge de paix et de développement du Bac Ha.

Deuxièmement : mobiliser les troupes pour défendre Thang Long

Sous Trinh Giang, la tyrannie et la décadence provoquèrent de nombreuses révoltes. Après son avènement, Trinh Doanh entreprit de les éradiquer. Chaque fois que le seigneur quittait la capitale pour conduire une expédition, la Thai phi assurait la gestion des affaires internes.

En hiver 1741, alors que l’armée seigneuriale combattait Vu Dinh Dung à Ngan Gia, les troupes de Nguyen Cu, basées à Ninh Xa, tentèrent de surprendre la capitale. Grâce à la clairvoyance stratégique de la Thai phi, Thang Long demeura en sécurité.

Le Kham dinh Viet su Thong giam Cuong muc (Chinh bien, vol. XXXVIII) relate en détail comment elle organisa la défense de la ville, déploya des forces de diversion et coordonna les mandarins civils et militaires, jusqu’au retour précipité de Trinh Doanh, qui trouva la capitale intacte.

Décès et sépulture

Le 21e jour du 9e mois lunaire de la 12e année Canh Hung, sous le règne du roi Le Hien Tong (8 novembre 1751), la Vuong Thai phi Vu Thi s’éteignit à l’âge de 63 ans. Elle reçut le thụy hiệu Tu Duc et fut inhumée au village de Thanh Chuong, commune de Kim Hoach, district de Thuy Nguyen (actuel district de Thieu Hoa), dans la province de Thanh Hoa. Sous le règne de Trinh Sam, sa sépulture fut transférée dans la commune de Bon Thuy, district de Vinh Loc.

Famille

De son union avec Trinh Cuong, elle eut trois enfants :

  1. Trinh Giang, fils aîné, devenu plus tard seigneur Trinh Giang ;
  2. Trinh Doanh, second fils, futur seigneur Trinh Doanh ;
  3. La princesse aînée Trinh Thi Ngoc Cu, mariée à un prince, fils du roi Le Thuan Tong.

Ses frères et sœurs comprenaient notamment Vu Trac (Trinh Dac), Vu Thi Luu (So), religieuse bouddhiste éminente, et Vu Thiet (Vu Tat Than), haut dignitaire militaire et civil, autorisé à porter le nom dynastique Trinh.

Appréciation historique

Dans le Kham dinh Viet su Thong giam Cuong muc, l’empereur Tu Duc loua son talent en ces termes : « Vu Thi fut une héroïne parmi les femmes, capable à plusieurs reprises de concevoir et de réaliser de grands desseins. »

Elle reçut le titre solennel de Y cong Hau duc Trang hanh Doan nghi Khuong van Dien phuc Quoc Thanh Mau, attestant l’ampleur de son mérite et de son influence. Dans l’histoire féodale, seules quatre femmes reçurent le titre de Quoc Thanh Mau, ce qui souligne le caractère exceptionnel de son statut.

Culte

Aujourd’hui, la Thai phi Vu Thi Ngoc Nguyen est honorée dans trois lieux :

  1. Le temple Ba Kieu, district de Hoan Kiem, Hanoi ;
  2. Le temple Ba Chua, hameau To Hoa, commune de Ly Thuong Kiet, province de Hung Yen (classé monument historique provincial en 2002) ;
  3. Le temple Ba Chua Me Vu Thi Ngoc Nguyen, hameau Phuc Le, commune de Vinh Hong, district de Binh Giang, province de Hai Duong (classé monument historique provincial en 2019).

Références

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

Tiếng Trung        

太妃武氏玉元(1689—1751)

身世

太妃武氏玉元,为郑纲(Trinh Cuong)之正妃。其又名武氏宗(Vu Thi Tong),谥号慈德。朝廷与民间尊崇其为国圣母,以彰其德业与功绩。

据《武氏族谱》记载:太妃生于戊辰年(1688)三月二十一日,卒于辛未年(1751)九月二十一日(农历),享年六十三岁。
康熙四十五年(1706),年仅十八岁的武氏玉元与郑纲成婚。

当时,郑纲执掌外藩(北河)政权,受后黎朝敕封为:
钦差节制诸处水陆军务、兼总国政、太尉、普国公,总领经国府,权倾朝野。

太妃之父为武必素(Vu Tat To),封俊(锐)泽公;母为郑氏南(Trinh Thi Nam),封郡夫人,籍贯美储村、唐安府(My Thu, Duong An)。二人育有四子女:二子二女。太妃为长女;两位弟弟分别为武濯(武铎)(Vu Trac / Vu Dac)与武铁(即武必慎)(Vu Thiet / Vu Tat Than);幼妹为武氏初(Vu Thi So)。

政治与军事活动

(一)临朝决策,主持立主

雍正七年(1729),郑纲去世(时太妃四十一岁),其长子郑江(Trinh Giang)继任郑主,与大臣黄公辅(Hoang Cong Phu)共同执政。

然郑江治政乖离民意,政令苛刻,激起各地农民起义,北河局势动荡。太妃遂与群臣密议,决定改立其次子郑营(Trinh Doanh),以取代郑江。

《大越史记续编》记载曰:

“太妃武氏召讲臣阮贵敬,劝营筹画大计,以平内乱而安社稷。贵敬乃奉太妃之命,与阮公泰等共定其策。”

时值黄公辅率本部军队外出镇压阮选(Nguyen Tuyen)起义,阮贵敬(又名阮贵景)遂率乡兵入京,保护郑主府,并奉太妃之意旨,入朝请旨,立郑营为新郑主。其后,乡兵肃清黄公辅党羽。

庚申年(1740,太妃五十三岁),郑营即位,号明都王,尊郑江为太上王。

郑营执政后,推行宽政,恢复多项郑纲时期被废止的法令,朝野上下为之振奋。其重视实学,严明赏罚,设铜筒于府门,广纳民情;凡官员选拔,必亲自面询,量才授职。 一时名士辈出,如黎贵惇、吴时仕等,皆获重用。

在太妃与群臣如黄五福、武必慎、范廷仲等辅佐下,北河社会迅速恢复秩序,史称郑营在位之年为北河稳定而昌盛之期。

(二)运筹帷幄,保卫升龙京城

郑江在位期间,性情残暴,各地起义四起。郑营即位后,亲征四方,而凡郑主出征之时,朝中政务皆由太妃总理。

乾隆六年(1741)冬,郑主营大军征讨武廷庸(Vu Dinh Dung)于银嘉(Ngan Gia),宁舍(Ninh Xa)之阮渠(Nguyen Cu)乘虚率军欲袭升龙京城。

据《钦定越史通鉴纲目·正编·卷三十八》载:

“先是,大军南征,宁舍阮渠与其党陈耀,乘虚直逼菩提渡,京师无兵,人心震恐。时太妃武氏在宫,命郑铎按地界守四城门,又遣文官范京伟、阮伯炯率城外百姓列阵河岸为疑兵;提领邓廷密率所部渡河击阮选,不利而返。”

郑营得报后,急令诸军昼夜兼程回师,至金兰社(Kim Lan)时,贼已遁去,京城得保无虞。

逝世与安葬

景兴十二年(1751)九月二十一日(农历),后黎显宗(黎显宗,Le Hien Tong)在位期间,武氏太妃薨逝,享寿六十三岁,赐谥慈德。

初葬于清章村、金获社、水原县、清化镇,后于靖王郑森(Trinh Sam)时期迁葬至本水社、永禄县。

家庭

太妃与郑纲共育三名子女:

  1. 长子:德太上王(德裕祖顺王)郑江(Trinh Giang);
  2. 次子:德圣上大元帅、总国政事、上师上父、英断万治武功、明王(德议祖恩王)郑营(Trinh Doanh);
  3. 长女:太长公主郑氏玉居(Trinh Thi Ngoc Cu),嫁予后黎纯宗(Le Thuan Tong)之皇子。

史家评价

《钦定越史通鉴纲目》中,嗣德帝(Tu Duc)评价曰:

“武氏亦女中英杰,故能数定大谋。”

朝廷尊其为: “意功后德、庄行端仪、匡运演福、国圣母”。

据《历朝宪章类志》记载,历代后妃中,获封国圣母者寥寥无几,仅四人而已,足见武氏太妃之功业与影响。

祀祠

今太妃武氏玉元奉祀于三处:

  1. 河内市还剑郡婆庙;
  2. 兴安省李常杰社祖火村婆主庙(2002年列省级历史遗迹);
  3. 海阳省平江县永鸿社复礼村武氏玉元母主庙(2019年列省级历史遗迹)。

參考

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10. Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11. Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12. Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (3)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)