Chúa Trịnh Cương (1686 – 1729)

Chúa Trịnh Cương (1686 – 1729)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Trịnh Cương (9 tháng 7 năm 1686 – 20 tháng 12 năm 1729), tự là Trịnh Chù, thụy hiệu là Hy Tổ Nhân vương (禧祖仁王), là vị chúa Trịnh thứ năm dưới thời Lê trung hưng trong lịch sử Đại Việt. Ông là con trai thứ hai của Tấn quốc công Trịnh Bính, cháu nội của Lương Mục công Trịnh Vịnh, và là chắt trưởng của Chiêu Tổ Khang vương Trịnh Căn. Mẫu thân ông là bà Trương Thị Ngọc Chử, người làng Như Quỳnh, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc.

Thuở nhỏ, Trịnh Cương được Thuận phi Ngô Ngọc Uyên, vợ thứ của Trịnh Căn, nhận nuôi và trực tiếp dạy dỗ trong phủ. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh, cẩn trọng, có tư chất của người lãnh đạo: ham học hỏi, chăm chỉ đọc sách và sớm hiểu việc chính sự.

Trong gia đình Trịnh Bính, ngoài Chính phi Trần Thị Ngọc Nhiên (con gái Liêm quận công Trần Đăng Doanh), còn có nhiều bà thứ phi khác. Chính phi họ Trần không có con, trong khi Trịnh Bính có hai người con trai là Trịnh Đạc và Trịnh Cương. Tuy là con thứ, nhưng do xuất thân mẫu thân chính đáng, lại được các đại thần đánh giá cao về đức độ và trí tuệ, Trịnh Cương được coi là người đích tôn hợp lễ để kế vị.

Bối cảnh lịch sử

Năm 1700 (15 tuổi), ông được phong làm Phó tướng Phổ An hầu, đến năm 1702 thăng Đô đốc Phổ quận công, sớm tham dự triều chính dưới quyền của ông cố. Năm 1703, khi thân phụ Trịnh Bính qua đời, việc kế thừa ngôi chúa trở thành vấn đề then chốt trong nội bộ họ Trịnh. Dưới sự tiến cử của hai đại thần kỳ cựu là Nguyễn Quý Đức và Đặng Đình Tướng, Trịnh Căn đã quyết định chọn Trịnh Cương làm người kế nghiệp.

Cùng năm, ông được vua Lê Hy Tông phong làm Khâm sai Tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh kiêm Tổng chấp chính, Thái úy An quốc công, mở phủ Lý quốc đồng nghĩa với việc chính thức được chỉ định làm người kế vị ngôi chúa. Khi ấy, ông mới 18 tuổi.

Tuy nhiên, quyết định này không tránh khỏi sóng ngầm chính trị, hai người con của Trịnh Bách là Hằng quận công Trịnh Luân và Đĩnh quận công Trịnh Phất bất bình, cho rằng ngôi vị chúa phải truyền theo dòng trưởng. Họ cùng Quỳnh quận công Đào Quang Nhai, Trịnh Lộc hầu Lê Thời Đường, Hân Thọ hầu Nguyễn Quang Phụ mưu đảo chính để giết Trịnh Cương. Âm mưu bị hiệu thảo Nguyễn Công Cơ phát giác, tố giác lên phủ chúa. Kết quả, Trịnh Luân và Trịnh Phất bị xử tử; Nguyễn Công Cơ được thăng làm Hữu Thị lang bộ Công, mở đầu cho mối quan hệ thân cận giữa vị tân chúa tương lai với nhóm đại thần trẻ đầy năng lực.

Ngày 17 tháng 6 năm 1709, sau khi Trịnh Căn qua đời, Trịnh Cương chính thức nối ngôi, lấy tước Nguyên soái Tổng quốc chính, An Đô vương. Ngay trong năm đầu trị vì, ông cho miễn giảm một nửa thuế tô cùng các khoản nợ thuế cũ, đồng thời thăng chức cho quan văn võ, củng cố bộ máy hành chính và thiết lập kỷ cương triều chính.

Sự nghiệp

Ngay từ khi lên ngôi chúa, Trịnh Cương đã tỏ ra là người siêng năng, mẫn cán, hết lòng vì việc nước. Ông thường xuyên cùng các đại thần như Tham tụng Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Quý Đức bàn việc triều chính từ canh năm cho đến lúc mặt trời lặn. Việc gì trong phủ liêu, từ chính trị, quân sự, thuế khóa, lễ nhạc cho đến nhân sự, ông đều tự tay xem xét kỹ lưỡng. Nhờ vậy, triều chính dưới thời ông được coi là nghiêm chỉnh, kỷ cương chặt chẽ, xã hội Đàng Ngoài ổn định và thịnh trị.

Sách Khâm định Việt sử thông giám Cương mục có chép một giai thoại cho thấy tinh thần cần mẫn của ông. Một lần, khi canh năm mới điểm, Trịnh Cương đã cho triệu Nguyễn Công Hãng và Lê Anh Tuấn vào phủ để bàn việc. Khi các quan đến nơi, chúa nói:

“Vừa rồi trong giấc ngủ, ta chợt nghĩ đến điều cảnh giác, chẳng hay từ đời xưa có ai như vậy chăng?”

Nghe vậy, Công Hãng cùng Anh Tuấn cúi đầu tạ rằng:

“Chúa chăm lo quốc sự từ sớm đến khuya, công việc lớn nhỏ đều xét kỹ, khiến thần đẳng cảm phục. Từ đời trước đến nay, chưa từng có vị quân vương nào siêng năng đến thế.”

Chúa bèn mời hai người ngồi, cho uống trà, thong thả luận bàn quốc sự cho đến khi mặt trời lên cao mới tan buổi nghị.

Sách Đại Việt sử ký tục biên đã ghi nhận:

Bấy giờ chúa Trịnh hăng hái cố gắng lo tính cuộc thịnh trị. Tể thần là bọn Công Hãng có nhiều kiến nghị sáng suốt, cho nên những chế độ về binh, dân, tài chính và phú thuế được xây dựng và xếp đặt có thể gọi là kỹ càng đầy đủ trong một thời.

Thời bấy giờ, ở Đàng Trong, chúa Nguyễn Phúc Chu từng nuôi chí tiến đánh Bắc Hà. Nhưng khi sai người ra thám thính, các sứ giả đều tâu rằng:

Triều đình Bắc Hà cường thịnh, tướng văn tướng võ đều là người tài, binh lương sung túc, quân bộ, quân thủy đều tinh nhuệ.

Nghe vậy, chúa Nguyễn buộc phải từ bỏ ý định chinh phạt, khiến hai miền Trịnh – Nguyễn tạm giữ thế hòa bình suốt hơn nửa thế kỷ.

Các cải cách về kinh tế – xã hội

  • Về đê điều và ruộng đất

Ngay năm 1711, Trịnh Cương đã bắt tay chỉnh đốn việc đê điều, giao cho quan văn võ ở kinh thành như Lê Dị Tài, Trần Đông Trụ trực tiếp xuống các trấn đốc thúc, thay vì để quan địa phương tự làm. Nhờ vậy, việc hộ đê bớt được tệ tham nhũng và công việc tiến hành có quy củ hơn, dù chưa thể triệt để ngăn nạn lụt.

Cũng năm ấy, ông cho ban hành lại chính sách cấp ruộng công theo chu kỳ sáu năm, dựa trên số dân đinh từng xã. Ruộng đất được phân bổ cả cho người cô quả, tàn tật, và quy định nghiêm cấm mua bán ruộng công. Ông đồng thời cấm lập trang trại riêng, vì tầng lớp quyền quý thường lợi dụng quyền thế để chiếm ruộng, dụ dân phiêu tán đến nấp bóng. Tuy vậy, những người nghèo phiêu lưu khai khẩn đất hoang vẫn được triều đình cho phép giữ lại để an cư.

  • Chính sách cấm đạo và trấn trị vùng biên

Năm 1711, thấy đạo Thiên Chúa lan truyền mạnh ở các vùng đồng bằng, Trịnh Cương ra lệnh cấm đạo nghiêm khắc: ai tố giác người theo đạo sẽ được thưởng, còn kẻ phạm sẽ bị khắc bốn chữ “Học Hòa Lan đạo” lên trán. Dù vậy, biện pháp này không đem lại hiệu quả mong muốn vì dân gian vẫn lén lút bao che.

Năm 1712, theo tấu của Nguyễn Quý Đức và Nguyễn Thế Bá, ông buộc các quan ở các trấn miền núi như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn phải đến tận nơi nhậm chức, không được ở lại nội trấn, nhằm ngăn nạn tham nhũng, ức hiếp dân.

  • Chính sách cứu đói và cải cách thuế khóa

Từ năm 1713 trở đi, thiên tai liên tiếp giáng xuống, mất mùa và đói kém tràn lan. Trịnh Cương ra lệnh xá thuế, phát chẩn và khuyến khích quyên thóc cứu dân; ai nộp thóc cứu đói được phong quan chức. Ông cũng cho đo đạc lại ruộng đất, điều chỉnh thuế đinh – điền cho công bằng.

Đến năm 1715, ông bãi bỏ độc quyền muối, quế, đồng đỏ, cho phép dân tự do buôn bán nhưng vẫn quy định rõ mức thuế thu nộp. Năm 1716, ông thi hành chế độ chia đều thuế đinh và thuế ruộng, giúp dân nghèo giảm bớt gánh nặng, đồng thời bảo đảm nguồn thu ngân khố.

Từ năm 1721 – 1722, dưới sự chủ trì của Nguyễn Công Hãng, triều đình ban hành bộ thuế mới gồm ba hạng: tô, dung, điệu.

Tô: thuế ruộng chia theo loại đất tốt xấu;

Dung: mỗi suất đinh nộp 2 quan, riêng người già yếu hoặc sinh đồ nộp một nửa;

Điệu: thuế lao dịch, thay việc phu phen bằng nộp tiền.

Phép thuế này được xem là hợp lý và khoan dung hơn trước, được dân ủng hộ.

  • Quản lý mỏ và dân ngoại lai

Ở vùng thượng du, nhiều mỏ vàng, bạc do thương nhân Hoa kiều khai thác, tập trung đông đúc, gây lo ngại bất ổn. Năm 1719, Trịnh Cương quy định số phu tối đa mỗi mỏ chỉ được từ 100 đến 300 người, tùy quy mô. Tuy nhiên, thực tế sau vẫn có nơi vượt quá hàng vạn, buộc triều đình phải đem binh dẹp loạn.

  • Chính sách xã hội và hình luật

Trịnh Cương là vị chúa có tư tưởng nhân đạo. Năm 1721, ông bỏ hình chặt tay đối với tội lưu đày, đổi thành các mức đồ tội theo thời hạn. Cũng năm ấy, trước cảnh dân đắm vào rượu chè, ông ban lệnh cấm rượu, chỉ cho phép dùng trong tế lễ, cưới hỏi hay tang ma.

Triều đình còn đánh thuế muối (1721) nhằm tăng ngân khố, nhưng thuế cao khiến giá muối tăng vọt, gây khổ dân nên sau bị bãi bỏ thời Trịnh Giang.

Cải cách trong giáo dục và thi cử

Thời Lê trung hưng, nạn gian lận thi cử tràn lan, người ta mua bán bài mẫu, học thuộc lòng rồi chép lại trong trường. Năm 1711, Trịnh Cương ra lệnh đổi mới đề thi mỗi năm, cấm dùng văn mẫu, khiến thói hư ấy giảm hẳn. Đến năm 1721, để tăng tính khách quan, ông quy định đề thi Hương thứ 3 và thứ 4 do phủ Chúa trực tiếp soạn, gửi trạm đến các trường thi.

Năm 1720, nhận thấy trường Sơn Nam có nhiều sĩ tử, ông tăng chỉ tiêu đỗ hương cống từ 60 lên 80, sinh đồ từ 600 lên 800, đặt thành lệ lâu dài.

Đặc biệt, ông đặt ra phép học võ và thi võ (1721): lập trường võ ở kinh đô, con cháu quan lại phải vào học. Kỳ thi võ chia ba phần: lý thuyết, võ nghệ, và thao lược quân sự, tổ chức ba năm một lần như văn khoa. Người đỗ cao được gọi là tạo sĩ, được bổ nhiệm vào chức vụ trong quân ngũ.

Đến khoa 1726, vì nạn mua chuộc lại nổi lên, Trịnh Cương cho thi lại toàn bộ, đánh hỏng 28 người, trong đó có cả con cháu đại thần, chứng tỏ ông quyết tâm giữ nghiêm kỷ cương học chính.

Quan hệ giữa Chúa và vua Lê

Tuy nắm toàn quyền, Trịnh Cương vẫn giữ danh nghĩa tôn phù nhà Lê. Tuy nhiên, ông ngày càng củng cố quyền hành của phủ Chúa. Từ năm 1714, ông ít vào chầu vua, giao quan thay mặt vào điện yết kiến. Đến năm 1715, ông ép vua Lê Dụ Tông ban đặc quyền: được xưng là “vương”, khi vào chầu không phải quỳ lạy.

Năm 1718, Trịnh Cương đặt Lục phiên phủ Chúa (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công), trực tiếp cai quản mọi công việc chính trị – tài chính – binh dân, khiến Lục bộ triều Lê chỉ còn hư danh. Từ đây, vua Lê gần như mất hết thực quyền.

Tuy vậy, trong nghi lễ trọng như tế Nam Giao năm 1724, khi vua bị đau không đi được, Trịnh Cương vẫn khiêm nhường thay tế, chỉ hành lễ ở sân điện Chiêu Sư, được khen là người có đức tôn phù. Nhưng trong nội bộ triều đình, ông đã can thiệp sâu: ép vua lập Lê Duy Phường (con chính thất họ Trịnh) làm thái tử thay cho Lê Duy Tường, rồi năm 1729 buộc Lê Dụ Tông thoái vị, lập Duy Phường làm vua.

Bang giao với nhà Thanh

Thời Trịnh Cương, bang giao với nhà Thanh vẫn được duy trì hòa hiếu. Năm 1718, ông cử Nguyễn Công Hãng và Nguyễn Bá Tông sang Yên Kinh báo tang Lê Hy Tông và xin phong vương cho Dụ Tông. Vua Khang Hy chuẩn định: 6 năm dâng cống một lần, trở thành lệ định lâu dài.

Năm 1719, sứ Thanh sang phong, yêu cầu làm lễ tam quỳ cửu khấu, nhưng Trịnh Cương cương quyết chỉ lạy tam khấu ngũ vái, viện lẽ “lễ nước Nam khác với Trung Hoa”, khiến sứ Thanh phải chấp thuận.

Đến năm 1726 – 1728, ông còn xử lý vụ biên giới Tụ Long, thương lượng với tổng đốc Vân Quý Ngạc Nhĩ Thái, giữ được phần lớn lãnh thổ cũ, chỉ mất 40 dặm quanh khu mỏ đồng. Điều đó cho thấy khả năng ngoại giao mềm dẻo, bảo toàn chủ quyền của ông.

Gia quyến

Cha: Tấn quốc công Trịnh Bính

Mẹ: Trương Thị Ngọc Chử

Chính thất: Từ Đức Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên (21 tháng 3 năm 1688 – 21 tháng 9 năm 1751), tức Chiêu viện Vũ thị, tên tục là Thị Tông, người làng My Thử, tổ tiên vốn ở Tử Dương, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu. Theo Trịnh gia chính phả, bà là con gái của Duệ Trạch công Vũ Tất Du (còn gọi Vũ Tất Tố), người My Thử, huyện Đường An, Hải Dương. 

Thứ thất:

  • Từ Trinh Thứ phi Trần Thị Ngọc Diễm.
  • Từ Thục Thứ phi Trần Thị Ngọc Tần, em gái của Từ Trinh.
  • Tu dung Biện Thị, người xã A Lữ, xuất thân trong gia đình hát xướng. 
  • Tu nghi Phan Thị Diễm (1701 – 1785), con gái Quận công Phan Văn Tĩnh. Bà nổi tiếng thông tuệ, có đức độ và học thức, được phong Tu nghi, về sau sống đến cuối đời với danh vị tôn kính trong phủ.
  • Kỳ viên Đặng Thị, người làng Đổng Tra.
  • Cung tần Nguyễn Gia Thị Hiến, quê ở thôn Liễu Ngạn (nay thuộc Bắc Ninh). Sau khi chúa mất, bà tái giá với quan Thông sự tên Thiêm.
  • Cung tần Phan Thị Chỉnh, chị ruột của Tu nghi Phan Thị Diễm, sau tái giá vào nhà họ Đinh ở Hàm Giang.
  • Cung tần Thượng Trâm, chưa rõ lai lịch, là mẹ của vương tử thứ sáu, được ghi nhận vẫn còn sống đến thời chúa Trịnh Sâm (1773).

Con trai:

  • Đức Dụ Tổ Thuận vương Trịnh Giang (1711 – 1761), con trưởng của Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên, kế vị ngôi chúa sau khi cha mất.
  • Thọ quận công Trịnh Đang, người có công trong việc trị quân, giữ chức trọng trong phủ.
  • Phúc quận công Trịnh Trang, một hoàng tử cẩn trọng, giỏi việc hành chính.
  • Đức Nghị Tổ Ân vương Trịnh Doanh (1719 – 1767), cũng là con của Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên, sau kế vị Trịnh Giang, khôi phục kỷ cương, là vị chúa anh minh, được sử gia đời sau ca ngợi.
  • Khanh quận công Trịnh Kiều, giữ nhiều trọng trách trong nội quân.
  • Huy quận công Trịnh Tập, một hoàng tử văn võ kiêm toàn.
  • Nghiêm quận công Trịnh Miên, lấy công chúa con vua Lê Hiển Tông, gắn kết hai dòng họ Lê – Trịnh.

Con gái:

  • Thái trưởng quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cư, lấy Nhượng quận công Trương Nhai, mẹ là Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên.
  • Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Yên, trở thành Hoàng hậu của Lê Đế Duy Phường.
  • Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Trùy, lấy Vịnh quận công Đặng Đình Mật (1700 – 1760).
  • Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Quỹ, lấy Lộc Thọ hầu Lê Thời Lộc, gắn bó với dòng họ Lê trung hưng.
  • Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Phúc, lấy Đôn Trung hầu Nguyễn Tính.
  • Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Như (1720 – ?), con của Tu nghi Phan Thị Diễm, lấy Chất Vũ hầu Trương Đình Chất, sau tái giá với Ngô Kỳ hầu Ngô Phúc Hoành.
  • Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Soạn (1717 – 1786), lấy Đạt Vũ hầu Nguyễn Gia Cư, là mẹ của thi nhân Nguyễn Gia Thiều, tác giả Cung oán ngâm khúc. Bà được phong Trưởng thượng công chúa, hiệu Trang Thục, thụy hiệu Trinh Từ, thường được dân gian gọi là Công chúa Quỳnh Liên.
  • Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Hữu, lấy Tín Trung hầu Nguyễn Hy Tái.

Cuối đời – thờ phụng

Mùa xuân năm 1729, chúa Trịnh Cương thân chinh đi tuần phương Đông, đại duyệt thủy quân tại cửa biển Triều Châu, nhằm kiểm tra binh lực và củng cố phòng tuyến ven biển. Sau đó, đến tháng 10 cùng năm, ông tiếp tục bắc tuần, dừng chân nghỉ tại núi Tiền Tích, rồi hơn một tháng sau mới trở về phủ chúa. Tuy nhiên, chưa ở kinh được bao lâu, Trịnh Cương lại về Như Kinh, quê mẹ của mình, để yết bái tổ tiên và chăm lo việc gia lễ.

Tại hành cung Như Kinh, vào ngày 16 tháng Giêng năm 1730, chúa Trịnh Cương lâm bệnh nặng rồi qua đời, hưởng dương 44 tuổi, giữ quyền chính trong 20 năm (1710 – 1730). Sử chép rằng, khi ông mất, để tránh xáo động trong triều, Thái phi họ Trương đã sai nội giám Nguyễn Huân bí mật đưa linh cữu trở về kinh đô. Bà còn sắp đặt cho Kỳ viên họ Đặng, một cung phi thân tín, ngồi trong kiệu hầu như thể chúa vẫn còn sống, đoàn hộ giá vẫn đi theo lễ nghi thường nhật, khiến ngoài triều không ai hay biết. Chỉ đến khi đoàn về tới phủ chúa, triều đình mới phát tang, toàn quốc để tang trong tiếng khóc thương của bá quan văn võ.

Sau khi chúa qua đời, Thế tử Trịnh Giang lên nối ngôi, truy tôn cha là Nhân vương, miếu hiệu Hy Tổ, đời sau thường gọi là Hy Tổ Nhân vương (禧祖仁王). Linh cữu của ông được an táng tại cánh đồng Xích Lạc, thuộc thôn Bùi Thượng, xã Yên Giang, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Nhận định – đánh giá

Các học giả đương thời và hậu thế đều nhìn nhận Trịnh Cương là một vị chúa có năng lực, có tâm với việc nước và đặc biệt chú trọng đến việc chấn chỉnh kỷ cương, pháp độ. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí đã ghi nhận rằng:

Trong khi chúa giữ chính, chăm chỉ lo toan trị nước, cùng với các tể tướng ngày đêm trù tính. Phàm việc binh, dân, tiền của, thuế khóa đặt ra rõ ràng đầy đủ.

Theo Phan Huy Chú, thời Trịnh Cương trị nước, triều chính được tổ chức quy củ, xã hội ổn định, kinh tế có phần hưng thịnh. Ông cũng cho rằng thời vua Lê Dụ Tông là một thời kỳ thịnh trị, trong nước vô sự, các phương xa đến cống hiến, Trung Quốc trả lại đất đai. Điều đó cho thấy ảnh hưởng tích cực của Trịnh Cương trong việc củng cố chính trị, duy trì hòa bình và phục hồi kinh tế quốc gia sau nhiều năm nội chiến.

Ngay cả Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục của triều Nguyễn vốn thường chê trách họ Trịnh cũng thừa nhận rằng thời Chính Hòa và Vĩnh Thịnh là bốn phương vô sự, trong nước hơi yên, xem đó là một giai đoạn thịnh vượng trong một thời.

Sử gia hiện đại Tạ Chí Đại Trường, trong Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, cũng có nhận định công bằng, các chúa Trịnh, đặc biệt là Trịnh Cương, không hề là những kẻ tàn bạo hay nhu nhược như cách miêu tả của đối phương trong lịch sử. Ông cho rằng Trịnh Cương là người có tư duy cải cách, thi hành cải cách nhiều nhất, có căn bản nhất, đặc biệt là các biện pháp về thuế khóa năm 1723 và việc giảm hình phạt như bỏ tục chặt tay (1721) hay không xử tử xã trưởng khi ẩn lậu dân đinh. Đây là những quyết sách thể hiện tầm nhìn nhân văn và tiến bộ, cho thấy Trịnh Cương đã cố gắng làm cho xã hội bớt khắc nghiệt hơn trong khuôn khổ phong kiến.

Soạn giả Trần Bạch Đằng và Lê Văn Năm cũng đánh giá cao vai trò cải cách của ông, coi Trịnh Cương là người có ý chí, bản lĩnh, năng động và thực sự lo toan đến sự hưng vong của đất nước. Với sự hỗ trợ của các danh thần như Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn, ông đã tiến hành cải cách hành chính, chỉnh đốn bộ máy nhân sự và cải tổ kinh tế – tài chính. Dù kết quả chưa đạt được toàn diện, song những thay đổi ấy đã giúp Đàng Ngoài có bước phục hồi rõ rệt.

Học giả Phạm Đình Hải gọi Trịnh Cương là vị chúa của thời bình, một người tuy không trải qua chiến trận nhưng vẫn giữ được sự cần mẫn, không sa vào hưởng lạc như một số vị quân chủ cuối thời trung đại. Ông cho rằng, trong hoàn cảnh một triều đình đã có nhiều biểu hiện trì trệ, việc Trịnh Cương có thể tiến hành được những cải cách như vậy là một nỗ lực hiếm có, đáng được nhìn nhận công bằng.

Tuy vậy, Trịnh Cương cũng không tránh khỏi những sai lầm mang tính chính trị nghiêm trọng. Vấn đề lớn nhất là việc ông phế bỏ Thái tử Lê Duy Tường để lập Duy Phường, con rể của mình làm người kế vị. Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục đã phê phán gay gắt hành động này, coi đó là biểu hiện của lòng tham quyền, muốn ăn cướp ngôi vua cho cháu ngoại. Các sử thần nhà Nguyễn cho rằng việc Trịnh Cương thao túng ngôi vua đã làm tổn hại nghiêm trọng đến đạo lý quân – thần và khiến nền chính trị Lê – Trịnh vốn đã suy yếu càng thêm rối ren.

Bên cạnh đó, mặc dù những cải cách của ông có tầm nhìn, song phần lớn chỉ dừng lại ở mức thể chế mà chưa đi sâu được vào thực tế đời sống. Cơ cấu xã hội phong kiến nặng nề, tầng lớp quý tộc – quan lại vẫn giữ quyền lợi riêng, khiến các chính sách về ruộng đất, thuế khóa khó phát huy hiệu quả. Do đó, sau khi ông qua đời, các biện pháp cải cách dần bị đình trệ, bộ máy nhà nước lại rơi vào tình trạng bảo thủ và tha hóa, mở đầu cho thời kỳ suy thoái dưới thời Trịnh Giang.

Nhìn tổng thể, Trịnh Cương là một trong những vị chúa có năng lực và tâm huyết nhất của họ Trịnh. Ông kế thừa thời thịnh trị của Trịnh Căn, tiếp tục đưa Đàng Ngoài bước vào giai đoạn ổn định chính trị, trật tự xã hội được duy trì, văn hóa – giáo dục phát triển. Tư duy quản lý của ông thể hiện rõ xu hướng lý tính và pháp chế hóa trong bộ máy phong kiến, khác biệt với các vị chúa chỉ dựa vào quyền uy cá nhân. Tuy nhiên, sự thành công của ông cũng bị giới hạn bởi mô hình chính trị “vua Lê – chúa Trịnh”, vốn chứa sẵn mâu thuẫn giữa danh và thực. Chính sự mâu thuẫn này khiến dù Trịnh Cương có tài năng và ý chí, ông vẫn không thể vượt khỏi khuôn khổ phong kiến cũ để tạo ra một cải cách triệt để.

Có thể nói, Trịnh Cương là hình mẫu của một vị chúa thời bình: cần mẫn, có tư duy cải cách, tôn trọng trật tự, nhưng cũng gắn liền với những giới hạn lịch sử của chế độ ông phụng sự. Di sản lớn nhất mà ông để lại chính là một giai đoạn ổn định và trật tự tương đối hiếm hoi trong lịch sử Đàng Ngoài đầu thế kỷ XVIII.

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí biên dịch, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  5. Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  10.  Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  11.  Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb  Kệ sách.
  12.  Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.
Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)