Thân thế
Trịnh Giang (14 tháng 10 năm 1711 – 30 tháng 12 năm 1762), còn có tên khác là Trịnh Khương hay Trịnh Cường, thụy hiệu là Dụ Tổ Thuận vương (裕祖順王), là vị chúa Trịnh thứ sáu trong thời kỳ Lê trung hưng. Ông là con trai trưởng của Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương. Mẹ ông là Chiêu viện Vũ Thị Ngọc Nguyên, người xã Mỹ Thứ, huyện Đường Yên, trấn Hải Dương. Nhờ địa vị là con trai trưởng của chúa, Trịnh Giang ngay từ nhỏ đã được nuôi dạy theo lễ nghi dành cho người kế thừa, được hưởng nền giáo dục chu đáo và có đội ngũ thầy học chọn lọc trong hàng danh thần triều đình.
Vào mùa đông tháng 10 năm 1717, khi mới 7 tuổi, ông được cho ra ở phủ riêng, theo đúng lệ của con trưởng chúa Trịnh. Việc học tập và rèn luyện của ông được giao cho các danh sĩ có học vấn và uy tín trong triều: Đàm Công Hiệu giữ chức Tán thiện, Nguyễn Hiệu làm Tả tư giảng, và Nguyễn Quý Ân làm Hữu tư giảng. Đây là giai đoạn ông được rèn luyện về lễ nghi, văn chương và phép trị quốc.
Đến năm 1727, khi 17 tuổi, Trịnh Giang được phong làm Khâm sai Tiết chế các xứ thủy bộ chư quân, kiêm nắm chính sự cơ mật, tước Thái úy Thịnh quốc công, và được mở phủ Điện Quốc. Chúa còn đích thân soạn Bảo huấn cùng hai bài thơ ban dạy cho con, thể hiện kỳ vọng lớn lao đối với người nối nghiệp.
Tuy nhiên, trong triều lúc đó đã có những lo ngại về năng lực của thế tử, Nguyễn Công Hãng, vị tể tướng trung liệt và là trụ cột của triều đình, từng dâng mật sớ can gián rằng Trịnh Giang là người tính tình ươn hèn, không thể gánh vác việc lớn. Trịnh Cương tuy từng có ý định đổi người kế vị, nhưng chưa kịp thực hiện thì mùa đông năm 1729, trong chuyến tuần du ở Như Kinh, ông đột ngột qua đời. Nhờ là con trưởng và đã được phong thế tử, Trịnh Giang thuận thế lên nối ngôi chúa.
Bối cảnh lịch sử
Triều đại của Trịnh Cương được xem là thời kỳ ổn định hiếm có: chính sự minh bạch, kỷ cương được củng cố, việc học được đề cao, hình pháp được giảm nhẹ, xã hội tạm yên. Tuy nhiên, đằng sau sự ổn định ấy là những dấu hiệu trì trệ âm ỉ. Bộ máy quan lại tuy quy củ nhưng bắt đầu nặng nề, thủ tục rườm rà; tầng lớp quý tộc, công thần và hoạn quan bắt đầu có biểu hiện tham nhũng, cát cứ quyền lợi. Các cải cách kinh tế – tài chính của Trịnh Cương chưa mang lại hiệu quả rõ rệt, dẫn đến tình trạng khủng hoảng ngân khố và thuế khóa phức tạp. Ngoài ra, vua Lê Dụ Tông cũng từng có mâu thuẫn ngấm ngầm với phủ chúa trong việc lập thái tử. Việc Trịnh Cương ép vua phế Duy Tường để lập Duy Phường (cháu ngoại của mình) làm người kế vị khiến uy tín của phủ chúa bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Sau khi Dụ Tông mất, triều đình Đàng Ngoài trở nên phức tạp, quyền lực họ Trịnh tuy vẫn vững nhưng lòng dân và giới sĩ phu đã bắt đầu dao động.
Như vậy, khi Trịnh Giang kế vị, ông tiếp nhận một cơ đồ tưởng chừng ổn định nhưng thực chất đã tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn:
- Nội bộ phủ chúa phân hóa, nhiều đại thần bất mãn với chính sự chuyên quyền và tình trạng lạm dụng quyền lực.
- Kinh tế tài chính rối ren, thuế khóa nặng nề đè lên dân chúng, trong khi ngân khố ngày càng cạn kiệt do chi tiêu xa xỉ và tham nhũng.
- Đời sống nông dân khó khăn, ruộng đất tập trung vào tay quý tộc, nạn đói và thiên tai tái diễn nhiều nơi, khiến mầm mống nổi dậy trong dân chúng ngày càng rõ.
- Quan hệ vua – chúa vẫn căng thẳng.
Sau khi lên ngôi vào cuối năm 1729, Trịnh Giang tiến hành hàng loạt nghi lễ để khẳng định quyền lực và củng cố địa vị trong triều. Mùa hạ năm 1730, ông tự phong làm Nguyên soái Thống quốc chính Uy Nam vương, tôn tổ mẫu Trương Thị (vợ cả của Trịnh Bính, người xã Như Kinh, huyện Gia Lâm, xứ Kinh Bắc) làm Thái tôn Thái phi, mẹ đẻ Vũ Thị Ngọc Nguyên làm Thái phi, đồng thời truy phong cho ông ngoại Vũ Tất Tố tước Tuấn Trạch công.
Ông cũng tôn mẹ đích Trịnh thị (vợ cả của Trịnh Cương, không có con) làm Thái phu nhân, lập đền thờ ngay tại kinh đô. Những người từng dạy dỗ ông thuở nhỏ được trọng thưởng hậu hĩnh: Đàm Công Hiệu được phong Thái tể, còn Nguyễn Quý Ân (đã mất) được truy tặng Hữu Thị lang bộ Hình, tước Quận công.
Sự nghiệp
Giai đoạn đầu: Những cải cách nhỏ và nỗ lực chỉnh đốn
Ngay khi mới chấp chính, Trịnh Giang ban hành một số chính sách khoan hòa, tỏ ý muốn chăm dân và giảm gánh nặng thuế khóa. Ông xá 3 phần 10 thuế vụ hạ, 2 phần 10 thuế vụ đông, trả lại các ao hồ trong cung điện cho dân sử dụng. Theo đề nghị của Nguyễn Công Hãng, chúa còn giảm thuế tô cho ruộng tư, miễn sưu dịch cho người già và giảm một nửa thuế đinh cho dân đinh chính. Những chính sách này phần nào giúp dân tình an ổn, tạo hình ảnh một vị chúa có lòng nhân.
Tuy nhiên, bản tính nghi kỵ của Trịnh Giang khiến triều chính sớm mất ổn định. Ông lo sợ các trấn thủ ở lâu dễ kết bè với dân và binh sĩ, liền thay đổi hàng loạt quan trấn, như Nguyễn Minh Châu chuyển từ Kinh Bắc vào Nghệ An, Đặng Đình Lân sang Sơn Nam. Việc điều động liên tục này làm xáo trộn bộ máy cai trị địa phương, khiến dân gian oán thán.
Để nắm rõ ngân khố, Trịnh Giang sai Nguyễn Hiệu và Phạm Khiêm Ích kiểm soát sổ thu chi của lục cung, lập sổ ghi chép rõ ràng từng khoản thu và chi hằng năm, đồng thời đặt thêm chức quan trông coi tài chính. Đây là nỗ lực hiếm hoi nhằm minh bạch hóa ngân khố, song cũng phản ánh sự nghi ngờ quá mức của chúa với các cơ quan dưới quyền.
Năm 1731, ông cải đổi quy chế thi võ, chuyển trọng tâm từ học thuộc sách vở sang kỹ năng thực chiến: thi bắn cung, múa đao, cưỡi ngựa, bắn tên, rồi mới thi văn sách. Cách thi này giúp chọn được người thực tài, được giới võ quan đương thời khen ngợi. Cùng năm, chúa cũng lập thêm khoa hoành tuyển để bổ sung nhân tài quân sự, “thi võ” tương tự “thi hoành từ” bên văn.
Về kinh tế, Trịnh Giang sớm nhận ra sự phi lý của các loại thuế thổ sản (thuế đánh vào nghề trồng trọt, thủ công). Việc thu thuế quá khắt khe khiến dân phải chặt cây sơn, bỏ khung cửi, giấu lưới đánh cá, bỏ trồng mía và chè, dẫn tới đình đốn sản xuất. Năm 1732, ông bãi bỏ thuế thổ sản, chỉ thu với người tự nguyện, khiến dân chúng hết sức hoan nghênh. Cùng năm, chúa giảm thuế muối, cho rằng đánh thuế cao khiến dân ăn uống khổ cực.
Trịnh Giang còn chú trọng chấn chỉnh việc học: năm 1734, ông ra lệnh khắc in các bộ Tứ thư, Ngũ kinh trong nước, cấm dùng sách nhập từ Trung Hoa, một chính sách độc lập về học thuật, được học giả Trần Trọng Kim sau này đánh giá là “có lợi cho tài chính quốc gia”.
Dẫu vậy, các cải cách ấy nhanh chóng bị lu mờ bởi tính cách đa nghi, chuyên quyền và hưởng lạc của chính ông.
Chuyên quyền và sát phạt
Trịnh Giang sớm bộc lộ tham vọng vượt quyền nhà vua, ông cho rằng vua Lê Duy Phường hoang dâm, bất tài, bèn ép vua rời khỏi chính điện, giáng Thái hậu, cắt giảm cung đốn, rồi tháng 8 năm 1732 phế Duy Phường làm Hôn Đức công, sau đó lập Lê Duy Tường (Lê Thuần Tông) lên ngôi. Năm 1735, chính Trịnh Giang ra lệnh thắt cổ Phế đế Duy Phường, khẳng định quyền lực tuyệt đối của họ Trịnh. Sau khi vua Lê Thuần Tông mất (1735), Trịnh Giang lại bỏ trưởng tử mà lập Duy Thận, một đứa trẻ 11 tuổi, lên ngôi hiệu Lê Ý Tông, để dễ sai khiến.
- Trong phủ chúa, các vụ giết hại công thần diễn ra liên tiếp.
- Nguyễn Công Hãng, tể tướng nổi tiếng thanh liêm, bị vu tội kết bè đảng, phải tự tử năm 1732.
- Lê Anh Tuấn, người cương trực, sau bị giết vì tin lời gièm.
- Đỗ Bá Phẩm, nội giám trung thành, cũng bị ép chết.
- Các vụ sát hại ấy gieo rắc sợ hãi khắp triều đình. Người ngay bị giết, kẻ xu nịnh được trọng dụng, làm chính sự mục ruỗng.
Cùng lúc, Trịnh Giang đặt lục phiên phủ chúa lấn át hẳn quyền của lục bộ triều đình. Cách xưng hô và nghi lễ trong phủ chúa trở nên “vương giả” như nội điện vua Lê: các tờ chỉ được gọi là “thánh chỉ”, “ngự dụ”, còn việc chúa vào chầu vua thì bị bãi bỏ. Từ đây, vua Lê hoàn toàn bị gạt ra ngoài, triều chính trở thành công cụ riêng của họ Trịnh
Xa hoa, hưởng lạc và suy đồi
Sau khi củng cố quyền lực, Trịnh Giang lao vào xây dựng và hưởng lạc, ông cho tu sửa hai chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm (1730), huy động hàng vạn dân phu kéo gỗ, chở đá, làm việc ngày đêm không nghỉ. Tiếp đó là các công trình tốn kém như chùa Hồ Thiên, chùa Hương Hải, hành cung Quế Trạo, phủ Tử Dương, My Thữ… Các vùng ngoại thích bị bắt cung tiến vật liệu, dân tình cực khổ, oán than khắp nơi.
Trịnh Giang còn đắm mình trong lễ nhạc, yến tiệc, và thơ phú. Ông cho lập phường nhạc riêng, đặt nghi lễ cung đình như đế vương, mỗi khi ra chầu đều có tiếng nhạc vang lừng. Những ngày rảnh triều, ông triệu các quan đến làm thơ, ngâm vịnh, luận chữ nghĩa, thưởng phạt tùy hứng.
Để có tiền tiêu xài, Trịnh Giang bán quan mua tước: ai nộp 600 quan tiền được thăng chức một bậc, nộp 2.800 quan được làm Tri phủ, nộp 1.800 quan được làm Tri huyện. Trong bốn năm (1736 – 1740), việc mua quan bốn lần được thi hành công khai, khiến bộ máy hành chính đầy rẫy kẻ hám lợi.
Hoạn quan Hoàng Công Phụ, được chúa sủng ái, lộng quyền tột độ, đặt thêm “giám ban” ngang hàng với văn và võ, khiến cả triều đình đều nhục nhã mà không dám can ngăn. Năm 1739, Trịnh Giang tự xưng Bác Đạt Mậu Hòa Tuy Du Dụ Nghĩa Trịnh vương, rồi lại đổi là Toàn vương, thậm chí còn bày trò giả sứ Thanh sang phong mình làm An Nam Thượng vương, ngang hàng với vua Lê.
Nông dân nổi dậy – khủng hoảng toàn diện
Những năm cuối đời Trịnh Giang, đất nước rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Chính trị mục nát, thuế khóa nặng nề, công trình xa hoa, mất mùa và đói kém liên miên khiến khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi.
Từ Quách Công Thi ở Lạc Thổ (1734), sư Nguyễn Dương Hưng ở Tam Đảo (1737), cho tới các cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển… tất cả tạo thành một làn sóng phản kháng dữ dội kéo dài suốt ba thập kỷ.
Riêng cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật (1738) mang tính chính trị rõ rệt, là hoàng thân họ Lê, Duy Mật cùng anh em Duy Chúc, Duy Quy mưu đốt kinh thành để trừ họ Trịnh. Mưu thất bại, họ chạy lên miền thượng du, dựng cờ chống lại triều đình trong suốt 30 năm, khiến chính quyền họ Trịnh lao đao.
Gia quyến
Cha mẹ:
- Cha ông là Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương (1686 – 1729)
- Mẹ ông là Từ Đức Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên (1689 – 1751), người xã Mĩ Thứ, huyện Đường Yên, trấn Hải Dương, nguyên là Chiêu viện của Trịnh Cương. Bà là người hiền hậu, được trong phủ kính trọng, và về sau có ảnh hưởng lớn trong biến cố chính trị cuối đời Trịnh Giang khi bà cùng các đại thần phế truất con trai để đưa Trịnh Doanh lên thay, cứu vãn tình thế đang rối loạn.
Chính thất: Chính phi Lê Thị Ngọc Thanh (? – 1753), người thôn Hạ Đình, xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì, con gái của Lê Đình Dự. Bà nổi tiếng đoan trang, giữ lễ nghi khuôn phép trong phủ, là người đã cùng Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên gánh vác việc nội chính khi chúa Giang lâm bệnh.
Con cái:
- Đồng Quận công Trịnh Đồng (? – 1766): con trưởng, được phong tước Quận công.
- Yến Đô vương Trịnh Bồng (1749 – 1791)
- Trình Quận công Trịnh Trù (? – 1787): bị quân Tây Sơn giết trong biến cố kinh thành Thăng Long năm 1787.
- Kỳ Quận công Trịnh Ngô (? – 1791): cũng bị quân Tây Sơn sát hại trong biến cố năm 1791.
Về con gái, có hai người được sử sách ghi chép:
- Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Đĩnh, mất khi còn nhỏ.
- Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Chiên (? – 1789), gả cho Nhuận Trạch hầu Bùi Thời Nhuận.
Cuối đời – thờ phụng
Sau khi bị phế truất vào đầu năm 1740, Trịnh Giang được tôn làm Thái thượng vương, nhưng trên thực tế chỉ là danh nghĩa tượng trưng. Ông bị giam lỏng trong cung Thưởng Trì, nơi từng là khu vườn riêng dành cho việc nghỉ ngơi của chúa, nay trở thành chốn ẩn cư bắt buộc. Từ đây, Trịnh Giang hoàn toàn mất quyền chi phối triều chính, không còn được tiếp xúc với quan lại hay dự bàn chính sự.
Sử sách không ghi chép nhiều về những năm tháng cuối đời của ông, song theo một số tư liệu trong Khâm định Việt sử Thông giám cương mục và Lịch triều tạp kỷ, thì sau thời gian bị phế truất, Trịnh Giang sống tương đối lặng lẽ, trầm mặc, gần như biệt lập khỏi chính trường. Trong những năm ở cung Thưởng Trì, ông vẫn được cấp dưỡng đầy đủ, có các cung nhân và nội giám hầu hạ. Một số thê thiếp của ông về sau sinh con cho dòng họ Trịnh, trong đó đáng chú ý nhất là Trịnh Bồng, người con thứ hai sau này trở thành vị chúa Trịnh cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Tuy vậy, Trịnh Bồng không được lập làm thế tử, vì ngôi vị kế thừa đã thuộc về Trịnh Sâm, con trai trưởng của Trịnh Doanh.
Trịnh Giang qua đời vào ngày 30 tháng 12 năm 1761, hưởng dương 51 tuổi. Khi mất, ông được truy tôn miếu hiệu là Dụ Tổ, thụy hiệu Thuận vương, tên thụy là Di Mục, và được an táng tại cánh đồng Nhân Lý thuộc phủ Thiệu Thiên, sứ Thanh Hoa.
Dù từng bị phế truất, Trịnh Giang vẫn được em trai là Trịnh Doanh đối đãi tử tế, kính trọng bậc trưởng huynh. Tương truyền, trong những năm đầu khi lui về cung Thưởng Trì, hai anh em vẫn giữ quan hệ gần gũi, hằng năm Trịnh Doanh còn tổ chức yến tiệc thăm hỏi, tỏ lòng hiếu thuận. Chính Trịnh Giang từng nói: “May thay việc tôn miếu có người phó thác, ta được an nhiên trong cảnh nhàn.”
Khi Thượng vương mất, Trịnh Doanh đích thân để tang và tổ chức tang lễ trọng thể, thể hiện lòng kính lễ đối với người anh ruột. Về sau, khi rước thần chủ vào miếu thờ, có ý kiến trong triều cho rằng Doanh là em chứ không phải con nối ngôi, nên việc thờ tự không nên đặt ở chính miếu. Tuy nhiên, để biểu dương tôn ti và giữ trọn đạo nghĩa, triều đình vẫn quyết định đặt bài vị Trịnh Giang ở chính miếu của phủ Chúa, ngang hàng với các vị tiền chúa.
Nhận định – đánh giá
Trịnh Giang là một trong những vị chúa gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử họ Trịnh, triều đại của ông đánh dấu bước ngoặt suy tàn của phủ Chúa ở Đàng Ngoài. Nếu như cha ông Trịnh Cương được xem là vị chúa mẫn cán, có chí cải cách, thì Trịnh Giang lại là hình ảnh đối lập: nghi kỵ, độc đoán, xa hoa, và bạo ngược. Sự sa sút về chính trị, đạo đức và nhân tâm dưới thời ông được các sử gia sau này coi là nguyên nhân trực tiếp khiến cơ đồ họ Trịnh dần mục ruỗng, đưa Bắc Hà đến bên bờ khủng hoảng toàn diện.
Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, Trịnh Giang là người “đa nghi, tàn nhẫn, giết hại công thần, ham mê xây cung quán, làm khổ nhân dân.” Ông thường bị mô tả như một kẻ tham lam, đố kỵ, không có khả năng trị nước, lại ham tửu sắc và tin dùng hoạn quan, nịnh thần. Chính vì thế mà triều chính ngày một rối ren, đạo lý bại hoại, khiến uy tín của phủ Chúa sụt giảm nghiêm trọng.
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục thời Nguyễn thậm chí lên án gay gắt hơn, ví Trịnh Giang với Vương Mãng hay Đổng Trác (những kẻ tiếm nghịch của Trung Hoa cổ đại). Các sử thần cho rằng việc ông giết vua Lê Duy Phường, lập rồi phế, rồi lại lập vua khác, là trò đánh cờ với ngai vàng, phản lại luân thường đạo lý, làm tổn thương nghiêm trọng đến danh nghĩa “phù Lê” vốn là nền tảng chính danh của họ Trịnh suốt hơn hai thế kỷ.
Theo Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng, thời Trịnh Giang cầm quyền, Bắc Hà rơi vào hỗn loạn. Ông giết hại công thần, thao túng thi cử, tự ý mở khoa tiến sĩ tại phủ chúa, thậm chí can thiệp trắng trợn vào việc lập phế ngôi vua. Họ nhận định rằng Trịnh Giang là người vô độ và tàn bạo, không việc ác nào không làm, khiến triều chính suy đồi, lòng người ly tán.
Sách Lịch sử Việt Nam, tập IV của Viện Sử học cũng nhấn mạnh rằng, khi Trịnh Giang lên nắm quyền, mọi thành quả cải cách của Trịnh Cương và các bậc công thần tiền nhiệm bị phá vỡ. Sự yếu kém và đa nghi khiến ông thanh trừng nhiều trung thần như Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn, những người từng góp phần đưa Đàng Ngoài ổn định và hưng thịnh. Thay vào đó, ông trao quyền cho đám hoạn quan và gian nịnh như Hoàng Công Phụ, để chúng lũng đoạn triều đình và phủ Chúa. Dưới thời Giang, bộ máy nhà nước như cỗ xe mục nát, xã hội rối ren, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổi lên khắp nơi, báo hiệu thời kỳ suy vong của dòng họ Trịnh.
Phạm Văn Sơn trong Việt sử tân biên cũng có nhận định tương tự: ông gọi Trịnh Giang là một ông chúa xa xỉ và tàn ác, đặt ra nhiều sưu thuế, vơ vét của cải, khiến dân oán khắp nơi. Theo ông, từ Trịnh Giang, cơ nghiệp Bắc Hà bắt đầu suy sụp. Tuy nhiên, Phạm Văn Sơn cũng lưu ý rằng không phải mọi chính sách của Giang đều vô nghĩa: ông từng ra lệnh in lại các bộ Tứ thư, Ngũ kinh và cấm nhập lậu sách Trung Hoa, cho thấy phần nào ý thức bảo vệ học thuật và độc lập văn hóa. Đây là một điểm sáng hiếm hoi trong một triều đại tăm tối.
Sử gia Tạ Chí Đại Trường lại có cái nhìn dung hòa hơn. Ông cho rằng Trịnh Giang bị lật đổ vì làm hư triều chính, nhưng cũng chỉ ra rằng trong những năm đầu trị vì, Giang vẫn sử dụng Nguyễn Công Hãng để thi hành một số cải cách, chứng tỏ ông không hoàn toàn bất tài. Tuy nhiên, sau khi bị bệnh và sa vào hoang tưởng, Trịnh Giang đánh mất lý trí, để mặc gian thần thao túng, biến phủ Chúa thành một nơi xa hoa, suy đồi.
Tổng thể mà nói, Trịnh Giang là một nhân vật bi kịch của lịch sử họ Trịnh, thừa hưởng quyền lực lớn lao nhưng thiếu bản lĩnh, không đủ tầm để gánh vác cơ đồ cha ông. Dưới triều đại của ông, nền chính trị Bắc Hà tuy vẫn giữ hình thức quy củ, nhưng thực chất đã mục rỗng bên trong, quyền lực bị hoạn quan và nịnh thần thao túng, nhân tâm rạn nứt, xã hội hỗn loạn.
Tài liệu tham khảo
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Phạm Văn Sơn (1959), Việt sử tân biên, quyển 3, Cơ sở xuất bản Đại Nam.
- Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
- Nguyễn Khắc Thuần (1995), Thế thứ các triều vua Việt Nam, Nxb Giáo dục.
- Tạ Chí Đại Trường (2009), Bài sử khác cho Việt Nam, Quyển 1, Nxb Kệ sách.
- Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.