Đền Tranh (Bắc Cung Thượng – Tề Lỗ, Phú Thọ)

Đền Tranh (Bắc Cung Thượng – Tề Lỗ, Phú Thọ)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Tranh còn có tên gọi là đền Bắc Cung Thượng. Từ xưa vốn có tứ cung thờ Đức Thánh Tản Viên, gồm: Bắc Cung, Tây Cung, Nam Cung, Đông Cung. Bắc Cung là phía Bắc, ở địa phận xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã có đền Thính cũng thờ Đức thánh Tản Viên gọi là Bắc Cung nên đền Tranh vốn toạ lạc ở thôn Tranh (Hoàng Thạch), xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc gọi là Bắc Cung Thượng để phân biệt. 

Theo Nghị quyết số 1676/NQ – UBTVQH15 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 16/6/2025, xã Tề Lỗ mới của tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập trên cơ sở hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của các xã Đồng Văn, Trung Nguyên và Tề Lỗ cũ. Đồng thời, theo chủ trương sáp nhập tỉnh Vĩnh Phúc vào Phú Thọ, từ ngày 1/7/2025, xã Tề Lỗ thuộc địa phận tỉnh Phú Thọ. 

Lịch sử và nhân vật

Theo ngọc phả của đền, xa xưa nơi đây là một ngôi miếu, gọi là miếu Cầu Phúc, được xây dựng khoảng đầu thế kỉ IV sau công nguyên. Theo truyền thuyết, đến cuối thế kỉ XV đổi tên thành Đền Tranh và tên gọi này được giữ đến nay. Đền đã trải qua những lần tu tạo lớn: thời vua Lý Thái Tông (1038), thời vua Lê Thái Tổ (1469, 1479), thời vua Mạc Đăng Dung (1538). Lần tu sửa vào thời Mạc do một vị sư là Tăng Ất đứng ra tổ chức, ngài là người đã cho trùng tu, xây dựng hàng loạt các di tích ở vùng Yên Lạc.

Đền Tranh thờ vị thần Tản Viên mà nhân dân Vĩnh Phúc cũng như các thần tích khác vẫn gọi là “Tản Viên Sơn Thánh”. Tản Viên Sơn Thánh hay Sơn Tinh là một nhân vật trong truyền thuyết Việt Nam, theo quan niệm dân gian là vị thần cai quản dãy núi Ba Vì (tức núi Tản Viên), ông là một trong bốn vị thánh bất tử của tín ngưỡng dân gian người Việt (Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Tản Viên, Thánh mẫu Liễu Hạnh). Ngài là đại diện cho sức mạnh, ý chí kiên cường chống lại thiên tai, đặc biệt là lũ lụt, và bảo vệ cuộc sống của người dân. 

Về lai lịch của ngài, sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng: “Xưa kia vua Lạc Long cưới nàng Âu Cơ, sinh được một bọc trứng, Long Quân đem năm mươi trai về biển, năm mươi trai theo mẹ về núi, phân trị thiên hạ, hiệu là Hùng Vương; Tản Viên Sơn Đại Vương là một người con trong số năm mươi trai chia về đó.”[1]

Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, trong phần ba “Hạo khí anh linh” có mục “Tản Viên hựu thánh – Khuông quốc – Hiền ứng vương”, cho biết: “Theo Giao Châu ký của Tăng công, vương là Sơn Tinh, trước kết bạn thân với Thủy Tinh, ẩn cư trong động núi Gia Ninh ở Phong Châu. 

Hùng Vương có người con gái tên là Mỵ Nương, dung mạo tuyệt luân, nhan sắc khuynh thành. Thục Vương Phán sai sứ sang cầu hôn, vua muốn gả. Quan Đại thần là Lạc hầu cản rằng:

– Ông ấy muốn dòm dỏ nước ta đó.

Hùng Vương sợ sinh ra hiềm khích.

Lạc hầu tâu:

– Đại Vương đất rộng dân đông, tìm kẻ nào có kỳ tài dị thuật mà gả cho làm rể rồi thiết lập kỵ binh cho sẵn thì có sợ gì?

Vua nghe phải mới tuyệt giao với Thục Vương rồi tìm khắp trong nước những người có dị thuật. Vương cùng với Thuỷ Tinh đều đến ứng tuyển. Hùng Vương bảo đem ra thi tài; Vương có thuật xem suốt ngọc đá; Thuỷ Tinh có thuật nhập vào nước lửa; người nào cũng có tài linh thông.

Hùng Vương cả mừng, bảo Lạc hầu rằng:

– Xem tài của hai chàng thì ta thầy đều nên gả con cho cả hai, duy ta chỉ có một người con gái mà đến hai người thì tính làm sao?

Lạc hầu tâu:

– Vua nên hẹn với hai chàng hễ ai cưới trước thời được.

Hùng Vương cho là phải; vua bảo với hai chàng về chuẩn bị lễ vật. Vương về bản hộ, suốt đêm biện gấp thổ vật như là: vàng, bạc, ngọc báu, tê giác, ngà voi, với lại chim quý, thú lạ, mỗi thứ một trăm. Hôm sau, sáng tinh sương, Vương đệ đến dâng hiến Hùng Vương. Hùng Vương mừng lắm, gả Mỵ Nương cho Vương; Vương rước vợ về đem lên ở núi Lôi Sơn.

Đến chiều tối, Thuỷ Tinh cũng đem thuỷ vật đến, như là trân châu, đồi mồi, san hô, hổ phách, với lại cá kình, cá nghê, các thứ cá ngon mỗi thứ một trăm, đem đến bày ra để dâng vua, nhưng Mỵ Nương, Vương đã đem về mất rồi!

Thủy Tinh đại nộ đem quân đuổi theo, toan muốn nghiền nát núi Lôi Sơn. Vương dời lên ở trên chóp núi Tản Viên, đời đời cùng với Thuỷ Tinh là kẻ thù. Cứ mỗi năm đến mùa thu, Thuỷ Tinh dâng nước lên đánh núi Tản Viên, dân chúng đem nhau đắp đê để giúp Vương. Thuỷ Tinh không thể phạm đến được. Linh tích của Vương rất nhiều, kể không xiết.”[2]

Trong sự nghiệp kháng chiến cứu quốc của dân tộc, đền Tranh cũng trở thành nơi sơ tán, trú ẩn, hội họp của cán bộ cách mạng. 

Kiến trúc cảnh quan

Đền Tranh được xây dựng trên một khu đất rộng cao ráo và bằng phẳng bên dòng sông Phan hiền hòa thơ. Điều này góp phần tạo nên không khí thanh tịnh cho cảnh đền thiêng. Phía sau đền có thể nhìn thấy dãy núi Tam Đảo phủ mây trắng mờ ảo nên thơ. Phía Đông đền có hình bạch tượng khuyển hồ, phía Tây là bạch hổ bái phục, phía Nam là hình nhân bái tượng, phía Bắc là phượng hoàng chầu chẩm.

Mặt trước đền xây thành ba vòm thanh thoát, trên đắp hình cuốn thư. Cửa giữa có đôi câu đối

Tây Tản di truyền trúc tượng anh linh phù Quốc thịnh
Bắc Cung hữu tích ước thư diệu pháp hộ dân khang.

Tạm dịch:

Núi Tản truyền lại có gậy thần phù nước thịnh
Người có sách ước, nơi nào có đền thờ dân được an khang.

Đền được xây dựng theo kiểu chữ “Đinh” gồm tòa Tiền Tế và Hậu Cung phía sau. Hai cung nhỏ nằm sát một ngôi chùa khác. 

Tòa Tiền Tế được xây rộng rãi với chiều dài 13,9m và chiều rộng 6,4m với nền lát gạch đỏ men sứ. Gian Tiền Tế tuy không lớn nhưng được xây dựng khang trang chắc chắn với lối kiến trúc cổ 3 gian hai dĩ, mái lợp ngói âm dương. Tòa Tiền Tế có một cột hàng cái với 6 cột gỗ cao 3,4m, đường kính 65cm. Tất cả các xà ngang dọc được ăn mộng với các cột bằng các đinh én, rất chắc khỏe. Gian chính giữa của tòa Tiền Tế đặt ban thờ và các đồ thờ. Hai gian hai bên để ban thờ quan văn và quan võ. Từ tòa Tiền Tế nối vào trong là phần Hậu Cung.

Hậu Cung dài 7m, rộng 5m và được ngăn cách với tòa Tiền Tế bởi hai cửa ngách và một cửa võng kiểu cửa bốn cánh được sơn then màu nâu. Phần cửa Hậu Cung là những tác phẩm điêu khắc độc đáo. Bên trong tòa Hậu Cung đều được đầu tư trang trí nổi bật với hai bức cốn nách, bức cốn mê, bức đại tự, xà rồng đều được chạm trổ trang trí tỉ mỉ với hoa văn rồng phụng thiếp vàng lóng lánh rực rỡ. Những nét kiến trúc trạm trổ này mang đậm phong cách nghệ thuật điêu khắc gỗ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, cung cấp tư liệu lịch sử nghệ thuật quý giá cho các nhà khoa học.

Di vật

Hiện nay, đền Tranh còn lưu giữ nhiều di vật là các đồ thờ tế khí bằng nhiều chất liệu khác nhau. Đồ gỗ gồm: 2 cỗ ngai thờ, 1 khám thờ, 1 hộp đựng y phục của thần, 1 hòm sắt, 2 chiếc tam sơn, 13 đài rượu, 7 đài quả, 8 lộc bình, 2 đèn, 1 giá gương để mỹ tượng trưng, 1 đôi hạc nhỏ, 2 bức đại tự,…; 1 chiếc đỉnh đồng; đồ gốm sứ có 5 chiếc lư hương, 4 lọ lộc bình và một số nậm rượu nhỏ, bát đĩa cổ nhỏ bằng gốm sứ; 1 lư hương đá. Bên cạnh đó, đền còn lưu giữ được 7 đạo sắc phong cho thánh Tản Viên. 

Lễ hội

Hàng năm, cứ đến hẹn ngày rằm tháng Giêng, ngày mùng 6 tháng 2 và ngày 16 tháng 8 Âm lịch, đền Tranh lại tổ chức lễ hội lớn với hàng loạt hoạt động mang đậm nét đặc sắc tín ngưỡng tâm linh như diễn xướng khai sắc nhắc lại công lao Đức Thánh Tản Viên, hay nghi lễ gieo hạt, làm đất, chăm bón mang ý nghĩa cầu vụ mới bội thu, mưa gió thuận hòa, quốc thái dân an. Bên lề những hoạt động tế lễ, bái thánh, nhân dân địa phương cũng tổ chức nhiều hoạt động mang tính giải trí đem lại không khí vui tươi sôi nổi với các trò chơi như bắt vịt, lăn vòng, leo cây, bịt mắt bắt lợn,…

Xếp hạng

Năm 1993 Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ra quyết định xếp hạng đền Tranh là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Chú thích

[1] Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Lê Hữu Mục dịch, Nhà sách Khai Trí, 1960, tr. 77.

[2] Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh tập, Lê Hữu Mục dịch, ebook, 1329, tr. 81 – 82.

Tài liệu tham khảo

  1. Bế Thị Hồng Anh, “Đền Tranh – danh thắng lịch sử đẹp như tên gọi”, Cổng thông tin điện tử Sở giáo dục và đào tạo Vĩnh Phúc, 28/8/2015.
  2. Trần Thế Pháp (1960), Lĩnh Nam chích quái, Lê Hữu Mục dịch, Nhà sách Khai Trí.
  3. ST, “Đền Tranh”, Vinhphuctv – Đài phát thanh và truyền hình Vĩnh Phúc, 22/6/2016.
  4. Lý Tế Xuyên (1329), Việt điện u linh tập, Lê Hữu Mục dịch, ebook.
5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)