Vua Gia Long (1762-1820)

Vua Gia Long (1762-1820)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử 

Gia Long 嘉隆 (1762-1820) tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎), thường được gọi là Nguyễn Ánh (阮暎), húy là Chủng (種) hay Noãn (暖), con trai thứ ba của hoàng tử Nguyễn Phúc Luân với bà Nguyễn Thị Hoàn, cháu nội của chúa Nguyễn Phúc Khoát(1). Ông sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (ngày 8 tháng 2 năm 1762), mất ngày 19 tháng 12 năm Kỷ Mão (ngày 3 tháng 2 năm 1820), miếu hiệu là Nguyễn Thế Tổ (阮世祖), truyền ngôi cho Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Đảm, tức vua Minh Mệnh (Minh Mạng).

Nguyễn Ánh được sinh thành trong một xã hội nhiều xáo trộn; xáo trộn về thế lực, quyền binh, mâu thuẫn về quan niệm. Năm 1777, sau khi gia tộc chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn lật đổ, Nguyễn Ánh khi ấy mới 15 tuổi đã phải bôn tẩu gian nan,  trốn chạy và bắt đầu cuộc chiến 25 năm với Tây Sơn để khôi phục ngôi vị.

Đến nay, vẫn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều về Nguyễn Ánh. Không ít người cho rằng ông từng liên kết với Xiêm La, Pháp và nhà Thanh để đối đầu với Tây Sơn. Chính hành động cầu viện các thế lực ngoại bang nhằm phục hưng vương quyền khiến ông chịu nhiều phê phán. Tuy vậy, nếu nhìn nhận một cách khách quan, có thể thấy Nguyễn Ánh đã góp phần quan trọng trong việc thống nhất đất nước, chấm dứt thời kỳ nội chiến kéo dài hàng thế kỷ trong lịch sử Việt Nam.

Cai trị

Năm 1792, nội bộ nhà Tây Sơn suy yếu sau khi vua Quang Trung đột qua qua đời, lợi dụng cơ hội đó, Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn. Năm 1802 ông chính thức lên ngôi vua, lấy niên hiệu Gia Long, quốc hiệu Việt Nam, đại xá cho cả nước, ban chiếu cùng 6 điều thi ân. Vua chọn Phú Xuân (Huế) là kinh đô tại – thủ phủ cũ của các Chúa Nguyễn, mở ra một triều đại quân chủ mới – Triều Nguyễn thống nhất đất nước và kết thúc nhiều thế kỷ nội chiến ở Việt Nam. 

Đối ngoại

Năm 1804, sau khi lên ngôi và ổn định chính sự, vua Gia Long cử Lê Quang Định cùng phái đoàn sứ thần sang triều Thanh để xin phong vương và đề nghị được công nhận quốc hiệu là Nam Việt. Trong tấu thư, vua nêu rõ ý nghĩa: Tổ tiên các đời trước đã mở mang bờ cõi phương Nam, tiếp thu đất cũ của Việt Thường, Chân Lạp; nay giang sơn đã thống nhất, xin được phục lại quốc hiệu xưa để chính danh.

Tuy nhiên, vua Thanh cho rằng tên Nam Việt có thể gây nhầm lẫn, dễ bị hiểu là bao gồm cả vùng Đông Việt và Tây Việt, nên không đồng thuận.

Vua Gia Long nhiều lần dâng thư giải thích và khẳng định rằng nếu không được đặt tên như vậy thì sẽ không thụ phong. Vì lo ngại làm phật ý triều Nguyễn, vua nhà Thanh đã chấp thuận cho đặt quốc hiệu là Việt Nam, thay vì Nam Việt như đề nghị ban đầu.

Dưới thời Gia Long, triều đình Việt Nam có xu hướng thân thiện với người Pháp, nhất là đối với những sĩ quan từng trợ giúp Nguyễn Ánh trong quá trình phục quốc. Nhà vua tỏ rõ sự hậu đãi: phong chức tước, ban bổng lộc và cho họ tham gia triều chính. Tuy vậy, sự ưu đãi đó chỉ mang tính hình thức, bởi thực quyền trong việc điều hành đất nước vẫn được kiểm soát chặt chẽ bởi người Việt. Gia Long luôn cảnh báo triều thần về nguy cơ từ việc mở cửa giao thương hay truyền đạo với phương Tây, đặc biệt là Pháp.

Khoảng năm 1818, khi tàu chiến La Cybèle của Pháp đến Việt Nam cùng Bá tước Achille de Kergariou để bàn thảo việc khôi phục hiệp ước cũ, Gia Long từ chối tiếp vì phái đoàn không có quốc thư chính thức. Khi thuyền trưởng tàu này yêu cầu nhà vua thực hiện những điều khoản của hiệp ước đã ký, ông thẳng thừng từ chối, lấy lý do Pháp trước đó không thực hiện cam kết nên nay không cần tiếp tục. Những hành động này khiến các sĩ quan Pháp ngày càng thất vọng và nhiều người xin rút khỏi Việt Nam. Đơn cử như Chaigneau, một cận thần thân tín người Pháp, đến năm 1819 đã xin trở về nước với lý do cá nhân.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận việc Gia Long từng cho mời các sĩ quan Pháp huấn luyện quân đội, xây dựng thành trì cho nhà Nguyễn. Chính điều này khiến ông bị xem là người đầu tiên mở đường cho ảnh hưởng phương Tây tại Việt Nam.

Gia Long hầu như không thiết lập quan hệ chính thức với các nước phương Tây ngoài Pháp. Năm 1804, Anh quốc cử John W. Roberts làm sứ giả đến dâng lễ vật và quốc thư, mong mở thương quán tại Trà Sơn (Quảng Nam), nhưng không đạt kết quả. Nguyên nhân là do một người tiền trạm trong đoàn – thuyền trưởng Allan – đã sơ suất khi nhắc đến vấn đề nhạy cảm, cộng thêm sự xúi giục của hai quan Pháp đang ở trong triều, khiến Gia Long nghi ngờ động cơ thực sự của phía Anh và từ chối tiếp nhận. Những nỗ lực tiếp xúc sau đó cũng đều không thành công.

Đối với Hoa Kỳ, quan hệ có phần cởi mở hơn. Năm 1803, một tàu Mỹ do thuyền trưởng Jeremiah Briggs chỉ huy đã đến Đà Nẵng rồi ra Huế, và sau đó được phép giao thương. Một số tàu khác như Franklin (1819), Marmion, Aurora of Salem, Beverly cũng từng đến Việt Nam, nhưng sau thời gian ngắn, các hoạt động giao thương đều dần lắng xuống. Sau năm 1819, người Mỹ không quay lại Việt Nam cho đến tận năm 1831, thời Minh Mạng.

Dù có những tiếp xúc ban đầu, Gia Long vẫn giữ thái độ dè dặt, không cam kết sâu với bất kỳ nước nào. Ông tuân thủ nguyên tắc “lễ nhu viễn” – giúp đỡ tàu bè phương xa gặp nạn, nhưng không tạo sự lệ thuộc. Tinh thần ấy thể hiện sự đề phòng của nhà vua trước nguy cơ mất chủ quyền như trường hợp Ấn Độ với Anh quốc.

Đối nội

Ngay sau khi được nhà Thanh công nhận quốc hiệu, ngày Đinh Sửu, tháng 2 năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long cho làm lễ kính cáo Thái miếu. Xuống chiếu bố cáo khắp trong ngoài rằng: 

Đế vương dựng nước, trước phải trọng quốc hiệu để tỏ rõ nhất thống. Xét từ các đấng tiên thánh vương ta xây nền dấy nghiệp, mở đất Viêm bang, gồm cả đất đai từ Việt Thường về Nam, nhân đó lấy chữ Việt mà đặt tên nước. Hơn 200 năm, nối hòa thêm sáng, vững nền thần thánh dõi truyền, giữ được vận trong ngoài yên lặng. Chợt đến giữa chừng, vận nước khó khăn, ta đem tấm thân nhỏ bé lo dẹp giặc loạn, nên nay nhờ được phúc lớn, nối được nghiệp xưa, bờ cõi Giao Nam, đều vào bản tịch. Sau nghĩ tới mưu văn công võ tướng, ở ngôi chính, chịu mệnh mới, nên lấy ngày 17 tháng 2 năm nay, kính cáo Thái miếu, cải chính quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu xa. Phàm công việc nước ta việc gì quan hệ đến quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa.(2)

Sau đó hạ chiếu thông cáo đến các nước Xiêm La, Lữ Tống và các thuộc quốc Chân Lạp, Vạn Tượng đều biết.

Vua Gia Long cho lập danh sách truy tôn công thần khai quốc, ban dụ tặng thưởng theo công trạng. Ông còn ra lệnh tuyển dụng con cháu của những người có công: nếu không có con thì dùng cháu, không có cháu thì dùng em; tùy theo mức độ công lao mà được bổ nhiệm quan chức hoặc miễn lao dịch trọn đời.

Gia Long cũng sai trấn Phiên An chọn đất dựng đền Hiển Trung để thờ các công thần, giao cho Bộ Lễ lập nghi lễ tế tự theo mùa xuân, thu hàng năm. Đền có 25 người được cắt cử trông nom.

Ngoài ra, ông còn cho sửa sang phả hệ tông thất, kê khai con cháu trong phả điệp một cách rõ ràng, nhằm củng cố trật tự gia tộc và hệ thống hoàng tộc.

Dưới thời vua Gia Long, lãnh thổ nước Việt về cơ bản đã được xác lập gần  giống như hiện nay, trải dài từ biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc đến tận vịnh Thái Lan, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, để đáp lại sự hậu thuẫn của vương quốc Vạn Tượng trong cuộc chiến chống Tây Sơn, ông đã chấp nhận trao vùng đất Trấn Ninh, vốn do nhà Hậu Lê tuyên bố chủ quyền suốt hơn ba thế kỷ cho Vạn Tượng.

Nước Việt thời Gia Long không được ổn định, do Gia Long tăng thuế khóa và lao dịch quá nặng đã khiến nhân dân bất mãn, dẫn đến hơn 90 cuộc khởi nghĩa nổ ra chỉ trong vòng 18 năm trị vì.

Gia Long còn xóa bỏ các cải cách tiến bộ của triều Tây Sơn, thay vào đó là áp dụng mô hình cai trị phong kiến bảo thủ. Một ví dụ tiêu biểu là cấm thương nhân người Việt giao thương với nước ngoài. Ông cũng cho soạn bộ “Hoàng triều luật lệ” (thường gọi là Luật Gia Long), phần lớn được sao chép từ luật nhà Thanh, mang tính khắt khe và lạc hậu, kém tiến bộ hơn so với bộ luật Hồng Đức của nhà Hậu Lê.

Chính những chính sách bảo thủ này đã khiến đất nước ngày càng trì trệ, không theo kịp bước chuyển của thời đại, tạo điều kiện cho thực dân Pháp xâm chiếm vào nửa sau thế kỷ XIX.

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế với niên hiệu Gia Long, khi có toàn quyền bính trong tay, ông lại trở về cái nguyên mẫu của một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Đại Việt truyền thống, Nho giáo, cố hữu và thủ cựu. Bộ luật Gia Long mà ông là linh hồn cũng chỉ giám mô phỏng những nội dung của bộ luật Hồng Đức thời Lê sơ. Các chế độ tư pháp, hành chính, khoa cử, quan lại, ruộng đất… về cơ bản vẫn như cũ. Tiếp đến con cháu ông cũng vẫn như thế. Những dấu hiệu mở mang với phương tây trước đây đã bị chôn vùi vào dĩ vãng.(3)

Về phương diện tôn giáo, triều đại Gia Long mang đậm tính thế tục. Dù từng sống lâu năm tại Xiêm (Thái Lan) và có mối quan hệ thân thiết với vua Rama I, ông vẫn từ chối đưa Phật giáo lên vị trí Quốc giáo, khác hẳn với các triều Lý – Trần trước đó. Đồng thời, ông cũng phủ quyết các đề xuất tiếp nhận Công giáo La Mã làm tôn giáo chính thống.

Gia Long chọn Nho giáo làm hệ tư tưởng nền tảng để tổ chức và cai trị đất nước, theo mô hình quan chế Trung Hoa, tạo nên sự đối lập rõ rệt với chính sách tôn giáo của nhà Tây Sơn.

Dưới triều ông, xuất hiện nhiều chỉ dụ mang tính hạn chế và đôi khi ngược đãi đối với người theo Phật giáo và Đạo giáo. Riêng đối với Công giáo, vì mối quan hệ với Pháp và các giáo sĩ phương Tây, ông áp dụng thái độ khoan dung vừa phải, không bảo hộ, nhưng cũng không cấm đoán. Các giáo sĩ được tự do truyền đạo, nhưng Gia Long vẫn cảnh giác, ban hành nhiều biện pháp giới hạn ảnh hưởng tôn giáo để ngăn chặn nguy cơ xâm nhập văn hóa – chính trị từ phương Tây thông qua tôn giáo.

Qua đời

Vào tháng 11 năm Mậu Dần (1818), khi bệnh tình trở nặng, vua Gia Long truyền chiếu giao quyền điều hành đất nước cho Thái tử Nguyễn Phúc Đảm, đồng thời cho triệu hai vị đại thần thân tín là Lê Văn Duyệt và Phạm Đăng Hưng vào hầu cận. Vua căn dặn Thái tử:

Đấy là cơ nghiệp gian nan của trẫm, nay giao cho con, con nên cẩn thận giữ gìn… Ta cũng sắp chết, không nói gì, chỉ có một việc là ngày sau phải cẩn thận chớ nên gây hấn ngoài biên.(4)

Tuy bệnh ngày càng trầm trọng, ông vẫn cố gắng che giấu. Chính vì vậy, nhà vua âm thầm mời bác sĩ Treillard – người Pháp đang có mặt tại Việt Nam trên tàu buôn Henri và từng chữa bệnh cho công chúa thứ chín, vào cung điều trị. Bác sĩ này, có thể có sự hỗ trợ của Despiau (một thầy thuốc thân cận khác người Pháp), đã bí mật chữa trị cho Gia Long suốt bốn tháng. Tới đầu tháng 11 năm 1819, Treillard cùng đoàn tàu rời Việt Nam. Tuy nhiên, sức khỏe nhà vua vẫn tiếp tục suy giảm cho đến khi ông qua đời vào ngày 19 tháng Chạp năm Kỷ Mão (tức 3/2/1820), thọ 59 tuổi, sau 18 năm trị vì. Sau khi mất, ông được truy tôn miếu hiệu là Thế Tổ (世祖).

Về nguyên nhân cái chết, theo lương y, nhà nghiên cứu Lê Hưng VKD, căn cứ vào “Ngự dược nhật ký” năm 1819, tài liệu ghi lại 94 lần kê đơn với 24 bài thuốc của Thái y viện dùng chữa cho nhà vua thì rất có khả năng Gia Long đã mắc bệnh xơ gan cổ trướng. Thời đó chưa có phương pháp điều trị căn bệnh này, và nếu có thiết bị chẩn đoán như hiện nay, bệnh trạng có thể được phát hiện sớm và cứu chữa.

Gia Long được an táng tại Lăng Thiên Thọ (còn gọi là Lăng Gia Long) – một quần thể lăng tẩm nằm ở núi Thiên Thọ, làng Định Môn, thị xã Hương Trà, cách Huế khoảng 16 km về phía Tây Nam. Chính ông đã chọn địa điểm này và cho khởi công xây dựng từ năm 1814, hoàn thành trước khi ông qua đời. Bên cạnh phần mộ của ông là lăng của Thừa Thiên Cao Hoàng hậu Tống Thị Lan. Về sau, Hoàng hậu Thuận Thiên cũng được táng tại khu vực này, trong lăng Thiên Thọ Hữu, nằm phía bên phải lăng chính.

Chú thích

  1. Nguyễn Phúc Khoát: (chữ Hán: 阮福濶), hay Nguyễn Thế Tông, húy là Hiểu (chữ Hán: 曉), còn gọi là Chúa Võ, hiệu Vũ vương hay Võ vương (1714–1765) là vị chúa Nguyễn thứ 8 của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1738 đến năm 1765.
  2. Nguyễn Thu Hoài, Hoàng đế Gia Long và công cuộc khai lập triều Nguyễn 200 năm nhìn lại, Trung tâm lưu trữ quốc gia I, truy cập ngày 28/7/2025. 
  3. Trần Cao Sơn (2009), Nguyễn Ánh – một ẩn số của lịch sử. Gia Long và triều Nguyễn – một thực thể vương quyền Đại Việt, Tạp chí Sông Hương số 175 (9-2009). Truy cập 28/7/2025.
  4. Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung, 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Hà Nội, Nxb Quân đội Nhân dân, 2008, tr 284.

Tài liệu tham khảo

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  2. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  3. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm.
  4. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  5. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Vua Gia Long

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)