Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Nhật Tân xưa vốn gọi là điện Nhật Chiêu, thuộc xã Nhật Chiêu, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên. Đến triều Khải Định, địa danh Nhật Chiêu đổi thành Nhật Tân, di tích cũng theo đó mà đổi tên. Năm 1946, Nhật Tân sáp nhập với Quảng Bá thành xã Quảng Tân; đến năm 1955 lại tách ra, thuộc quận V, ngoại thành Hà Nội. Năm 1961, địa giới điều chỉnh, Nhật Tân chuyển về huyện Từ Liêm. Năm 1996, khi quận Tây Hồ được thành lập, xã Nhật Tân trở thành phường Nhật Tân, trực thuộc quận này. Hiện nay, Đình Nhật Tân nằm tại cụm 1, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội, là một di tích tín ngưỡng tiêu biểu gắn với quá trình biến đổi hành chính của khu vực qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Lịch sử và nhân vật
Đình Nhật Tân được hình thành với mục đích thờ phụng thánh Uy Linh Lang – một nhân vật mang nhiều yếu tố huyền thoại hơn là thực sử. Theo truyền thuyết, ngài thuộc dòng dõi rồng, là con trai của Lạc Long Quân, thường hiển linh tại các vùng sông nước để cứu giúp dân chúng thoát khỏi thiên tai, đem lại thái bình cho đất nước. Các thư tịch như thần phả phường Nhật Tân, Yên Phụ, “Tây Hồ chí”, “Thăng Long cổ tích khảo” đều ghi chép về ngài như một nhân vật lịch sử quan trọng, tương tự các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải hay Trần Nhật Duật.
Bản thần tích ký hiệu Aea2/38 lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm mô tả chi tiết: Uy Linh Lang là hậu duệ của họ Hồng Bàng, thuộc tông thứ hai của Bách Việt. Ngài vốn là trưởng Xích Giáp, được phong cùng sáu người em là Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp và Tử Giáp. Đến đời Trần Thánh Tông, Uy Linh Lang hiển linh ban phúc, giúp hoàng hậu Minh Đức thụ thai sinh ra kỳ tích. Từ nhỏ, ngài đã thể hiện tư chất thông minh, tài năng kiệt xuất, thông hiểu cả tam giáo, được triều đình trọng vọng.
Khi quân Nguyên xâm lược, ngài đã chiêu tập binh sĩ, thành lập “Thiên tử quân” đánh nhiều trận oanh liệt, lập công lớn trong các chiến thắng ở Bàn Than, Đông Mai, Vạn Kiếp, Đông Kết… góp phần cùng quân Trần đánh bại giặc, giữ vững giang sơn. Sau đó, ngài được gia phong Dâm Đàm Đại Vương, trở thành vị thần bảo hộ Hồ Tây.
Uy Linh Lang mất năm 36 tuổi (Bính Tý), không bệnh mà hóa, được lập đền thờ ngay tại nơi hóa thân – gọi là Điện Nhật Chiêu hay Linh Bảo Điện, tức Đền Thánh Uy Linh Lang. Trải các triều đại, ngài liên tục được gia phong mỹ tự, cùng sáu người em đều được phối thờ ở nhiều đền miếu như Nhật Tân, Yên Phụ, Thủ Lệ, Thanh Trì… và đến nay vẫn được nhân dân tôn kính, thờ phụng linh thiêng.
Kiến trúc cảnh quan
căn cứ vào tấm bia cổ nhất hiện còn lưu giữ tại đình Nhật Tân, có thể xác định niên đại khởi dựng công trình vào năm 1613, dưới thời chúa Trịnh Tùng. Trải qua nhiều biến động lịch sử, ngôi đình từng bị hư hại nặng nề và đã được trùng tu, tôn tạo qua nhiều giai đoạn. Có thời kỳ đình được sử dụng làm trường Tiểu học, mãi đến dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội mới được tu bổ và trả lại cho cộng đồng địa phương. Hiện nay, diện mạo đình sau lần trùng tu này mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn, với các hạng mục phía sau được xây dựng cao hơn so với công trình chính.
Nghi môn của đình đặt chếch về hướng Đông – Nam, nối thông với con đường làng xưa. Toàn bộ mặt bằng kiến trúc nằm trên một gò đất cao, được thiết kế giật cấp theo bố cục chữ “Tam”, bao gồm: đình thượng ba gian, đình trung bảy gian, đình hạ bảy gian cùng các dãy tả – hữu mạc nằm hai bên sân gạch ngay sau cổng nghi môn. Trong khuôn viên, cạnh dãy tả mạc có một cây sanh cổ thụ quý hiếm, duy nhất còn sót lại, được công nhận là “Cây Di sản quốc gia” vào tháng 9 năm 2011.
Phía trước nghi môn là khoảng sân gạch rộng; bên phải hiện được Trường Cao đẳng nghề Hùng Vương sử dụng làm trụ sở, còn bên trái có bậc thềm rồng đá cao, mở lối ra đường Âu Cơ về hướng Đông – Bắc. Hai bên bậc thềm đặt hai tấm bia đá ghi lược sử ngôi đình và văn bản xếp hạng di tích quốc gia. Phía sau hậu cung mở ra khoảng sân nhỏ, có lối đi phụ từ đường Âu Cơ qua gốc nhãn cổ, dẫn xuống bậc thềm nối với đài tưởng niệm liệt sĩ đặt dưới chân gò, hướng thẳng về phía Hồ Tây.
Hiện vật
Trải qua những biến thiên của lịch sử dân tộc, đình Nhật Tân hiện vẫn còn lưu giữ được một khối lượng lớn di vật quý hiếm, có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Các di vật này gồm nhiều chất liệu khác nhau:
– Đồ đồng: hiện còn một bộ bát bửu gồm 10 món, cùng với hai cây đèn, hai cây nến và sáu đài nước, phản ánh kỹ thuật chế tác tinh xảo của các nghệ nhân xưa.
– Đồ đá: lưu giữ 5 tấm bia đá xanh hạt mịn, trong đó có một bia mang niên đại sớm nhất đề “Cảnh Trị vạn vạn niên”, hai bia thuộc niên hiệu Bảo Đại ngũ niên, và một bia khắc vào thời Minh Mệnh. Đặc biệt, thay vì chỉ chép lại sự tích thần hoàng làng trong Ngọc phả bằng giấy như các đình khác, đình Nhật Tân lại khắc nội dung về sự tích thần Uy Linh Lang đại vương trực tiếp trên bia đá có niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 5 (1825), tạo nên giá trị độc đáo hiếm có.
– Đồ gỗ: nổi bật là 8 cỗ long ngai bài vị được sơn son thếp vàng rực rỡ, trang trí tinh xảo với họa tiết rồng chạm khắc sống động, thể hiện phong cách nghệ thuật cung đình.
– Đồ giấy: đình còn bảo tồn 36 đạo sắc phong của các triều đại, từ Lê Dụ Tông (Vĩnh Thịnh năm thứ 5, 1709) đến triều Nguyễn Bảo Đại (1924), sắc phong cho thần Uy Linh Lang đại vương và sáu người em.
Những di vật này không chỉ có giá trị tín ngưỡng mà còn phản ánh rõ nét sự tiếp nối lịch sử, nghệ thuật và phong tục thờ cúng của cộng đồng cư dân Nhật Tân qua nhiều thế kỷ.
Lễ Hội
Lễ hội lớn tại đền được ghi nhận lần cuối vào khoảng năm 1924, đánh dấu một sinh hoạt tín ngưỡng – văn hóa có quy mô rộng lớn với sự tham gia của mười ba làng, trại trong khu vực. Nghi thức rước kiệu diễn ra hết sức trọng thể: ngày mồng 10 tháng Hai đoàn rước xuất phát từ Thụy Khuê sang Thủ Lệ; ngày 11 tháng Hai tiếp tục từ Thủ Lệ sang Hào Nam, biểu trưng cho mối quan hệ kết nghĩa bền chặt giữa các làng. Trong cơ cấu tế lễ xưa, làng Thủ Lệ chia làm ba giáp (Bắc, Nam, Đông) và giữ vai trò chủ tế trong kỳ đại hội năm năm một lần, còn làng Vạn Phúc đảm nhiệm đọc chúc văn. Ở các lễ hội thường niên, hai làng này thay phiên: Vạn Phúc làm chủ tế, Thủ Lệ đọc chúc văn. Khi vào chính hội, bài vị thành hoàng được rước từ đình hàng tổng Vạn Phúc về đền Thủ Lệ, cùng kiệu bát cống do trai đinh khiêng qua nhiều quả đồi, đặc biệt đoạn dốc gập ghềnh khiến người khiêng vừa bò vừa giữ nhịp, tạo nên hình ảnh gắn với địa danh Núi Bò.
Lễ hội xưa mang sắc thái rực rỡ: vàng tươi của hoa hoàng anh hòa cùng sắc màu của kiệu, cờ, lọng, mũ áo. Ngoài mười ba trại địa phương, còn có các đoàn rước từ Bồng Lai, Chí Trung, Tăng Non, Đình Vĩ (Hà Tây), Đình Bảng (Bắc Ninh), Thọ Vực (Hưng Yên)… Đám rước được tổ chức long trọng với cờ quạt, chiêng trống, phường bát âm, đội sênh tiền, các cô gái múa bông, cùng kiệu sắc phong và kiệu long đình nghi ngút khói hương. Dưới hồ, thuyền rồng lướt sóng, tiếng trống vang dội, hòa cùng bước đi của quan tế, các bậc kỳ lão và đội nữ trong trang phục sặc sỡ. Dù chỉ đi quãng đường hơn 300 mét từ cổng đền vào nội tự, đoàn rước kéo dài tới hai giờ, biểu thị tính trang nghiêm đặc biệt.
Sau phần rước và tế, hội còn kéo dài ba ngày với nhiều hoạt động văn hóa phong phú như ngâm thơ, triển lãm thư pháp Hán tự, hát quan họ, đấu cờ người. Du khách tham dự vừa dâng hương, vừa được thưởng ngoạn không gian cổ kính với gò, ao, hồ, tam quan gạch Bát Tràng, hàng muỗm xanh, cây si cổ thụ rễ buông, nổi bật giữa lòng đô thị hiện đại.
Xếp hạng
Đình Nhật Tân đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích, kiến trúc nghệ thuật năm 1994./.
Tham khảo
- Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên (chủ biên), Địa chí Thăng Long – Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm – phần Thăng Long cổ tích khảo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xuất bản Thế Giới.
- Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
- Trần Thanh Đạm (1962). Tây Hồ chí, Nxb Bộ Giáo dục.
