Tiểu sử
Tự Đức 嗣德 (1847-1883) tên húy là Hồng Nhậm 洪任. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn lại viết: “Tên húy là Thì, tên chữ là Hồng Nhiệm, sinh ngày 25 tháng 8 giờ Bính Tuất, năm Kỷ Sửu (năm Minh Mệnh thứ 1- đời Thánh tổ Nhân hoàng đế, Thanh, năm Đạo Quang thứ 9)”[1].
Ông là hoàng tử thứ hai của vua Hiến Tổ, thân mẫu là Từ dụ Bác huệ Khang Thọ thái thái hoàng thái hậu, Phạm Đăng Thị. Trước đây bà chiêm bao thấy một vị thần, mặc áo rộng thắt đai to, đầu râu, tóc bạc, mang một tờ giấy vàng viết chữ son có đóng dấu ngọc và một chuỗi hạt minh châu trao cho. Vua sinh ra, đúng ứng vào điềm ấy (sinh ở nơi phủ đệ Trường Khánh trước). Năm Thiệu Trị thứ 3, tháng Giêng, ngài được sắc phong làm Phúc Tuy công.
Ngài tính nhân hiếu, thông minh sáng dạ, chỉ kê cứu các kinh sách, ngày nối tới đêm, những sách của bách gia chư tử không sách nào không đọc qua.
Cuốn Việt Nam sử lược chép:
Bấy giờ hoàng tử mới có 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái.[2]
Trái lại, anh trai của ngài là Yên Phong công Hồng Bảo tuy đã lớn nhưng là con vợ thứ, lại mê cờ bạc, không chịu học hành.
Vua cha yêu mến Hồng Nhiệm, chỉ gọi vào chầu dạy lấy đạo học của đế vương, và việc cấy gặt khó nhọc của nhân dân, khi rảnh việc ngồi ngay đấy mà ngâm vịnh nối theo.
Tự Đức chính thức lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, trị vì từ năm 1847 đến 1883, ông được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Dực Tông 阮翼宗, thụy hiệu là Thể Thiên Anh Hoàng Đế.
Vua Tự Đức có dáng người nho nhã, điềm tĩnh, đọc nhiều sách, là một vị vua hay chữ và uyên bác nhất triều Nguyễn. Quan tổng đốc Thân Trọng Huề đã được trông thấy dung nhan của ngài và đã tả rõ chân tượng của ngài:
Ngài hình dung như một người nho sĩ, không cao, không thấp, trạc người bậc trung, không gầy không béo, có phần hơi gầy một tí. Da không trắng, không đen. Mặt hơi dài, cằm hơi nhỏ, trán rộng mà thẳng, mũi cao mà trong, hai con mắt tinh mà lành.
Ngài hay chít cái khăn vàng mà nhỏ, và mặc áo vàng, khi ngài có tuổi thì hay mặc quần vàng đi giầy hàng vàng của Nội-vụ đóng. Ngài không ưa trang sức mà cũng không cho các bà nội cung đeo đồ nữ-trang, chỉ cốt lấy sự ăn mặc sạch sẽ làm đẹp.
Tính ngài thật là hiền lành. Những người được hầu gần ngài nói chuyện rằng: Một hôm ngài ngự triều tại điện Văn Minh, ngài cầm cái hoa mai sắp hút thuốc, tên thái-giám đứng quạt hầu, vô ý quạt mạnh quá, lửa hoa mai[4]. bay vào tay ngài. Tên thái giám sợ xanh mắt lại, mà ngài chỉ xoa tay, chứ không nói gì cả.
Ngài thờ đức Từ dụ 慈裕 rất là có hiếu. Lệ thường cứ ngày chẵn thì chầu cung, ngày lẻ thì ngự triều; trong một tháng chầu cung 15 lần, ngự triều 15 lần, trừ khi đi vắng và khi se yếu[5].. Trong 36 năm, thường vẫn như thế, không sai chút nào.[6].
Cai trị
Ngày Quý Tỵ 17, tháng 9, năm thứ 7 (Đinh Mùi) dự phê tờ di chiếu cho vua nối ngôi. Cố mệnh lương thần là Trương Đăng Quế, đại thần Vĩ Vân Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp sung làm Phụ chính đại thần. Lại cùng gọi cả vào trăng trối kỹ càng, mọi người ở sân ngoài không biết gì cả. Tới ngày Quý Mão, ngày 27, vua Thiệu Trị mất. Ngày Kỷ Dậu, mùa đông, tháng 10, Tự Đức lên cầm quyền, theo di chiếu của vua cha, , bấy giờ ông mới 19 tuổi, lấy sang năm Mậu Thân làm năm Tự Đức thứ nhất, ban ân chiếu cho thiên hạ.
Đối nội
Triều đại của Tự Đức đánh dấu sự suy yếu của nhà Nguyễn và nhiều sự kiện xấu với vận mệnh Đại Nam. Quân đội nhà Nguyễn ngày càng suy yếu, kinh tế trì trệ, trong khi nhiều cuộc nội loạn diễn ra trong cả nước.
- Thuế khóa
Chính sách thuế khóa dưới triều Tự Đức về cơ bản vẫn theo lệ từ thời Minh Mạng (1820-1841) và Thiệu Trị (1841-1847). Tuy nhiên, kể từ khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha chiếm Nam Kỳ và triều đình phải nộp khoản bồi thường chiến phí lên tới 4 triệu nguyên, triều đình buộc phải tìm thêm nguồn thu. Do đó, vua giao cho quan Hầu Lợi Trịnh việc tăng thuế đối với hoạt động buôn bán thuốc phiện từ Quảng Bình ra Bắc Kỳ, dù số thu không lớn. Theo ghi chép, mỗi năm nguồn thuế này chỉ mang lại khoảng 302.200 quan.
Bên cạnh đó, triều đình còn phải áp dụng biện pháp từng có từ các triều trước là bán quan để lấy tiền, dưới hình thức “quyên”. Theo định lệ, ai nộp từ 1.000 quan trở lên sẽ được ban cho hàm cửu phẩm, còn nếu quyên tới 10.000 quan thì có thể được thăng đến hàm lục phẩm.
- Quan lại dưới triều Tự Đức
Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo, do đó, phần lớn quan lại và triều thần dưới thời Tự Đức đều trưởng thành trong môi trường giáo dục Nho học, vì vậy không theo kịp những tiến bộ khoa học, kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Thêm vào đó, chính sách “bế quan tỏa cảng” khiến triều đình nhà Nguyễn gần như tách biệt, ít có thông tin cập nhật về tình hình bên ngoài. Họ vẫn nhìn nhận thế giới theo lối tư duy của nhiều thế kỷ trước, thời điểm phương Tây chưa công nghiệp hóa trong khi các quốc gia phương Tây đã tiến rất xa về kỹ nghệ và công nghệ.
Một số trí thức Nghệ An có cơ hội đi ra nước ngoài nên hiểu được cục diện đương thời, tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ. Khi trở về, ông nhiều lần dâng sớ khẩn thiết đề nghị vua Tự Đức tiến hành cải cách để tránh nguy cơ mất nước. Tuy nhiên, do sự chống đối quyết liệt của quần thần, những đề xuất ấy đều không được thực hiện.
Các nhà sử học sau này thường quy trách nhiệm về việc Đại Nam thất thủ cho tầng lớp quan lại cao cấp thời Tự Đức. Dẫu vậy, cũng cần ghi nhận rằng trong giai đoạn ấy vẫn có những trung thần tận trung báo quốc, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ đất nước, như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu…
- Binh chế
Đời vua Dực Tôn lắm giặc giã, nhà vua cần đến việc võ, nên chỉ năm Tân Dậu (1861) là năm Tự Đức thứ 14 mới truyền cho các tỉnh chọn lấy những người khoẻ mạnh để làm lính võ-sanh. Đến năm Ất Sửu (1865) là năm Tự Đức thứ 18 lại mở ra khoa thi võ tiến sĩ.
Tuy rằng lúc bấy giờ nước mình có lính võ sanh, có quan võ tiến sĩ, nhưng mà thời đại đã khác đi rồi, người ta đánh nhau bằng súng nạp-hậu, bằng đạn trái phá, chứ không bằng gươm bằng giáo như trước nữa. Mà quân lính của mình mỗi đội có 50 người thì chỉ có 5 người cầm súng điểu thương cũ phải châm ngòi mới bắn được, mà lại không luyện tập, cả năm chỉ có một lần tập bắn. Mỗi người lính chỉ được bắn có 6 phát đạn mà thôi, hễ ai bắn quá số ấy thì phải bồi thường.
Quân lính như thế, binh khí như thế, mà quan thì lại cho lính về nhiều, mỗi đội chỉ có độ chừng 20 tên lại ngũ mà thôi. Vậy nên đến khi có sự, không lấy gì mà chống giữ được.
Năm 1861, Tự Đức buộc các địa phương tuyển thanh niên trai tráng nhập ngũ, và đến 1865, triều đình mở khoa thi Võ tiến sĩ đầu tiên để chọn nhân tài quân sự. Tuy vậy, tình thế đã thay đổi: trong khi phương Tây sở hữu súng ống hiện đại, Đại Nam vẫn chủ yếu dựa vào gươm giáo và súng hỏa mai kiểu cũ. Một đội 10 lính chỉ có một khẩu súng, lại ít khi được tập luyện vì triều đình lo tốn kém đạn dược. Do đó, khi đối diện với quân Pháp, binh sĩ Đại Nam hầu như không thể chống cự.
Quan niệm quân sự của triều Nguyễn vẫn dừng lại trong khuôn khổ trung cổ, không theo kịp thành tựu khoa học – kỹ thuật phương Tây. Vì vậy, khi Pháp nổ súng xâm lược năm 1858, quân đội Đại Nam đã bị bỏ lại quá xa về trang thiết bị.
Không chỉ bất lực trước quân Pháp, nhà Nguyễn thậm chí còn không thể đối phó hiệu quả với quân Cờ đen – một nhóm thổ phỉ chỉ vài trăm người từ biên giới Trung Quốc tràn sang, lập căn cứ ở Sơn Tây và hoành hành nhiều năm. Hàng vạn quân triều đình không dẹp nổi, cuối cùng phải bỏ tiền thuê chính đội quân này chống Pháp. Trớ trêu thay, quân Cờ đen gây tổn thất cho quân Pháp nhiều hơn cả lực lượng chính quy của Đại Nam. Điều đó cho thấy quân đội dưới triều Tự Đức đã suy yếu tới mức nào.
- Việc cấm đạo
Việc cấm đạo thì từ năm Mậu Thân (1848) là năm Tự Đức nguyên niên, vua Dực Tôn mới lên ngôi, đã có dụ cấm đạo. Lần ấy trong dụ nói rằng những người ngoại quốc vào giảng đạo thì phải tội chết; những người đạo trường ở trong nước mà không chịu bỏ đạo thì phải khắc chữ vào mặt, rồi bắt đầy đi chỗ nước độc. Còn những ngụ dân thì các quan phải ngăn cấm, đừng để cho đi theo đạo mà bỏ sự thờ cúng cha ông, chứ đừng có hại gì.
Đến năm Tân Hợi (1851) là năm Tự Đức thứ 4, lại có dụ ra cấm đạo. Lần này còn nghiệt hơn lần trước, và có mấy người giáo sĩ ngoại quốc phải giết.
Về việc này, Trần Trọng Kim có lời bình:
Sức đã không đủ giữ nước mà lại cứ làm điều tàn ác. Đã không cho người ngoại quốc vào buôn bán, lại đem làm tội những người đi giảng đạo, bởi thế cho nên nước Pháp và nước Y Pha Nho mới nhân cớ ấy mà đánh nước ta vậy.[7].
Theo Hòa ước ký với Pháp năm 1862, triều Nguyễn buộc phải bãi bỏ chính sách cấm đạo Công giáo. Đến năm 1864, trước phản ứng bạo lực của giới Văn Thân ở Huế với âm mưu giết hại tín đồ Công giáo, vua Tự Đức đã ban dụ rằng:
Đối ngoại
Việc chính trị đời Dực Tông là nhất thiết không cho người ngoại quốc vào buôn bán. Như năm Canh tuất (1850) là năm Tự Đức thứ 3, có tàu Mỹ Lợi Liên vào cửa Đà Nẵng, đem thư sang xin thông thương, nhà vua không tiếp thụ.
Từ năm Ất mão (1855) cho đến năm Đinh sửu (1877) tàu Anh Cát Lợi ra vào mấy lần ở cửa Đà Nẵng, cửa Thị Nại (Bình Định) và ở Quảng Yên, để xin buôn bán, cũng không được. Người I Pha Nho và nước Pháp Lan Tây xin thông thương thượng cũng không được.
Về sau đất Gia Định đã mất rồi, việc ngoại giao một ngày một khó, nhà vua mới đặt Bình Chuẩn Ti để coi việc buôn bán, và Thương Bạc Viện để coi việc giao thiệp với người ngoại đường. Tuy vậy nhưng cũng không thấy ai là người hiểu việc buôn bán và biết cách giao thiệp cả.
Cuộc xâm lược của Pháp
Năm 1856, chiến hạm Catinat tiến vào cửa Đà Nẵng, mang thư khiển trách triều đình Huế về việc đàn áp các giáo sĩ Công giáo. Khi không được hồi đáp, quân Pháp đã nổ súng bắn phá các đồn lũy ven biển rồi rút đi. Trong sự kiện này, Giám mục Pellerin trốn thoát lên tàu về Pháp và thuật lại tình cảnh các giáo sĩ Công giáo bị ngược đãi tại Đại Nam. Ông còn khẳng định rằng chỉ cần có biến loạn, tín đồ Công giáo sẽ nổi dậy hỗ trợ quân viễn chinh. Cùng với sự tác động của Hoàng hậu Eugénie – người rất sùng đạo – Hoàng đế Napoléon III (1808-1873) quyết định phát động chiến tranh chống Đại Nam.
Tháng 7 năm Mậu Ngọ (1858), tức năm Tự Đức thứ 11, hải quân Trung Tướng nước Pháp là Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu I Pha Nho, cả thảy 14 chiếc, chở hơn 3.000 quân của hai nước vào cửa Đà Nẵng, bắn phá các đồn lũy, rồi lên hạ thành An Hải và thành Tôn Hải. Tuy nhiên, quân viễn chinh bị hao tổn nặng nề do dịch tả, kiết lỵ và nhiều bệnh nhiệt đới. Địa thế sông Hương cùng hạn chế về phương tiện vận tải càng khiến việc tiến sâu vào nội địa bất khả thi. Chiến dịch tại Đà Nẵng rơi vào bế tắc, buộc Rigault de Genouilly phải chuyển hướng đánh Gia Định. Đầu năm 1859, quân Pháp – Tây Ban Nha tiến vào cửa Cần Giờ, hạ thành Gia Định chỉ trong hai ngày. Quan Hộ đốc Võ Duy Ninh tuẫn tiết. Sau đó, Rigault de Genouilly quay lại Đà Nẵng, đánh đồn Phúc Ninh, khiến quân Nguyễn Tri Phương phải rút về giữ Nại Hiên và Liên Trì.
Do bệnh nặng, Rigault de Genouilly hồi hương, giao quyền cho Thiếu tướng Page. Page đề nghị hòa đàm, chỉ yêu cầu được tự do truyền giáo và buôn bán, nhưng triều đình Huế cự tuyệt. Năm 1862, Pháp chiếm Biên Hòa và Vĩnh Long, buộc triều đình phải cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết. Hòa ước Nhâm Tuất (9/5/1862) gồm 12 khoản, trong đó có:
- Cho phép giáo sĩ Pháp, Tây Ban Nha tự do truyền đạo; dân chúng được tự do theo đạo.
- Nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường.
- Cho phép tàu chiến Pháp tự do qua lại sông Mê Kông.
Vua Tự Đức buộc phải nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, đồng thời cử Phan Thanh Giản trấn thủ ba tỉnh miền Tây còn lại. Năm 1867, Phó Đô đốc La Grandière đem quân đánh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Biết thế không chống nổi, Phan Thanh Giản khuyên các quan đầu hàng để tránh đổ máu, rồi uống thuốc độc tự vẫn. Toàn bộ Nam Kỳ rơi vào tay Pháp.
Năm Quý Dậu (1873), Thiếu tướng Dupré sai Trung úy Hải quân Francis Garnier tấn công thành Hà Nội. Thành thất thủ trong một giờ, tướng Nguyễn Tri Phương trọng thương, bị bắt nhưng tuyệt thực đến chết. Chỉ trong 20 ngày, Đại Nam mất bốn tỉnh: Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình và Hải Dương. Khi ấy, thủ lĩnh quân Cờ Đen là Lưu Vĩnh Phúc về hàng triều đình Huế, được phong Đề đốc, đem quân ra đánh Pháp. Garnier tử trận trong trận Cầu Giấy. Trước biến cố này, Paris triệu hồi Dupré. Để giảm trách nhiệm, Dupré cử Đại úy Hải quân Philastre sang Hà Nội thương lượng, trả lại thành và bốn tỉnh bị chiếm. Hai bên ký Hòa ước Giáp Tuất (1874), trong đó triều đình Huế chính thức thừa nhận Nam Kỳ thuộc Pháp, đổi lại được nhận một số tàu thuyền và vũ khí.
Năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ Charles Le Myre de Vilers gửi thư lên triều đình Huế, chỉ trích vua bất lực, đất nước rối ren, lấy cớ “bảo vệ quyền lợi dân Pháp” để phái Đại tá Hải quân Henri Rivière ra Hà Nội. Rivière gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hoàng Diệu buộc hàng, rồi nổ súng lúc 8 giờ sáng. Đến 11 giờ, thành thất thủ, Hoàng Diệu thắt cổ tuẫn tiết.
Khâm sứ Pháp tại Huế là Rheinart đến thương thuyết, yêu cầu Đại Nam chấp nhận chế độ bảo hộ và nhường Hà Nội cho Pháp. Triều đình cầu cứu nhà Thanh, quân Thanh kéo sang chiếm đóng Bắc Ninh, Sơn Tây. Trong giao tranh, Henri Rivière tử trận tại Cầu Giấy.
Sau khi Tự Đức qua đời, các vua nhỏ tuổi liên tiếp nối ngôi (Dục Đức, Hiệp Hòa). Ngày 20/8/1883, quân Pháp đánh cửa biển Thuận An, buộc triều đình ký Hiệp ước Quý Mùi 1883, chính thức thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Qua đời
Vua Tự Đức lúc nhỏ mắc bệnh đậu mùa nên không có con, bèn nhận các con của anh em ruột làm con nuôi. Năm 1869, Tự Đức nhận nuôi Ưng Ái, ban tên tự là Ưng Chân, cho ra ở Dục Đức đường, giao Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên trông nom dạy bảo. Dục Đức là tên gọi của Ưng Chân khi ở Dục Đức Đường.
Tháng 7 cùng năm, vua Tự Đức lâm bệnh, đưa di chiếu truyền ngôi cho Dục Đức. Đồng thời, vua giao cho các Phụ chính đại thần là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phò tá. Ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, tức ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức qua đời, hưởng thọ 54 tuổi. Bài vị nhà vua được đưa vào thờ trong Thế Miếu; miếu hiệu là Dực Tông 翼宗 và thụy hiệu là Anh Hoàng đế 英皇帝. Lăng ông gọi là Khiêm Lăng, tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Một điều rất đáng chú ý ở Khiêm Lăng là tấm bia ở Bi đình nặng trên 20 tấn do vua Tự Đức tự dựng cho mình. Thông thường, văn bia phải do con cháu dựng để ghi công đức cha ông, nhưng vì Tự Đức không có con nối dõi nên ông đành tự soạn lấy. Trong văn bia này, nhà vua bộc lộ nỗi hối hận và tự trách mình vì để mất nước, đồng thời cũng trăn trở chuyện giữ nước.
Chú thích
- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành, 1943, tr 212.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, tập 6, Nxb Giáo dục, tr 27.
- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, sđd, tr 212.
- Hoa mai: một sợi dây làm bằng chỉ để thắp lửa mà hút thuốc.
- Se yếu: đau yêu. Tiếng se ở Huế nói cách tôn kính, như vua đau thì nói vua se mình.
- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, sđd, tr 212-213.
- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, sđd, tr 219.
Tài liệu tham khảo
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Đệ tứ kỷ – Quyển XLIX – Thực lục về Dực tông Anh hoàng đế, tập 7, Nxb Giáo dục.
______________________
Các ngôn ngữ khác
1. Tiếng Anh (English)
Biography
Tu Duc (嗣德, 1847–1883), given name Hong Nham (洪任). The Nguyen Dynasty’s National History Office records: “The taboo name was Thi, courtesy name Hong Nhiem; born on the 25th day of the 8th month, at the Bing Tuat hour, in the Year of the Ox (the 1st year of Minh Mang—Shengzu Ren Emperor; Qing, the 9th year of Daoguang).”[1]
He was the second son of Emperor Hien To; his mother was the Grand Empress Dowager Tu Du Bac Hue Khang Tho, Pham Dang Thi. Earlier, she dreamt of a deity in wide robes and broad sash, bearded with graying hair, bearing a golden paper inscribed in cinnabar with a jade seal, and a string of luminous pearls to present. At his birth, the omen proved apt (born first at the Truong Khanh residence). In the 3rd year of Thieu Tri, first month, he was ennobled as Duke of Phuc Tuy.
He was benevolent and filial, quick-witted, and devoted to textual study, reading by day and night; among the Hundred Schools, there was no book he had not perused.
Vietnam Su Luoc records:
“At that time the prince was only nineteen, yet already learned and erudite.”[2]
By contrast, his elder brother, Prince Yen Phong Hong Bao, though older, was born of a secondary consort, addicted to gambling, and neglected study.
Their father cherished Hong Nhiem, summoned him to attend and instructed him in imperial learning and in the people’s toil in sowing and reaping; when leisure allowed, they composed poems together on the spot.
Tu Duc formally ascended the throne at Thai Hoa Hall, reigning from 1847 to 1883. He was posthumously honored with the temple name Nguyen Duc Tong (阮翼宗) and the posthumous title The Thien Anh Hoang De.
Emperor Tu Duc was refined and composed, widely read—one of the most learned sovereigns of the Nguyen. Governor-General Than Trong Hue, who had seen him in person, left this faithful portrait:
“He resembled a Confucian scholar, of medium stature, neither thin nor stout, perhaps a bit lean. His complexion neither fair nor dark. Face slightly long, chin a bit narrow, broad and straight forehead, high and clear nose, eyes bright yet gentle.
He often wore a small yellow headscarf and yellow robe; in later years yellow trousers and yellow court shoes from the Household Service. He disliked ornament and forbade palace women from jewelry, valuing neatness and cleanliness in dress.
His nature was truly kind. Those who served near him said: One day, holding a smoldering ‘hoa mai’ to light tobacco in Van Minh Hall, the eunuch fanned too hard; a spark flew onto the emperor’s hand. The eunuch turned pale with fear, but His Majesty merely rubbed his hand and said nothing.”[4]
He was profoundly filial to the Empress Dowager Tu Du (慈裕). By rule, on even days he paid court in the inner palace; on odd days he held audience—fifteen palace attendances and fifteen court sessions each month, except when away or unwell[5]. For thirty-six years he kept to this without fail.[6]
Governance
On the day Gui Si, 17th of the 9th month, 7th year (Dinh Mui), he countersigned the testament concerning succession. Loyal ministers Truong Dang Que, Grand Minister Vi Van Giai, Nguyen Tri Phuong, and Lam Duy Thiep were appointed Grand Councilors (Phu chinh). All were called in for detailed last instructions; those outside knew nothing. On the day Gui Mao, the 27th, Emperor Thieu Tri died. On the day Ky Dau, in the 10th month, Tu Duc assumed power per his father’s testament, being then nineteen. He designated the next year (Mau Than) as the first regnal year “Tu Duc” and issued an amnesty.
Domestic affairs
Tu Duc’s reign marked the weakening of the Nguyen and many misfortunes for Dai Nam. The army declined, the economy stagnated, and internal rebellions spread.
Taxation
Fiscal policy largely followed Minh Mang (1820–1841) and Thieu Tri (1841–1847). After the Franco-Spanish capture of Cochinchina and an indemnity of 4 million piastres, the court sought new revenue. The emperor tasked Marquis Loi Trinh to raise taxes on the opium trade from Quang Binh northward; receipts were modest—about 302,200 quan per year.
The court also revived the sale of ranks via “donations” (quyen): remitting 1,000 quan earned ninth rank; 10,000 quan could bring sixth rank.
Officials under Tu Duc
Governance remained Confucian; most officials were classically educated, ill-equipped for rapid advances in global science and technology. The policy of seclusion further isolated the court from current affairs; their worldview belonged to pre-industrial centuries while Western nations had surged ahead.
Some intellectuals from Nghe An, notably Nguyen Truong To, had gone abroad and grasped the world’s balance. He repeatedly memorialized urgent reforms to avert national ruin. Due to fierce opposition from courtiers, these proposals were not adopted.
Later historians often blamed the high bureaucracy of Tu Duc’s era for Dai Nam’s collapse. Still, loyal patriots—Ton That Thuyet, Nguyen Tri Phuong, Hoang Dieu—sacrificed themselves for the realm.
Military system
Amid frequent unrest, the emperor emphasized martial affairs. In 1861 (14th Tu Duc year), provinces were ordered to recruit sturdy youths as “vo-sanh” (military trainees). In 1865 (18th year), a doctorate-level military examination was instituted.
Yet warfare had changed: the West fought with breech-loaders and explosive shells, not swords and spears. In a 50-man company, only five bore old matchlock muskets, seldom drilled; annual live-fire occurred once, six rounds per man, with any extra to be repaid personally. Units were understrength—often c. 20 present. Thus, when conflict came, they could not hold.
By 1861 conscription expanded; by 1865 the first Vo Doctorate exam chose military talent. Nonetheless, facing modern European arms, Dai Nam’s forces—undertrained and ill-equipped—were overmatched.
The Nguyen military mindset remained medieval and lagged behind Western science and technology. When France attacked in 1858, Dai Nam’s army was already far behind.
Ineffectual even against the small “Black Flag Army” of a few hundred from China entrenched in Son Tay, tens of thousands of imperial troops failed to suppress them and eventually hired them to fight France. Ironically, the Black Flags inflicted more losses on the French than the regular army—showing the depth of military decline.
Persecution of Christianity
In 1848 (Tu Duc year 1), an edict banned the Catholic faith: foreign missionaries were to be executed; native catechists who refused to recant would be facially branded and exiled to pestilential regions; officials were to restrain converts from abandoning ancestral rites, without harming them.
In 1851 (year 4), a harsher edict followed; several foreign missionaries were executed.
On this, Tran Trong Kim commented:
“Lacking the strength to defend the country yet persisting in cruelty—refusing foreign trade and punishing missionaries—thereby giving France and Spain the pretext to attack.”[7]
Under the 1862 treaty with France, the court abolished anti-Catholic policies. In 1864, after violent Văn Thân reactions in Hue and plots to kill Catholics, Tu Duc decreed that:
Foreign relations
Policy under Duc Tong was to refuse foreign commerce. In 1850 (year 3), the American ship Lorcha entered Da Nang seeking trade; the court declined.
From 1855 to 1877, British ships repeatedly approached Da Nang, Thi Nai (Binh Dinh), and Quang Yen for trade; all refused. Spain and France were likewise denied.
After the loss of Gia Dinh, diplomacy worsened. The court created the Board of Standards (Binh Chuan Ti) for trade and the Thuong Bac Institute for foreign dealings, but few understood commerce or diplomacy.
French invasion
In 1856, the warship Catinat entered Da Nang with a letter condemning persecution of Catholic missionaries. Receiving no reply, the French bombarded coastal forts and withdrew. Bishop Pellerin escaped to France, describing abuses and asserting Catholics would aid an expeditionary force. With Empress Eugenie’s influence, Napoleon III decided on war.
In July 1858 (Tu Duc year 11), Admiral Rigault de Genouilly led 14 French and Spanish ships with 3,000 troops into Da Nang, bombarded defenses, and took An Hai and Ton Hai. Cholera, dysentery, and tropical disease ravaged the force; terrain and logistics blocked advance inland. The campaign stalemated; he shifted to Gia Dinh. Early 1859, Franco-Spanish forces entered Can Gio and seized Gia Dinh in two days; Governor Vo Duy Ninh committed suicide. Rigault then struck Phuc Ninh, forcing Nguyen Tri Phuong to fall back to Nai Hien and Lien Tri.
Ill, Rigault returned to France, leaving Brigadier Page, who proposed peace demanding only freedom of worship and trade; Hue refused. In 1862, France took Bien Hoa and Vinh Long, compelling negotiations by Phan Thanh Gian and Lam Duy Hiep. The Treaty of Nham Tuat (9 May 1862) included: freedom for French/Spanish missionaries and converts; cession of Bien Hoa, Gia Dinh, Dinh Tuong; and free French naval passage on the Mekong.
Tu Duc ceded the eastern Cochinchina provinces and sent Phan Thanh Gian to govern the remaining western trio. In 1867, Rear Admiral La Grandière seized Vinh Long, An Giang, Ha Tien. Seeing resistance futile, Phan Thanh Gian urged surrender to spare lives and took poison. All Cochinchina fell.
In 1873, Governor Dupré sent Lt. Francis Garnier to attack Hanoi; it fell in an hour. General Nguyen Tri Phuong was wounded, captured, and starved himself to death. Within 20 days, Hanoi, Nam Dinh, Ninh Binh, and Hai Duong were lost. Black Flag leader Liu Yongfu (Luu Vinh Phuc) submitted to Hue, was made Commander, and fought the French; Garnier was killed at Cau Giay. Paris recalled Dupré. To mitigate blame, he sent Capt. Philastre to negotiate; Hanoi and the four provinces were returned. The 1874 Giap Tuat Treaty saw Hue recognize French Cochinchina in exchange for ships and arms.
In 1882, Cochinchina Governor Charles Le Myre de Vilers rebuked Hue and dispatched Col. Henri Rivière to Hanoi. After an ultimatum to Governor Hoang Dieu, he attacked at 8 a.m.; by 11 the city fell, and Hoang Dieu hanged himself.
Resident Rheinart in Hue demanded a protectorate and cession of Hanoi. Hue appealed to Qing; Qing troops occupied Bac Ninh and Son Tay. Rivière was later killed at Cau Giay.
After Tu Duc’s death, child emperors succeeded (Duc Duc, Hiep Hoa). On 20 August 1883, the French attacked Thuan An, forcing the 1883 Treaty of Quy Mui, establishing a French protectorate over Central and Northern Vietnam.
Death
Afflicted with smallpox in youth, Tu Duc left no heir and adopted his kinsmen’s sons. In 1869 he adopted Ung Ai, styled Ung Chan, lodging him in Duc Duc Hall under the care of Imperial Noble Consort Vu Thi Duyen; “Duc Duc” was Ung Chan’s designation during his residence there.
In the seventh month that same year, Tu Duc fell ill and named Duc Duc his successor, entrusting Regents Tran Tien Thanh, Nguyen Van Tuong, and Ton That Thuyet. On 19 July 1883 (16/6 Quy Mui), Tu Duc died, aged 54. His spirit tablet entered The Mieu; his temple name Duc Tong (翼宗), posthumous title Anh Hoang De (英皇帝). His tomb, Khiem Lang, stands at Duong Xuan Thuong village, Huong Thuy district, Thua Thien.
Remarkably, the 20-ton stele in the Stele Pavilion was composed by Tu Duc himself—normally the duty of descendants. Lacking an heir, he wrote his own inscription, confessing remorse for the country’s loss and reflecting on statecraft.
2. Tiếng Pháp (Fran.)
Biographie
Tu Duc (嗣德, 1847-1883), nom personnel Hong Nham (洪任). Le Bureau d’Histoire nationale de la dynastie Nguyen note : « Le nom tabou était Thi, le nom de lettres Hong Nhiem ; né le 25 du huitième mois, à l’heure Bing Tuat, en l’Année du Bœuf (1re année de Minh Mang — empereur Shengzu Ren ; Qing, 9e année de Daoguang). »[1]
Deuxième fils de l’empereur Hien To ; sa mère fut la Grande Impératrice douairière Tu Du Bac Hue Khang Tho, Pham Dang Thi. Elle rêva auparavant d’une divinité en larges habits, barbe grisonnante, portant un parchemin d’or scellé de jade et un chapelet de perles lumineuses ; à la naissance de l’empereur, l’augure se vérifia (né d’abord à la résidence Truong Khanh). En la 3e année de Thieu Tri, premier mois, il fut titré duc de Phuc Tuy.
Il était bienveillant et filial, d’une intelligence vive, assidu aux textes, lisant jour et nuit ; parmi les “Cent Écoles”, aucun ouvrage qu’il n’eût parcouru.
Viet Nam Su Luoc écrit :
« Le prince n’avait que dix-neuf ans, mais sa science était déjà vaste. »[2]
À l’inverse, son aîné, le prince Yen Phong Hong Bao, né d’une épouse secondaire, se livrait au jeu et négligeait l’étude.
L’empereur-père affectionnait Hong Nhiem, l’admit fréquemment en audience, l’instruisant dans la doctrine impériale et les labeurs agricoles du peuple ; aux heures de loisir, ils improvisaient des vers.
Tu Duc monta officiellement sur le trône au pavillon Thai Hoa, régna de 1847 à 1883 ; il reçut à titre posthume le nom de temple Nguyen Duc Tong (阮翼宗) et le titre The Thien Anh Hoang De.
Tu Duc avait une allure lettrée, posée, grand lecteur—l’un des souverains les plus érudits des Nguyen. Le gouverneur-général Than Trong Hue, l’ayant vu, en laissa ce portrait fidèle (résumé) : stature moyenne, plutôt mince, teint ni clair ni foncé, front large et droit, nez haut et net, regard vif et doux ; coiffé d’un petit foulard jaune, vêtu de jaune ; ennemi de l’ornement, il interdisait aux dames du palais les bijoux, ne prisant que la propreté élégante. D’un tempérament très doux : un jour, une étincelle de “hoa mai” l’ayant brûlé, il se contenta de se frotter la main sans rien dire.[4] Extrêmement filial envers l’impératrice douairière Tu Du (慈裕) : jours pairs au palais intérieur, jours impairs au conseil ; quinze visites et quinze audiences par mois, pendant trente-six ans sans faillir[5][6].
Gouvernement
Le 17 du 9e mois (année Dinh Mui), il contresigna le testament de succession. Truong Dang Que, Vi Van Giai, Nguyen Tri Phuong et Lam Duy Thiep furent nommés grands régents. À la mort de Thieu Tri (27, jour Gui Mao), Tu Duc prit le pouvoir à dix-neuf ans, fixa l’an Mau Than comme première année “Tu Duc” et proclama une grâce.
Affaires intérieures
Son règne vit l’affaiblissement des Nguyen : armée déclinante, économie stagnante, troubles multiples.
Fiscalité
La politique fiscale suivit grosso modo Minh Mang et Thieu Tri. Après la prise de la Cochinchine et l’indemnité de 4 millions de piastres, on chercha de nouvelles recettes : relèvement des taxes sur l’opium du Quang Binh vers le Tonkin (environ 302 200 quan/an). On remit aussi en vigueur la vente des grades par “souscriptions” : 1 000 quan pour le neuvième rang, 10 000 pour le sixième.
Le corps des mandarins
Administration confucéenne ; élites formées aux lettres classiques, dépassées par les progrès scientifiques et techniques ; isolement dû à la fermeture du pays. Quelques lettrés (Nghe An), dont Nguyen Truong To, ayant voyagé, soumirent des mémoires de réforme urgents—refusés par l’opposition des grands. L’historiographie a souvent imputé la chute de Dai Nam aux hauts mandarins, tout en saluant des loyaux tels que Ton That Thuyet, Nguyen Tri Phuong, Hoang Dieu.
Système militaire
Recrutements (1861) de “vo-sanh” ; concours de doctorat militaire (1865). Mais l’ère avait changé : l’Occident usait de fusils à culasse et d’obus. Compagnies sous-dotées en armes, exercices rares, munitions rationnées ; effectifs réduits—incapables de résister aux Français. La pensée militaire demeurait médiévale ; l’armée fut dépassée, jusqu’à recourir aux Pavillons noirs, qui infligèrent paradoxalement plus de pertes aux Français que l’armée régulière.
Persécution du christianisme
Édits de 1848 et 1851 : missionnaires étrangers exécutés ; catéchistes marqués et déportés ; Tran Trong Kim blâma cette cruauté, prétexte donné à la France et à l’Espagne[7]. Le traité de 1862 abolit ces mesures ; en 1864, face aux violences des Văn Thân, Tu Duc publia un décret apaisant.
Relations extérieures
Refus systématique du commerce : demandes américaine (1850), britanniques (1855–1877), espagnoles et françaises, toutes rejetées. Après la perte de Gia Dinh, création d’organes pour le commerce (Binh Chuan Ti) et les relations (Thuong Bac), sans réelle compétence.
Invasion française
Catinat à Da Nang (1856) ; attaque franco-espagnole (1858) ; bascule vers Gia Dinh (1859). Traité de Nham Tuat (1862) : liberté religieuse, cession de Bien Hoa, Gia Dinh, Dinh Tuong, libre navigation sur le Mékong. Chute des provinces occidentales (1867) et suicide de Phan Thanh Gian. Garnier prend Hanoi (1873), meurt à Cau Giay ; retour des provinces et Traité de Giap Tuat (1874), reconnaissance de la Cochinchine française. En 1882, Rivière prend Hanoi ; Hoang Dieu se suicide ; appel aux Qing ; Rivière meurt à Cau Giay. Après Tu Duc, traités de 1883 (Quy Mui) imposant le protectorat au Centre et au Nord.
Décès
Sans descendance (variole), Tu Duc adopta des neveux : Ung Ai (Ung Chan) en 1869, sous la garde de Vu Thi Duyen, au pavillon Duc Duc. Malade la même année, il désigna Duc Duc héritier et confia la régence à Tran Tien Thanh, Nguyen Van Tuong, Ton That Thuyet. Décédé le 19 juillet 1883, à 54 ans ; nom de temple Duc Tong (翼宗), titre posthume Anh Hoang De (英皇帝). Tombe de Khiem Lang à Duong Xuan Thuong (Huong Thuy, Thua Thien). Stèle d’environ 20 tonnes rédigée par lui-même, confessant ses remords et ses réflexions sur la perte du pays.
3. Tiếng Trung (中文)
生平
嗣德帝(1847–1883),名洪任。阮朝國史館記載:「諱時,字洪任,生於己丑年八月二十五日丙戌時(明命元年;清道光九年)。」[1]
其為憲祖之次子,生母為慈裕博惠康壽太太皇太后范登氏。先是其母夢神人,衣廣袍、大帶,鬚髮斑白,持金箋朱書、璽押及明珠串授之;帝生,符其兆(初生於長慶府第)。紹治三年正月,封福綏公。
性仁孝,聰穎好學,昼夜稽考經籍,百家諸子無不涉獵。
《越南史略》載:
「時皇子年僅十九,學業已精。」[2]
兄安豐公洪保,庶出,嗜博弈而怠學。
帝王愛洪任,召入侍講帝王之學,並使察百姓耕稼之勞;暇則賦詩唱和。
嗣德帝於太和殿即位,統治自1847年至1883年。追尊廟號阮翼宗,諡體天英皇帝。
嗣德帝儀容儒雅、性情恬靜、博覽群書,為阮朝最負文名之君。總督申仲惠曾覲其容,描寫其真貌:中等身材,略瘦;膚色不白不黑;臉稍長,下頷微狹;額廣而平正,鼻高而清,目光明而和。常纏小黃巾、著黃衣,晚歲亦著黃褲、履內務所製黃鞋。不喜華飾,亦不許宮中婦人佩飾,務求整潔為美。其性至仁。有一次在文明殿御前,手持「花梅」(點煙用火繩)欲吸煙,近侍太監搧扇過猛,火星落帝手,太監駭然失色,帝惟摩手而不言。[4] 對慈裕太后極孝。例逢雙日入宮侍奉,單日臨朝;一月侍宮十五次、臨朝十五次,除出巡及違和外[5]。三十六年如一日,未嘗少怠。[6]
施政
丁未年九月十七日癸巳,議批遺詔立嗣,命張登桂、韋文解、阮知方、林維燮為輔政大臣。癸卯二十七日,紹治崩。己酉十月,嗣德奉詔攝政,時年十九;以戊申為嗣德元年,頒恩詔。
內政
其時阮朝日衰,大南多故;軍力漸弱,經濟停滯,內亂四起。
稅制
稅政大體因襲明命、紹治舊例。法西聯軍據南圻、並索四百萬賠款後,朝廷亟需新稅源,命侯厲鄭督課自廣平以北之鴉片貿易,歲入僅約302,200貫。又行前代「捐納」以售官:納1,000貫授九品,至10,000貫可至六品。
官僚
政體遵儒,士大夫多出傳統科舉教育,難以趕上世界科藝之進。且閉關自守,與外情隔絕,所見仍停留於工業化之前之舊世。然亦有識時務者,如乂安之阮長祚出洋歸來,多上書懇請改革,以免喪邦;然群臣強力反對,未果。史家常歸咎於當時上層官僚;但亦有忠烈之士,如尊室說、阮知方、黃耀等,捐軀報國。
兵制
咸亂頻仍,帝以武事為急。辛酉(1861)令諸省簡壯丁為武生;乙丑(1865)開武進士科。然戰事已變:西人用後裝槍與開花彈,我軍仍多刀槍舊火繩銃。一伍五十人,僅五人持鳥銃;平日少訓,歲僅一演,人人實彈六發,逾額自償;編制亦多員額不足,臨事難支。至法軍來攻,遂不敵。更以黑旗軍數百據山西,阮軍數萬久不能剿,反僱其禦法;黑旗所創法軍之損,反多於正規軍,足見兵力衰敝。
禁教
嗣德元年(1848)頒禁教詔:外國傳教士處死,國內教徒不從者黥面流徙;官吏禁庶民棄祀祖先,但毋濫害。四年(1851)再詔,尤嚴,數名外籍神父遇害。陳仲金評曰:國力不足以禦侮,反行殘酷,不許通商,且罪傳教者,法、西遂藉端興兵。[7] 1862年與法締約,阮廷被迫撤禁。1864年,因順化文紳暴力排教、圖害信徒,嗣德下諭撫定。
對外
德宗之政,概拒外國通商。庚戌(1850)美艦至峴港請互市,拒之。自乙卯(1855)至丁丑(1877),英艦屢至峴港、濕苧(平定)與廣安求市,皆不許。西、法請商,亦拒。後嘉定既失,外交日艱,始設「平準司」掌商務、「商帛院」理夷務,然無通商外交之才。
法軍侵越
1856年「加定那」艦入峴港,責越廷禁教;不獲答,遂炮擊海防後退。主教Pellerin逃返法,述教士受難,稱有變則教徒可助遠征。受皇后歐也妮影響,拿破崙三世決意用兵。戊午(1858)七月,里戈(Rigault de Genouilly)率法西十四艦、兵三千入峴港,攻安海、尊海。然霍亂、痢疾等疫虐軍,地勢與運輸不利,戰局膠着,遂轉攻嘉定。己未(1859)初,法西軍入塵橋(芹苴口)兩日下嘉定,護督武維寧自盡;復攻福寧,阮知方退守迺賢、蓮池。里戈病歸,由佩吉(Page)代。佩吉主和,只求傳教與通商自由,順化拒之。1862年法占邊和、永隆,迫阮廷命潘清簡、林維協議和;壬戌條約(1862.5.9)要點:許法西傳教、民得信教;割邊和、嘉定、定祥;許法艦通湄公河。
嗣德割南圻東三省,命潘清簡鎮守西三省。1867年拉格朗捷(La Grandière)襲永隆、安江、河僊,潘清簡見勢不可為,勸眾降以免塗炭,自經服毒,南圻盡失。癸酉(1873)杜普雷(Dupré)遣加尼耶(Francis Garnier)攻河內,一時陷城;阮知方被執,絕食死。二十日間失河內、南定、寧平、海陽。黑旗首領劉永福歸順,授提督,出戰;加尼耶死於紙橋。巴黎遂召杜普雷,遣費拉斯特(Philastre)議,還城與四省;甲戌條約(1874)中,順化承認南圻屬法,以換取舟械。1882年,勒米爾·德·維萊爾(Charles Le Myre de Vilers)上書責阮廷無能,遣里維埃(Henri Rivière)出河內;發最後通牒於總督黃耀,晨八時攻,十一時陷城,黃耀自縊。駐順化的萊納爾(Rheinart)迫其受保護並讓出河內。阮廷告急於清,清軍入北寧、山西。里維埃亦死於紙橋。嗣德崩後,嗣君年少(育德、協和相繼)。1883年8月20日,法軍攻順安,簽《癸未條約》,正式在中圻、北圻施行保護。
薨逝
帝幼患痘,無嗣,乃以宗子為養子。1869年收養膺愛,賜字膺真,居育德堂,命皇貴妃武氏緣撫育,「育德」為其居堂之名。是年七月帝疾,遺詔傳位於育德,并命陳踐成、阮文祥、尊室說為輔政。癸未六月十六日(1883年7月19日)崩,享年五十四。入祀世廟,廟號翼宗,諡英皇帝。陵曰謙陵,在承天府香水縣楊春上村。
謙陵碑亭有石碑重逾二十噸,為帝自為之文。本應子孫立碑稱德;帝無嗣,乃自撰。文中流露悔恨與自責,亦深思守國之道。






