Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Cổ Loa, tên chữ là Ngự Triều Di Quy, tọa lạc tại xóm Chùa, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đây là một trong những công trình kiến trúc tín ngưỡng tiêu biểu thuộc quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Cổ Loa, gắn bó mật thiết với lịch sử hình thành và phát triển của kinh đô Âu Lạc thời An Dương Vương.
Tên gọi “Ngự Triều Di Quy” xuất phát từ truyền thuyết dân gian, cho rằng ngôi đình được xây dựng trên nền cũ của khu vực thiết triều xưa của An Dương Vương. Theo quan niệm truyền thống, đây là nơi nhà vua từng bàn việc triều chính và điều hành đất nước Âu Lạc. Chính yếu tố huyền sử này đã tạo cho đình Cổ Loa một vị trí đặc biệt trong không gian văn hóa – lịch sử của vùng đất Cổ Loa.
Lịch sử và nhân vật
Theo các tài liệu lịch sử và truyền thuyết dân gian, đình Cổ Loa – tên chữ là Ngự Triều Di Quy – được xây dựng trên nền đất xưa, nơi An Dương Vương từng thiết triều, bàn định quốc sự khi Cổ Loa còn là kinh đô của nước Âu Lạc. Tên gọi “Ngự Triều Di Quy” mang ý nghĩa “nơi nhà vua thiết triều và trở về nguồn cội”, thể hiện sự gắn kết giữa quyền lực quốc gia với truyền thống tổ tiên và cội nguồn dân tộc.
Trong các thư tịch cổ, đình được nhắc đến như một công trình gắn liền với huyền thoại thành Cổ Loa – trung tâm chính trị, quân sự và văn hóa của nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương. Thành Cổ Loa được xây dựng với cấu trúc nhiều vòng thành xoáy trôn ốc độc đáo, dựa theo địa thế tự nhiên nhằm bảo vệ kinh đô trước các cuộc xâm lược từ bên ngoài. Trong không gian ấy, đình Ngự Triều Di Quy được xem là địa điểm mang ý nghĩa biểu tượng cho hoạt động triều chính của nhà nước Âu Lạc thời kỳ đầu dựng nước.
Trải qua nhiều biến động lịch sử, đình đã được trùng tu và tôn tạo qua nhiều thời kỳ, đặc biệt dưới các triều Lê và Nguyễn. Tuy vậy, công trình vẫn bảo tồn được những giá trị kiến trúc truyền thống đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đình có quy mô bề thế với mái cong mềm mại, hệ thống cột gỗ lim lớn vững chắc cùng các mảng chạm khắc tinh xảo mang phong cách nghệ thuật dân gian truyền thống. Các đề tài trang trí như rồng, mây, hoa lá, linh thú… được thể hiện sinh động, phản ánh trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao của nghệ nhân xưa.
Không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật, đình Cổ Loa còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng cư dân địa phương. Đây là nơi diễn ra các nghi lễ truyền thống, lễ hội tưởng niệm An Dương Vương và nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của vùng đất kinh đô cổ đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Cổ Loa (Ngự Triều Di Quy) nằm gần trung tâm khu thành Nội của di tích Cổ Loa, cách đền thờ An Dương Vương khoảng 300m về phía Đông và nằm ngay phía trước chùa Bảo Sơn. Đây là một trong những công trình kiến trúc tín ngưỡng quan trọng và có quy mô lớn trong quần thể di tích Cổ Loa. Đình được xây dựng theo bố cục mặt bằng hình chữ “Đinh” (kiểu chuôi vồ), gồm Đại đình 5 gian, 2 chái và hậu cung, thể hiện rõ đặc trưng kiến trúc đình làng truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Phía trước đình là Nghi môn được xây kiểu hai tầng, mái đắp giả ngói ống, kết nối với hệ thống ba cửa gồm một cửa chính và hai cửa phụ, liền với tường bao tạo thành không gian khép kín ở mặt trước. Từ nghi môn bước qua khoảng sân rộng lát gạch Bát Tràng sẽ đến tòa Đại đình. Bên trái sân là am Mỵ Châu, còn bên phải là nhà Tả vu được phục dựng trong giai đoạn 2004 – 2005.
Đình mang tên “Ngự Triều Di Quy” theo truyền thuyết cho rằng công trình được dựng trên nền cung điện thiết triều của vua An Dương Vương. Tên gọi này hàm ý nơi nhà vua thiết triều và trở về nguồn cội, gắn liền với ký ức lịch sử về kinh đô Âu Lạc xưa.
Tòa Đại đình có quy mô bề thế, chiều dài khoảng 30m, rộng gần 14m, kết cấu hoàn toàn bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài với các góc đao cong mềm mại. Bộ khung kiến trúc được làm theo kiểu “giá chiêng, chồng rường” gồm sáu hàng chân cột lớn. Các cột cái cao khoảng 5,5m, đường kính gần 0,5m; cột quân cao khoảng 4m, đường kính khoảng 0,38m. Sáu bộ vì chia không gian nội thất thành 5 gian và 2 chái rộng rãi. Để tạo được hai chái có khẩu độ lớn, nghệ nhân xưa đã sử dụng kỹ thuật “vì lửng”, tức bộ vì trốn cột theo lối kiến trúc cổ truyền.
Hệ mái đình được đua rộng nhờ hệ thống kẻ bẩy bằng gỗ lớn gác mộng giữa cột quân và cột hiên, tạo nên vẻ bề thế và vững chắc cho công trình. Dưới quá giang gian giữa hiện còn dòng chữ “Thành Thái tam niên”, ghi dấu đợt trùng tu lớn vào năm 1903. Trong lần tu bổ năm 2001, di tích tiếp tục được phục hồi hệ thống sàn và cửa bức bàn bằng gỗ lim.
Nghệ thuật chạm khắc trên kiến trúc đình tuy không dày đặc nhưng đạt giá trị thẩm mỹ cao, tập trung chủ yếu ở các đầu dư, con rường, kẻ hiên và ván nong. Mười hai đầu dư tại các cột cái đều được chạm hình đầu rồng với đôi mắt lớn nổi khối, miệng há rộng, răng nanh rõ nét, mang phồng và tai lớn. Từ mắt và mang rồng tỏa ra các dải đao mác mềm mại, tạo cảm giác sinh động và mạnh mẽ. Nghệ nhân đã kết hợp kỹ thuật chạm chìm, chạm bong kênh và chạm lộng rất tinh tế, làm nổi bật hình tượng rồng trong không gian kiến trúc.
Đặc biệt, tại hai bộ vì gian ngoài, các đầu dư được chạm mặt rồng ngoảnh vào phía trung tâm đình thay vì hướng ra phía trước như thông lệ, tạo nên dáng vẻ độc đáo và sinh động. Đây được xem là dấu ấn nghệ thuật mang phong cách từ thế kỷ XVI.
Ngoài hình tượng rồng, các mảng chạm khác còn thể hiện những đề tài trang trí truyền thống như “Phượng hàm thư”, “Lân hí cầu”, “Rồng – Lân – Phượng” kết hợp hoa lá cách điệu. Tất cả được thể hiện bằng đường nét mềm mại, thanh thoát, góp phần làm giảm cảm giác nặng nề của hệ khung gỗ lớn, đồng thời phản ánh trình độ kỹ thuật và mỹ thuật điêu luyện của các nghệ nhân dân gian xưa.
Trong không gian hậu cung của đình Cổ Loa, tại hai vì nách còn lưu giữ những mảng chạm khắc đồ án rồng đặc sắc, phản ánh rõ phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII. Các chi tiết tạo hình, bố cục trang trí và kỹ thuật chạm bong kênh mang nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật điêu khắc gỗ nổi tiếng của hệ thống đình Tam Canh gồm đình Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, cũng như đình Thổ Tang thuộc tỉnh Phú Thọ. Những hình tượng rồng với thân dài uốn lượn mềm mại, vảy mây cách điệu, đầu rồng thanh thoát nhưng uy nghi đã tạo nên vẻ sinh động và giá trị nghệ thuật cao cho không gian thờ tự.
Một trong những tác phẩm chạm khắc tiêu biểu của đình là chiếc cửa võng sơn son thếp vàng được chế tác công phu với các đề tài truyền thống như “Tứ linh” gồm Long, Ly, Quy, Phượng và “Tứ quý” gồm Thông, Trúc, Cúc, Mai. Các mảng chạm kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật chạm nổi, chạm lộng và nghệ thuật sơn son thếp vàng, tạo nên vẻ đẹp trang nghiêm nhưng vẫn tinh tế, mềm mại. Trên một ô hộc nhỏ phía trên cửa võng còn ghi dòng chữ “Thành Thái Quý Mão Xuân” cho biết hiện vật được tạo tác trong đợt đại tu đình vào năm 1903 dưới triều vua Thành Thái. Đây được xem là một bộ phận kiến trúc nội thất có giá trị nghệ thuật đặc biệt của đình Cổ Loa.
Trong tòa đại đình hiện còn lưu giữ hai đôi câu đối chữ Hán mang nội dung ca ngợi công đức của An Dương Vương và đề cao tư tưởng nhân nghĩa, thái bình. Đôi câu đối đặt cạnh cửa võng có nội dung: “Nam thiên cựu lạc vi chư nhất phương vĩnh cửu lưu cầu phúc; Thế giới đại đồng an kỳ nghiệp vinh hanh lợi đồng nhân”, thể hiện ước vọng về cuộc sống thái bình, phồn vinh và hạnh phúc lâu dài cho nhân dân. Đôi câu đối còn lại viết: “Nhất vương phong trạch do tồn trung nghĩa dân tâm văn hữu quốc; Thiên lý uy danh tự tại túc ung miếu mạo nghiễm trung thiên”, nhằm khẳng định công lao, uy danh và sự tôn kính của nhân dân đối với vị vua sáng lập nước Âu Lạc.
Hậu cung đình có quy mô khoảng 9,5m x 8,5m, kết cấu vì nóc theo kiểu chồng rường đơn giản, phản ánh đặc trưng kiến trúc truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ. Các cột cái có đường kính khoảng 0,5m, cột con khoảng 0,45m; trên các con rường được chạm bong kênh hình rồng với đường nét tinh xảo. Mặc dù sử dụng hệ khung gỗ truyền thống làm kết cấu chịu lực chính, hậu cung vẫn được xây tường gạch bao kín ba mặt nhằm tăng thêm sự bền vững, tạo cảm giác thâm nghiêm cho không gian thờ tự; phía trước để lại hai lối đi thông với đại đình.
Chính giữa hậu cung đặt một khám thờ lớn, bên trên có ngai thờ An Dương Vương trong trang phục Hoàng bào, phía dưới là bài vị thờ tướng Cao Lỗ – vị tướng có công chế tạo “Nỏ thần” bảo vệ nước Âu Lạc. Phía trên khám thờ có bốn chữ “Ngự triều di quy”, mang ý nghĩa đây là nơi An Dương Vương từng thiết triều bàn việc nước, vì vậy đình còn được nhân dân gọi là đình Ngự Triều Di Quy. Theo lời truyền của các bậc cao niên địa phương, ngôi đình hiện nay được mua từ khu vực Việt Trì, vận chuyển theo dòng sông Hồng về Cổ Loa và dựng lại vào năm 1892. Những yếu tố lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật còn bảo tồn tại đình đã góp phần khẳng định giá trị tiêu biểu của di tích trong quần thể di sản Cổ Loa.
Tài liệu tham khảo
- Vũ Văn Quân, Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long, tập 10, Nxb Hà Nội.