Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Ngọc Canh, xưa thuộc làng Ngọc Canh, huyện An Lãng, phủ Tam Đái, trấn Sơn Tây (xứ Đoài), dưới triều Nguyễn là tổng Hương Canh, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Làng Ngọc Canh cũng là một trong ba làng Cánh.
Đình Ngọc Canh, cùng với đình Hương Canh và Tiên Canh, tạo thành cụm di tích đình Tam Canh, một tổ hợp kiến trúc gỗ cổ dân gian hiếm thấy của xứ Đoài và vùng đồng bằng – trung du Bắc Bộ, mang giá trị mỹ thuật và lịch sử độc đáo.
Lịch sử và nhân vật
Đình Ngọc Canh là nơi thờ cúng sáu vị thành hoàng, những nhân thần triều đại nhà Ngô, được gọi chung là Lục vị thành hoàng. Trong số này, Ngô Xương Ngập, con trai cả của Ngô Quyền, được phong Thiên Sách Hoàng Đế, và con thứ Ngô Xương Văn được phong Quốc Vương Thiên Tử. Đỗ Cảnh Thạc, một tướng lĩnh của Ngô Quyền, cũng được tôn thờ tại đây. Ngoài ra, còn có ba nhân vật khác được phối thờ là Linh Quang Thái Hậu, Khả Lã Nương Nương, và Thị Tùng Phu Nhân.
Đình Ngọc Canh được làm theo hướng Tây Nam trên khu đất bằng phẳng rộng rãi ở ngay đầu làng và chỉ cách đình các đình Hương Canh 200 mét ở phía trước.
Theo những niên biểu còn ghi lại trong đình và nghệ thuật kiến trúc điêu khắc cùng với những câu chuyện còn lưu lại ở nơi đây thì có thể xác định rằng đình Ngọc Canh được xây dựng thời Hậu Lê, triều vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) trên nền ngôi đình cũ và sau đó được tôn tạo khang trang vào đầu thời Nguyễn.
Trải qua bao nắng mưa thời gian, đình Ngọc Canh đã cùng với các thế hệ dân làng trải qua biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử. Tại chính giữa đình, có treo bảng khen “Trung Nghĩa Dân” do vua Lê Hiển Tông đã ban vì làng đã có công giúp triều đình chống giặc cỏ trong vùng.
Năm 1949, thực dân Pháp tấn công lên các tỉnh trung du phía Bắc, đình Ngọc Canh được được lệnh đốt cháy để tiêu thổ kháng chiến. Khi củi rơm chất đầy trong đình thì người làng đã quyết giữ lại trước khi đi tản cư, vì thế ngôi đình còn đến hôm nay.
Năm 2009 đình Ngọc Canh được nhà nước tiến hành trùng tu với quy mô lớn, các khu vực dân cư xung quanh được giải bàn giao trả lại không gian xưa của ngôi đình, khuôn viên ngôi đình được mở rộng, cũng vì thế các hoạt động văn hóa ở bên trong và ngoài sân đình diễn ra rất sôi nổi. Các hội văn nghệ, hội người cao tuổi yêu thơ, đội bóng chuyền hơi của thị trấn .. được tổ chức định kỳ hàng tuần tại đây. Ngôi đình không chỉ là một di tích lịch sử mà cũng trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa chung của cả người dân mọi lứa tuổi trong cuộc sống hôm nay.
Kiến trúc cảnh quan
Đình được kiến trúc kiểu chữ Vương(王) bao gồm ba toàn Tiền tế – Trung tế – Hậu cung được nối liền với nhau bằng một ống muống dọc thành một khối đồ sộ và vững chãi, tất cả có 15 gian 4 chái, với diện tích mặt sàn hơn 600m2.
Tiền tế gồm 5 gian hai chái, dài 20m25 rộng 7m10 trên câu đầu khắc ghi niên đại xây dựng Kỷ Sửu 1769.
Trung tế gồm 5 gian hai trái, hai dĩ dài 24m rộng 13m37 có khắc ghi niên đại đặt thượng lương năm Gia Long thứ 12 (1813) và hoàn thành sơn son thếp vàng năm Minh Mạng thứ nhất (1820).
Quan sát từ tổng thể đến chi tiết, ngoài vào trong có thể thấy đình Ngọc Canh là một công trình hoàn chỉnh vừa đồ sộ lại vừa thanh thoát. Nổi bật là bộ khung đình bằng gỗ lim với các hàng 6 chân cột ở mỗi gian. Cột cái ở đại đình có đường kính lên tới 2m40 vào cao gần 6m .Toàn bộ khung đình tất cả 96 cột gỗ được kết hợp với nhau chặt chẽ với mộng xà để đỡ cả bộ mái đình khổng lồ cùng các các bờ nóc, đầu đao được đắp trổ tỉ mỉ công phu.
Nghệ thuật chạm khắc gỗ ở đình Ngọc Canh còn lại đến ngày nay là sự pha trộn kết hợp của hai thời kỳ Lê Nguyễn. Những mảng chạm mang tính ước lệ và quy chuẩn ở đời Nguyễn được kết hợp đan xen với nét tự do của điêu khắc đời Lê sau các lần trùng tu một cách hài hòa.
Các mảng chạm ở đình Ngọc Canh thiên về tả cảnh lao động, những thú vui hàng ngày trong nông thôn. Các bức cốn đã thể hiện thực tế cuộc sống của nhân dân ta nửa cuối thế kỷ 17, như các bức chạm: “Hội làng”, “Dựng cột buồm”, “Uống rượu”, “Đánh cờ”, “Hát cửa nhà quan”……. Với lối bố cục chặt chẽ, hài hoà, đường nét phóng khoáng tự do, chú ý khắc hoạ từng chi tiết thể hiện rõ tình cảm, cá tính của từng nhân vật trong bức chạm để rồi có một tác phẩm hoàn hảo, mang nội dung tư tưởng sâu sắc, thể hiện cao độ đề tài định trước. Tất cả những điều đó đã chứng tỏ nghệ thuật kiến trúc của đình Ngọc Canh đã đạt tới đỉnh cao nghệ thuật kiến trúc cổ truyền.
Theo biên bản khảo lược di tích đình Ngọc Canh (1983) và những bức ảnh do nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Kự chụp năm 1997, nghệ thuật điêu khắc đình Ngọc Canh được thể hiện qua các bức cốn với những chủ đề và hình ảnh tinh xảo. Một bức cốn nằm giữa hai hàng cột lớn và nhỏ bên phải gian chính giữa tiền tế, chạm khắc hình thỏ và lân xen kẽ với hoa lá, mây bay và sóng nước, tạo nên một bố cục chặt chẽ và sinh động. Một bức khác đối diện, chạm hình phượng ngậm hoa sen đang bay và rùa bò, cùng các chi tiết long mã ngậm ngọc và đầu kìm ngậm chữ “THỌ”, với phong cách tinh tế và uyển chuyển.
Một bức cốn khác nằm giữa hai hàng cột cái và con phía trong bên phải gian chính giữa, chạm khắc tứ linh với hình ảnh nổi bật của “rồng cuốn thủy”, phượng miệng cắp túi thơ, rùa núp dưới khóm sen và lân nhìn rồng, tạo nên một cảnh tượng hùng vĩ và sống động. Đối diện với bức này là bức chạm cảnh “mẫu long huấn tử hành vân”, với rồng mẹ dạy rồng con bay trên mây, biểu tượng cho sự truyền thụ và bảo vệ.
Các bức cốn khác tại đình Ngọc Canh mang đậm màu sắc nghệ thuật thời Nguyễn, với cảnh làng quê sơn thủy hữu tình, cây tùng trước gió, hoa mai và chim hót, kết hợp hài hòa giữa phong cách nghệ thuật thời Lê và Nguyễn. Đặc biệt, các bức chạm khắc hình ảnh sinh hoạt của người dân thế kỷ 18 như đánh vật, múa lân, đi săn, đều được thể hiện một cách sống động và tinh tế, phản ánh cuộc sống lao động và vui chơi giải trí của nhân dân ta thời kỳ đó.
Những bức chạm khắc này không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là những tài liệu quý giá, ghi lại những hoạt động và phong tục của người dân thời Hậu Lê. Từ những hình ảnh của lễ hội, cảnh quan làng quê, đến các linh vật như rồng, lân, phượng, những tác phẩm này đều toát lên vẻ đẹp và giá trị văn hóa sâu sắc, minh chứng cho kỹ thuật điêu khắc điêu luyện và sáng tạo của các nghệ nhân xưa.
Lễ hội
Theo tục lệ xưa, ngoài các ngày sóc vọng hàng tháng dành cho việc thắp hương thờ phụng, người dân Hương Canh còn tổ chức ba ngày lễ trọng hàng năm: đại lễ vào ngày 15 tháng Hai, lễ Thượng điền vào ngày 15 tháng Bảy và lễ Hạ điền vào ngày 15 tháng Mười, được gọi chung là tiệc làng. Trong những năm được mùa hoặc có sự kiện quan trọng, tiệc làng có thể kéo dài đến ba ngày, với mỗi gia đình chuẩn bị cỗ trước để cúng tiên tổ và đình miếu, sau đó mời bạn bè đến chung vui.
Nghi lễ tế lễ ở ba đình tại đây giống như ở các nơi khác, nhưng lễ vật phải tuân theo các “hèm” riêng. Ngoài thủ lợn và mâm xôi trắng không đỗ, còn có một con lợn thui chín. Con lợn này không cần quá lớn, chỉ nặng khoảng 30kg, tốt nhất là lợn đen tuyền thả rông. Trước khi dâng tế đình, lợn được chọc tiết tại miếu Hạ, sau đó làm sạch và nướng quay chín vàng tại miếu Thượng. Con lợn sau đó được đặt vào mâm đồng và rước vào đình để tế lễ.
Cỗ tiệc ở đình chủ yếu mang tính nghi thức và rất giản đơn. Mỗi người dự tiệc, bao gồm quan viên, chức sắc và khách mời, chỉ nhận một nắm xôi to, vài miếng thịt thái mỏng chấm muối, cùng vài đĩa rau, củ quả và đôi bát canh loãng, kiêng hành tỏi. Các vị trưởng lão, chức sắc và khách mời ngồi ở chiếu trên, trong khi trai đinh trẻ tuổi ngồi ăn cùng nhau ở các nhà tả, hữu vu, nhà giải vũ phía ngoài.
Đặc biệt, không ai phục vụ ai, chỉ có mõ làng phục vụ các mâm trên. Tiệc đình làng không có phụ nữ, các cụ bà giao lưu tại Chùa Cả. Dù cỗ bàn đạm bạc, tiệc đình vẫn rất trang trọng và vui vẻ, với rượu được cung cấp dồi dào từ các quan khách. Nhiều gia đình cũng làm cỗ tiệc làng và mang đến cúng đình, sau đó để lại rượu tại đình.
Nửa thủ lợn, mâm xôi và con lợn thui trên bàn thờ được chủ tế giao cho mõ làng chia đều và biếu đến tận nhà các vị chức sắc, trưởng lão, kể cả những người vắng mặt. Đây là nhiệm vụ quan trọng, nếu thiếu phần của vị nào đó sẽ dẫn đến mâu thuẫn. Vai trò của mõ làng rất quan trọng, phải mẫn cán để được lòng tất cả, nếu không sẽ bị cách chức.
Tiệc làng vào dịp Thượng điền, Hạ điền thường là tiệc chay, với lễ vật là xôi chè hoặc bánh dày chè kho. Xôi trắng và chè con ong nấu từ xôi nếp với mật ngọt, bánh dày giã từ xôi cứng và không có nhân, chè kho nấu từ đỗ đãi và mật, đổ khuôn thành từng miếng mỏng, dễ bảo quản. Quan viên dự tiệc chay cũng được mõ làng kính biếu phần lộc thánh đến tận nhà, mặc dù có thể đến chậm vài ngày do “lộc chay” dễ bảo quản hơn “lộc mặn”.
Xếp hạng
Căn cứ vào nghệ thuật kiến trúc và mỹ thuật của ngôi đình. Ngày 15/1984 theo quyết định 6-VH/QĐ của bộ Văn Hóa đình Ngọc Canh đã được công nhận và xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Tham khảo
- Trần Ngọc Đông, “Giới thiệu đình Ngọc Canh”, Trang thông tin lịch sử – văn hóa – con người Hương Canh xưa & nay, ngày 16/11/2015. https://huongcanh.wordpress.com/2015/11/16/gioi-thieu-dinh-ngoc-canh/
- ST, “Nghệ thuật điêu khắc đình Ngọc Canh”, Trang thông tin đài truyền hình & phát thanh tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 06/10/2016. http://vinhphuctv.vn/Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B/Tin-t%E1%BB%A9c-chung/ID/225732/Nghe-thuat-ieu-khac-inh-Ngoc-Canh
- ST, “Lễ vật tế đình và tiệc làng ở Hương Canh”, Trang thông tin đài truyền hình & phát thanh tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 28/09/2016. http://vinhphuctv.vn/Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B/Tin-t%E1%BB%A9c-chung/ID/225088/Le-vat-te-inh-va-tiec-lang-o-Huong-Canh