Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Tiên Hường, xưa kia tên là Đình Tiên Canh, thuộc làng Tiên Hường – tên cũ là Tiên Canh thuộc tổng Hương Canh, huyện An Lãng tỉnh Sơn Tây là một trong ba làng Kẻ Cánh, nay thuộc thị trấn Hương Canh – huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc.
Lịch sử và nhân vật
Làng Tiên Hường tên cũ là Tiên Canh thuộc tổng Hương Canh, huyện An Lãng tỉnh Sơn Tây là một trong ba làng Kẻ Cánh . Trong ba làng Cánh xưa kia thân tình thắm thiết như ba anh em. Người Hương Canh được gọi là dân anh, Ngọc Canh là thứ hai và Tiên Canh khiêm tốn nhận là dân em. Có lẽ quy định về ngôi thứ như vậy xuất phát từ lịch sử thành lập của ba làng và một điều trùng lặp là lịch sử xây dựng của những ngôi đình ba làng cũng theo thứ tự về thời gian như thế. Đình Hương Canh (khoảng 1705 -1720) có trước rồi đến đình Ngọc Canh (1769) và cuối cùng là đình Tiên Canh (1776)
Đình Tiên Hường, xưa kia tên là Đình Tiên Canh, được xây dựng xây năm 1776 dưới triều Lê Cảnh Hưng, riêng gian đại bái được hoàn thiện năm Cảnh Thịnh thứ 7 dưới thời Tây Sơn (1799).
Đình Ngọc Canh là nơi thờ cúng sáu vị thành hoàng, những nhân thần triều đại nhà Ngô, được gọi chung là Lục vị thành hoàng. Trong số này, Ngô Xương Ngập, con trai cả của Ngô Quyền, được phong Thiên Sách Hoàng Đế, và con thứ Ngô Xương Văn được phong Quốc Vương Thiên Tử. Đỗ Cảnh Thạc, một tướng lĩnh của Ngô Quyền, cũng được tôn thờ tại đây. Ngoài ra, còn có ba nhân vật khác được phối thờ là Linh Quang Thái Hậu, Khả Lã Nương Nương, và Thị Tùng Phu Nhân.
Kiến trúc cảnh quan
Đình có mặt bằng kiến trúc bao gồm các hạng mục công trình: Nghi môn, Sân đình và Đại đình.
Sân đình
Sân đình Tiên Canh rất rộng, nằm tại phía trước đình, được lát bằng gạch đỏ. Sân không tổ chức một trục đường (thường cao hơn mặt sân) nối từ Nghi môn tới Tiền đường).
Đại đình
Đại đình đình Tiên Canh nằm trên một bệ nền cao 3 bậc so với mặt sân, có mặt bằng tương tự như đình Ngọc Canh, gồm 3 tòa đặt song song với nhau:
Tiền đường, Trung đường và Hậu đường. 3 tòa được nối với nhau bằng một tòa đặt dọc, còn gọi là Ống muống. Tiền đường 5 gian, 2 dĩ, dài 23m, rộng 10m, 4 mái. Tại chính phía trước, gian giữa nhô lên một khối mái kiểu chồng diêm, 4 mái. Công trình có tường bao quanh các phía, chỉ có gian giữa mở cửa. Tòa Tiền đường là nơi tiếp đón, chuẩn bị nghi lễ. Trung đường 5 gian, 2 chái dài 29,7m, rộng 14m. Tòa Trung đường là nơi hội họp của dân làng Ngọc Canh. Ban thờ tại Trung đường cũng đặt trên một tầng lửng (như gác xép) với thang nhỏ leo lên (tương tự như đình Hương Canh). Tòa Trung đường hiện tại không có sàn gỗ như các ngôi đình truyền thống khác. Có thể sàn gỗ xưa hư hỏng và bị dỡ bỏ. Hậu đường 5 gian, 2 dĩ, dài 16m, rộng 7m. Bên trong Hậu đường là các ban thờ đặt bài vị của 6 vị thành hoàng làng. Hậu cung không có bức chạm nào mà toàn bộ đều bào trơn, đục nhẵn đơn giản, chỉ có ở đầu bẩy chạm hoa lá, sóng nước.
Nghệ thuật điêu khắc đình Tiên Canh thể hiện qua các bức cốn với những chi tiết tinh xảo và sống động, mỗi bức mang một chủ đề và phong cách riêng biệt. Bức cốn đầu tiên ở gian chính giữa tiền tế chạm “long cuốn thủy”, với đầu rồng mẹ hút nước và cá chép ngoi lên, tạo nên một cảnh tượng mạnh mẽ và sinh động. Đối diện, một bức cốn khác chạm nghê và tứ linh, với hình ảnh rồng, phượng, rùa, và lan, cùng các chi tiết hoa văn mềm mại và tỉ mỉ. Một bức cốn khác nằm giữa hai hàng cột con chạm một con vật và rồng, với đầu rồng ngậm ngọc và bờm tóc dựng đứng, tạo nên một cảnh tượng uy nghiêm. Bức cốn khác chạm hình người, voi và ngựa, mô tả các hoạt động hàng ngày với chi tiết tinh tế. Một bức cốn khác chạm hình khóm sen và “long cuốn thủy”, thể hiện nghệ thuật chạm trổ tinh vi và trau chuốt. Các bức cốn khác như chạm rồng ba tầng, phượng bay cõng chữ “THỌ”, và cảnh bơi chải trong ngày hội làng đều thể hiện sự khéo léo và tài hoa của các nghệ nhân. Những bức chạm rồng, nghê, và phượng đều mang đến hình ảnh mạnh mẽ và uy nghi, trong khi các bức chạm cảnh sinh hoạt hàng ngày thể hiện cuộc sống sôi động và phong phú.
Nghệ thuật điêu khắc đình Tiên Canh không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật mà còn là những tài liệu quý giá, ghi lại các hoạt động và phong tục của người dân qua các thế kỷ. Những bức cốn tại đình Tiên Canh minh chứng cho kỹ thuật điêu khắc điêu luyện và sáng tạo của nghệ nhân xưa, phản ánh sự đa dạng và phong phú của văn hóa dân gian Việt Nam.
Hiện vật
Đình Tiên Canh còn lưu giữ được nhiều di vật cổ có giá trị như: sắc phong (từ thời Hậu Lê đến cuối thời Nguyễn), đại tự, án thư, lư hương, hoành phi, sắc phong, kiệu thờ, cửa võng…
Lễ Hội
Theo tục lệ xưa, ngoài các ngày sóc vọng hàng tháng dành cho việc thắp hương thờ phụng, người dân Hương Canh còn tổ chức ba ngày lễ trọng hàng năm: đại lễ vào ngày 15 tháng Hai, lễ Thượng điền vào ngày 15 tháng Bảy và lễ Hạ điền vào ngày 15 tháng Mười, được gọi chung là tiệc làng. Trong những năm được mùa hoặc có sự kiện quan trọng, tiệc làng có thể kéo dài đến ba ngày, với mỗi gia đình chuẩn bị cỗ trước để cúng tiên tổ và đình miếu, sau đó mời bạn bè đến chung vui.
Nghi lễ tế lễ ở ba đình tại đây giống như ở các nơi khác, nhưng lễ vật phải tuân theo các “hèm” riêng. Ngoài thủ lợn và mâm xôi trắng không đỗ, còn có một con lợn thui chín. Con lợn này không cần quá lớn, chỉ nặng khoảng 30kg, tốt nhất là lợn đen tuyền thả rông. Trước khi dâng tế đình, lợn được chọc tiết tại miếu Hạ, sau đó làm sạch và nướng quay chín vàng tại miếu Thượng. Con lợn sau đó được đặt vào mâm đồng và rước vào đình để tế lễ.
Cỗ tiệc ở đình chủ yếu mang tính nghi thức và rất giản đơn. Mỗi người dự tiệc, bao gồm quan viên, chức sắc và khách mời, chỉ nhận một nắm xôi to, vài miếng thịt thái mỏng chấm muối, cùng vài đĩa rau, củ quả và đôi bát canh loãng, kiêng hành tỏi. Các vị trưởng lão, chức sắc và khách mời ngồi ở chiếu trên, trong khi trai đinh trẻ tuổi ngồi ăn cùng nhau ở các nhà tả, hữu vu, nhà giải vũ phía ngoài.
Đặc biệt, không ai phục vụ ai, chỉ có mõ làng phục vụ các mâm trên. Tiệc đình làng không có phụ nữ, các cụ bà giao lưu tại Chùa Cả. Dù cỗ bàn đạm bạc, tiệc đình vẫn rất trang trọng và vui vẻ, với rượu được cung cấp dồi dào từ các quan khách. Nhiều gia đình cũng làm cỗ tiệc làng và mang đến cúng đình, sau đó để lại rượu tại đình.
Nửa thủ lợn, mâm xôi và con lợn thui trên bàn thờ được chủ tế giao cho mõ làng chia đều và biếu đến tận nhà các vị chức sắc, trưởng lão, kể cả những người vắng mặt. Đây là nhiệm vụ quan trọng, nếu thiếu phần của vị nào đó sẽ dẫn đến mâu thuẫn. Vai trò của mõ làng rất quan trọng, phải mẫn cán để được lòng tất cả, nếu không sẽ bị cách chức.
Tiệc làng vào dịp Thượng điền, Hạ điền thường là tiệc chay, với lễ vật là xôi chè hoặc bánh dày chè kho. Xôi trắng và chè con ong nấu từ xôi nếp với mật ngọt, bánh dày giã từ xôi cứng và không có nhân, chè kho nấu từ đỗ đãi và mật, đổ khuôn thành từng miếng mỏng, dễ bảo quản. Quan viên dự tiệc chay cũng được mõ làng kính biếu phần lộc thánh đến tận nhà, mặc dù có thể đến chậm vài ngày do “lộc chay” dễ bảo quản hơn “lộc mặn”.
Xếp hạng
Căn cứ vào nghệ thuật kiến trúc và mỹ thuật của ngôi đình. Ngày 15/1984 theo quyết định 6-VH/QĐ của bộ Văn Hóa đình Tiên Canh đã được công nhận và xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Tham khảo
- ST, “Nghệ thuật điêu khắc đình Ngọc Canh”, Trang thông tin đài truyền hình & phát thanh tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 06/10/2016. http://vinhphuctv.vn/Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B/Tin-t%E1%BB%A9c-chung/ID/225732/Nghe-thuat-ieu-khac-inh-Ngoc-Canh
- ST, “Lễ vật tế đình và tiệc làng ở Hương Canh”, Trang thông tin đài truyền hình & phát thanh tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 28/09/2016. http://vinhphuctv.vn/Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B/Tin-t%E1%BB%A9c-chung/ID/225088/Le-vat-te-inh-va-tiec-lang-o-Huong-Canh