Cao Sơn Đại Vương

Cao Sơn Đại Vương

Thông tin cơ bản

Xưa, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ con gái của Đế Lai, đầy năm sinh ra một bọc, qua sáu bảy tháng bào nở ra 100 quả trứng, mỗi trứng sinh một con trai, đem về nhà nuôi dưỡng, chẳng cần bú mớm đứa nào đứa nấy đều đẹp đẽ kỳ dị. Đến khi trưởng thành, thông minh uy lực, trí dũng song toàn, mọi người ai cũng kính phục gọi họ là những người phi thường. Nhưng giống rồng, cốt tiên, thủy hỏa tương khắc, không thể sống cùng nhau lâu được. Thế rồi, 50 người con trai theo cha về biển, 50 người con trai theo mẹ về núi. Sau khi trở về núi bèn suy tôn người con trưởng làm Hùng Vương, các con khác đều làm bá chủ một phương, cai quản dân chúng. Cha con Hùng Vương nối đời truyền ngôi cho nhau, lập kinh đô ở đất Phong Châu (nay là xã Bạch Hạc-NC). Vương tử gọi là Quan Lang, lấy hiệu là Văn Lang (trích từ Lĩnh Nam, Sử ký-NC).

Vương là cháu 7 đời của Thần Nông, là một trong 50 người con trai về núi [76] và là em trai của Tản Viên Sơn vương. Núi Tản Viên ấy có ba ngọn, la liệt thành hàng. Núi bên phải do Quý Minh Đại vương cai quản. Núi ở giữa do Tản Viên cai quản. Núi bên trái do Nhất Sơn đại vương cai quản. Nối đời các vương hiệu là Cao Lang. Cho nên sau lấy Cao làm họ (trích từ Giao Châu truyện-NC). Đến năm thứ hai Ất Mão đời Lê Thiệu Bình, vua lấy Tiền phó trung thừa Nguyễn Thiên Hựu làm Thanh Hoa lộ phủ sứ.

Hựu ban đầu đến đây chọn ngày trai giới cầu đảo các thần linh sông núi xứ này, đến ngày thứ 3, Hựu thấy có một người dáng vẻ tuấn tú, kỳ vĩ, có hơn trăm người theo hầu. Họ đi thẳng lên gian giữa, Hựu lấy lễ đề tiếp đón. Chưa kịp hỏi duyên cớ, người đó đã nói:

– Mỗ vốn là phái chính họ Hồng Bàng, là tông thứ họ Bách Việt. Bên trái là Tản Viên đều là họ hàng của chúa mỗ, hiệu là Cao Lang. Các thần núi rừng đều do mỗ thống lãnh. Một đạo Phụng Hóa [8a] (nay đổi là Thanh Hoa-NC) đều là đất danh lam thắng tích nơi mỗ trú chân. Nay thấy ngài mới tới lòng thành theo khuôn phép nên tới đây gặp mặt, đa tạ tình cảm đó, chớ vì âm dương cách biệt mà phụ tấm lòng của mỗ. Hựu bỗng nhiên tỉnh giấc, cho rằng nơi đây sông núi kỳ vĩ đẹp đẽ, hoa cỏ thơm hương, ắt có thần linh trú ngụ. Quả đúng như vậy. Ông bèn làm một ngôi đền mái gianh, sớm tối phụng thờ, nhớ đến những điều gặp thấy trong giấc mộng bèn sức cho các chư quân cùng đội mũ gọi là “Cao Sơn cân” (Khăn mũ của Cao Sơn). Hễ có việc công gì thì đều đội mũ đó. Sau có giặc cướp tới xâm lấn, quân sĩ đội mũ đó ra trận, không đánh mà cũng thành công. Hựu cho rằng đó là do đức của quỷ thần lớn lao bèn dựng biển đá trên khắc 4 chữ Cao Sơn Đại vương, đặt lên trên bàn để ở trong đền để bốn mùa thờ phụng. Dân gian có việc tai ương, lũ lụt, hạn hán tới cầu đảo được linh ứng.

Vào khoảng những năm niên hiệu Đoan Khánh (1505 1509) [86] thời Lê Mục Đế việc triều chính không nghiêm, Thái A bị lật đổ, kẻ ngoại thích chuyên quyền (tức Khương Trọng Bá Thắng-NC), lộng hành giết người, trong thì họ hàng thân tộc oán thán, ngoài thì sĩ tốt dân chúng oán thán xa rời.

Bấy giờ có người Tông thất là Giản Tu Công tên là Oanh (sau giết vua Đoan Khánh, lên ngôi hoàng đế-NC) bị bắt vào ngục song thoát được ra ngoài chạy vào đất Thanh Hoa, các kẻ sĩ có lòng trung nghĩa đều tới quy phục, có ngày tới vài ngàn người. Mọi người đều tôn ông làm minh chủ. Quân của ông trấn giữ cửa biển Thần Phù, thu nạp hào kiệt, chấn chỉnh kỷ cương, lệnh cho các thân thuộc có công lao cùng các tướng lĩnh chia đường tiến đánh.

Lúc đó, bọn Trấn Quốc đại tướng quân Nguyễn Văn Lữ phụng mệnh đi đánh dẹp. Khi quân đến huyện Phụng Hóa, trong huyện núi rừng trùng điệp, rộng khắp bốn phía. Có đầm gọi là đầm Lâm rộng khoảng 1 mẫu, nước lặng, sâu thăm thăm không biết tới đâu, cây cối rậm rạp, phía trên có một ngôi đền lợp có gianh. Trong đền có một biển đá đề như xưa. Bọn Văn Lữ nhìn thấy vô cùng kinh ngạc, khấn cầu rằng:

Đoan Khánh tàn ngược, dân không thể sống, mệnh trời [9a] đều quy về người có đức. Nay thánh thượng là cháu của Thánh Tông, con của Kiến Hoàng, nhớ đến công lao khó nhọc khai sáng của tổ tông, xót thương sự khổ cực điêu linh của dân chúng. Vì xã tắc tính kế khôi phục, diệt trừ bọn tàn bạo. Thần có linh thiêng xin âm phù trợ giúp để thành đại nghiệp. Việc thành công sau sẽ xin triều đình tôn hiền để làm rõ ơn thần.

Khấn xong, đoàn quân nghiêm trang tiến lên. Bốn phương thần dân chẳng hẹn mà gặp, bầu nước giỏ cơm nghênh đón đoàn quân của vua. Mới đi một dặm thì gặp giặc. Bọn tướng Văn Lữ liền xông ra đánh nhau, bỗng sấm sét kéo đến ầm ầm, cát đá bay mù mịt, bọn giặc bỏ chạy tán loạn, chết nhiều không kể xiết. Tiếp đó trời đổ mưa lớn, nước lênh láng, quân của vua Mục Đế thấy đánh không có lợi bèn theo gió chạy về phương Bắc. Đi đến phường Nhật Chiêu2 huyện Quảng Đức (nay là huyện Vĩnh Thuận-NC) thì bị bắt, nộp lên vua.

Trước lúc bọn Văn Lữ khởi hành, vua cũng thân chinh mang quân tiến phát, đến núi Thiên Kiện nghi lại. Đến đêm vua nằm mơ thấy có một người vạm vỡ [9b], dáng vẻ hiên ngang, đầu đội mũ phốc đầu có đính vàng, mình mặc áo bào màu hồng sẫm, tay mang búa lớn Khai sơn, chân đi giày da voi Ô Tích1, thắt dây lưng giát vàng. Phía trước có lính mặc quần áo ngắn màu xanh bích, theo sau là lính mặc áo ngắn màu xanh, chia làm hai bên tả, hữu đứng chờ. Ai nấy đều mang kích giáo, gậy gộc không biết bao nhiêu người.

Người đó đến trước vua. Vua thấy lạ bèn hỏi:

– Ông tên họ là gì, ở đâu, trẫm chưa từng được biết.

Người đó thưa rằng:

– Thống lãnh một dải sơn hà là chức phận của thần.

Vua nghe hồi lâu rồi nói:

– Thần có thể theo trẫm khởi nghĩa được không?

Vương vui vẻ trả lời rằng:

– Xin vâng.

Vua lại hỏi:

Thần tường tận về binh ngạch, lãnh chức chuẩn bị lương thảo để sung quân đội dùng thì có được không?

Vương trả lời:

– Tào của thần vốn là đạo quân dưới nước, có Uy đô thần vương. Ở đạo quân trên bộ đã có Long Đỗ vương tụ họp ở Nhật Chiêu để đón đường giặc. Thần xin vua đi theo đường thần thống lãnh, đó là [10a] đường núi (phường Phục Cổ huyện Thọ Xương phủ Phụng Thiên phụng sự 3 vị, đến nay vẫn hương hỏa thờ phụng-NC). [Quân ta] có 2900 thần tướng, mỗi tướng chỉ huy 1 vạn binh. Có 5800 thần quan, mỗi quan cai quản 500 bình. Thần sẽ sức cho các nơi chuẩn bị lương thảo, nếu người nào để thiếu sẽ xửtheo hình luật.

Nói xong dẫn quân ra đi. Vua chợt tỉnh giấc, mường tượng theo giấc mộng, chưa biết làm thế nào bèn đưa binh tiến đánh. Đến cửa Đông Hoa chợt nghe có tiệp báo. Vua liền hỏi chiến trận thế nào. Bọn Văn Lữ liền thưa lại cụ thể cho vua nghe về việc cầu khấn thần và việc giao chiến với giặc.

Vua nói:

Thần đã cho ta biết, lẽ nào lại dối ta sao. Nhật Chiêu 208 là nơi đất chết của Đoan Khánh. Điều đó ta đã muốn từ lâu rồi.

Tháng 2 vua lên ngôi, ban thưởng cho trăm quan, sau đó lại lệnh cho các thổ quan dấy công xây dựng từ vũ, chỉnh cấp đồ tế khí để thờ thần. Lại sai soạn văn bia khắc vào đá. Xuống chiếu cho xã dân các nơi cùng các vùng có núi non, đất đai nổi tiếng xây [10b] dựng đền miếu đề phụng thờ. Chiếu lập bia ấy dựng ở đền Phụng Hoa (nay đổi là tỉnh Thanh Hoa thuộc phủ Thiên Quan-NC). Ngoài việc để làm rõ công ơn của thần, trải các đời dù cho có thay đổi thế nào, hoặc dân gian có kẻ nghèo hèn hư hỏng, hoặc có kẻ bất kính đều đến dưới bia [thành khẩn xin thần chứng giám].

Cho đến những năm niên hiệu Hoằng Định (1601 – 1619), nước lụt mênh mông, con rùa cõng bia bị nước cuốn không biết trôi đi đâu. Tấm bia nổi ngược trôi về bến sông Bồ Đề, ở ngoài ven sông. Đi đến đâu, bia cũng linh ứng. Dân ven sông tranh nhau kéo về, nhưng không người nào kéo được. Duy chỉ có phường Kim Hoa huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên (nay đồi là Hoài Đức-NC) cùng với phường Thịnh Quang (nay đổi là phường Thịnh Hào-NC), huyện Quảng Đức, thành tâm cầu khẩn rồi lấy lụa màu làm dây kéo vào mới được. Nhưng do phường Kim Hoa đông dân nên đã kéo về làng đặt ở chùa phường Kim Hoa.

Mới được vài tháng đã nổi tiếng linh thiêng, nhiều lần điềm báo. Phường đó bèn xây bên trái chùa một ngôi đền để đưa bia vào phụng thờ. Bia khắc tục lệ giao hảo của hai phường từ xưa, đến nay vẫn tỏ rõ linh ứng, hương [11a] lửa không bao giờ dứt, trải qua các triều đại đều gia phong.

Văn bia cùng lời tựa như sau:

“Từng nghe: bậc Đế vương dấy binh nhân nghĩa, cứu sống muôn dân, khôi phục cơ nghiệp, mở mang cơ đồ, tạo lập nên công trạng vô cùng lớn lao, gây dựng thành công nghiệp vô cùng to lớn, ấy là bởi vì có cái đức vô cùng lớn lao thì mới được trời cao giúp sức, thần minh phù hộ, chứ đâu phải là sự ngẫu nhiên. Bởi lẽ đó, Vũ Vương tạo dựng triều Chu, phải nhờ đến thần linh núi sông giúp rập; Quang Vũ lấy lại ngôi báu nhà Hán cũng cậy có ông già áo trắng âm phù.

Nước Đại Việt ta [116], Thánh tổ Cao Hoàng Đế khởi nghĩa lập nên công nghiệp cũng có được các đấng linh thiêng ngầm giúp. Há chẳng phải trời đất thương yêu bậc chí nhân, quỷ thần ưu ái kẻ có đức đó sao! Sau đó miếu thờ được xây dựng, việc tế lễ mở ra, điền thờ lưu truyền, xuân thu tế tự, đó đều là để báo đáp ơn thần và cầu xin phúc lớn. Sự linh ứng rõ ràng, cổ kim thành nếp.

Nhưng mới rồi, kẻ nổi loạn trong Hoàng tộc thất đức, hung bạo càn rỡ, ngoại thích chuyên quyền, nội triều gây loạn. Dân chúng lầm than, triều dã hàm nhục. Trời oán dân giận mà chẳng hay, người chống kẻ lìa cũng đâu biết.

Tháng 11 năm Kỷ Tỵ, Hoàng thượng lánh nạn về Tây Đô3 để dấy quân nhân nghĩa nhằm phục hồi [12a] cơ nghiệp của Cao Tổ, cứu vớt ức triệu sinh dân. Bấy giờ, cánh bầy tôi thân thuộc ở điện Trường Lạc người thân thuộc hợp sức mưu toan, một dạ trung thành, gồm các vị Khai quốc công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Tán trị hiệu thuận khai phủ nghi đồng tam ty, Bình chương quân quốc trọng sự, Phụ quốc Thừa tướng Thượng tế, Thái phó Uy quốc công Nguyễn Bá Lân; Dực vận công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng, Tả đô đốc, Kim ngô vệ Đô chỉ huy sứ ty Chỉ huy sứ Chưởng vệ sự, An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ; Quang tiến trấn quốc Đại tướng quân, Tả kiểm điểm Tham đốc Hiệu lực tứ vệ sự vụ Nguyễn Văn Lữ v.v… vâng mệnh dấy binh, đồng tâm phò tá, tập hợp hào kiệt, điều động bình dân, phò tá cần vương, cứu vớt dân lành.

Khi bọn Văn Lữ hành quân đến huyện Phụng Hóa, thấy nơi đây núi rùng trùng điệp, cây có rậm rạp phủ khắp một vùng rộng lớn, có cái vực [126] tên gọi vực Lâm rộng chừng một mẫu, mặt nước tĩnh lặng sâu thẳm, cây cối mọc san sát. Trên bờ có ngôi đền lấp trong đám cỏ lau. Trong đền có phiến đá, trên đề Cao Sơn Đại vương. Bọn Văn Lữ nhìn thấy, lấy làm kinh dị, bèn thành tâm khấn rằng:

– Bọn Đoan Khánh4 tham tàn bạo ngược, khiến dân chúng khốn khổ không thể sống nổi. Mệnh trời và lòng người đều thuận theo người có đức.

Nay Thánh thượng là cháu của Thánh Tông, là con của Kiến Hoàng, nghĩ đến nỗi khó khăn vất vả để sáng nghiệp của tổ tông, xót thương nỗi điêu linh khốn khổ của dân chúng, nên đã vì xã tắc mà tính kế, dấy binh trừ tàn khửbạo. Bọn Văn Lữ chúng tôi cùng nhau phò tá minh quân, để định yên thiên hạ. [13a] Nếu thần có linh thiêng, xin hãy ra tay giúp rập, ngẩm phù hộ cho chúng tôi để lo tròn nghiệp lớn. Đến ngày thắng lợi, Văn Lữ bọn tôi ắt tâu với triều đình, tôn vinh thần để tỏ rõ ân huệ của thần.

Khấn xong, chỉnh trang đội ngũ hành quân lên đường. Thần dân bốn phương không hẹn nhau đều kéo tới, mang theo bầu nước giỏ cơm ra đón vương sư. Thế rồi quân sĩ chẳng phải khó nhọc máu dính lưỡi gươm, dân chúng đã thỏa niềm trông ngóng. Bọn giặc hung tàn bị quét sạch, khôi phục cung điện trở lại bình yên, xã tắc muôn thuở vững bền, chín miếu hồn thiêng thỏa ước. Nếp nhà phép nước nhờ đó lại được ngay ngắn, cơ đồ sự nghiệp do vậy được vãn hồi. Chỉ qua mấy tuần mà đã đạt được thành công, [13b] ấy bởi do đức Thánh cao dày cảm ứng khiến trời và người cùng hưởng ứng và lại được quỷ thần trợ giúp sức cho mới được nhanh chóng như vậy.

Ngày mồng 2 tháng 12 năm đó, Hoàng thượng đăng quang ngôi báu, phủ dụ bốn phương, thi hành chính sự, lấy nhân nghĩa để vỗ về muôn dân, gia lễ ban trật để tỏ lòng truy tưởng bách thần. Bọn Văn Lữ nghĩ rằng công lớn đã thành, nhớ tới công phù trợ của thần, bèn đem sự việc trước tâu lên Hoàng thượng. Hoàng thượng chuẩn y, sắc cho quan Huyện doãn huyện Phụng Hóa, đốc thúc quân dân dựng ngôi đền thờ, lại sai Bộ Công dụng tấm bia và sai bọn thần soạn bài văn bia để lưu truyền lâu dài.

Bọn thần tự xét thấy mình ngu hèn thô lậu, đâu có đủ tài để tán dương [14a] công nghiệp ngời ngời của Thánh hoàng, ca ngợi sự kỳ diệu linh thông của tôn thần. Nhưng đã nhận chiếu chỉ, dám đâu trái mệnh.

Bọn thần trộm nghĩ, người có đức ắt được nhận mệnh trời, đó là lý cố định xưa nay; tinh vi mà vẫn thể hiện rõ ràng, đó là đức lớn của quỷ thần.

Còn như, khai sáng sự nghiệp phi thường, tuy do đức của các bậc đế vương, nhưng để cho sự nghiệp phi thường trở nên thành công cũng chính nhờ thần minh giúp rập. Cái lý chốn u minh, mối cơ duyên cảm ứng, đó là thứ đã tồn tại giữa sự giao tiếp trời, người. Vì thế việc dựng ngôi đền cao đẹp, sớm tối hương lửa là để báo đáp ơn thần; ghi chép điền thờ, khắc bia đá là cốt biểu dương sự linh thiêng.

Kính nghĩ, thần minh vốn bẩm thụ chính khí của đất trời, đúc kết anh linh của sông núi, giúp rập cơ nghiệp hoàng gia, tôn phò ngôi báu, chở che ban phát phúc lớn mãi đến muôn đời. Vậy cũng giống như ngọn núi này sẽ cùng tồn tại mãi mãi với đất trời. Ôi! Tốt đẹp thay!

Có bài minh rằng:

Rậm rạp rừng sâu
Sương khói một màu
Dệt nên kỳ tú
Tụ hợp cơ mầu
Vực sâu ánh biếc
Nước xanh soi trời
Lặng sâu khó biết
Bàng bạc chơi vơi
Núi cao nước thẳm
Thần ở mọi nơi
Bốn phía vời trông
Vũ trụ mênh mông
Thấy ở chốn này
Một ngôi từ vũ
Lau trúc che khuất
Phấn đề lòng bia
Cao Sơn nổi danh
Uy nghi cao ngất
Có cảm có thông
Cầu gì được tất
Bấy giờ nguy khốn
Trời giúp minh quân.
Dấy binh dẹp giặc
Cờ kiếm đích thân
Các tướng hăng hái
Chiêu tập nghĩa quân
Tiễu trừ quyết chí
Cầu chúc chuyên cần
Đại sự chắc thắng
Đem lễ tạ ân
Lồng lộng như thấy
Chứng giám vận lớn
Lẫm liệt uy thanh
Chớp giật sấm rền
Dân chúng chờ mong
Cờ bay trong gió
Vẻn vẹn một tuần
Đất trời thanh thái
Công ấy người nào
Chỉ thần mới phải
Báo đáp lòng thành
Chép vào sử xanh
Tỏ bày tâm khảm
Suốt đời không quên
Trời cao chứng giám
Đức lớn băn khoăn
Xem bói cát tường
Năm tháng (qua đi)
Phụng thờ nghiêm chỉnh
Việc đó trước tiên
Bèn khuyên trưởng ấp
Trùng tu việc gấp
Thuê thợ mua gỗ
Đền thờ dựng lên.
Rui mè cột kèo
Nguy nga lấp lành
Miếu mạo tôn nghiêm
Linh thiêng sáng rực
Hương khói như sương
Quanh năm không dứt
Còn việc ghi công
Đã khắc vào đá
Xuân thu tế tự
Gõ mõ thỉnh chuông
Danh thơm càng rõ
Giúp nước mạnh giàu
Vạn năm ban phúc
Thi hành thuần phong
Trước đền trấn yểm
Tỏ rõ vô cùng.

Ngày lành tháng giữa thu năm Canh Ngọ, năm thứ 2 niên hiệu Hồng Thuận (1510).

Ngày lành tháng 8 năm Canh Ngọ niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471)

Quang tiến thận lộc đại phu Thiếu bảo Lễ bộ Thượng thư Đông các học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu trị kinh diên sự thần Lê Tung phụng sắc chỉ soạn văn bia.

Hiến cung đại phu trung thư giám, trung thư xá nhân thần Đỗ Như Chi phụng mệnh sao chép.

Thí yên bì doanh tạo sở san thư tượng tượng phó, thần Bùi Nhữ Dịch phụng mệnh san khắc.

Lập bia vào ngày mồng 1 tháng 8 năm Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 3 (1742)

Bia nguyên ở phường Kim Hoa huyện Phụng Hóa.

[16a] Ngày 15 tháng Giêng năm Minh Mệnh thứ 21 (1840).

Tú tài Lê Doãn Địch ở phường Thịnh Hào huyện Vĩnh Thuận phụng mệnh sao chép lại”.

Chú thích:

  1. Giày Ở Tích: Giày hai đế. Chưa rõ điển cố.
  2. Nhật Chiêu: Theo nguyên chú thuộc huyện Quảng Đức (sau đổi thành huyện Vĩnh Thuận), nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội.
  3. Tây Đô: Chỉ thành nhà Hồ do Hồ Quý Ly xây dựng ở Thanh Hoa làm kinh đô. Nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
  4. Đoan Khánh: Niên hiệu của Lê Uy Mục đế (1505 – 1516).

Nguồn: “Cao Sơn Đại vương phả”, trích trong Thần tích phường Thịnh Hào, ký hiệu AE.a2/30, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (10)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)