Nguyễn Kim (1468–1545)

Nguyễn Kim (1468–1545)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Theo Đại Nam thực lục, tổ tiên họ Nguyễn vốn là một dòng họ danh giá ở vùng Thanh Hóa. Cha của Nguyễn Kim là Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu, còn ông nội là Phó Quốc công Nguyễn Như Trác. Là con trưởng trong gia đình, Nguyễn Kim từng làm quan dưới triều Lê với chức Hữu vệ Điện tiền tướng quân, được phong tước An Thanh hầu.

Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn lại ghi rằng dưới thời Mạc Đăng Dung, An Thanh hầu Nguyễn Kim giữ chức Hữu vệ Điện tiền tướng quân, là anh trai của Nguyễn Hoằng Dụ. Tuy nhiên, vấn đề quan hệ huyết thống này vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau.

Trong cuốn Nhìn lại lịch sử, nhóm tác giả Đinh Công Vỹ, Phan Duy Kha và Lã Duy Lan khi khảo sát phả hệ dòng họ Nguyễn Gia Miêu cho rằng Nguyễn Kim và Nguyễn Hoằng Dụ thực chất chỉ là anh em họ. Theo cách lý giải này, người sinh ra Nguyễn Kim là Nguyễn Văn Lưu; Nguyễn Văn Lang là anh của Nguyễn Văn Lưu, còn Nguyễn Hoằng Dụ là anh của Nguyễn Kim.

Sách Nguyễn Phước Tộc Thế Phả do Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc Huế ấn hành năm 1995 cũng ghi rõ: cha của Nguyễn Kim là Trừng Quốc công Nguyễn Văn Lưu, ông nội là Phó Quốc công Nguyễn Như Trác.

Khởi binh chống Mạc

Năm Canh Dần (1530), sau ba năm chiếm ngôi nhà Lê, Mạc Đăng Dung lo sợ lòng người chưa phục, nên quyết định nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh. Tháng Giêng năm ấy, Mạc Đăng Doanh chính thức lên ngôi, lấy niên hiệu Đại Chính và tôn cha mình làm Thái thượng hoàng.

Cũng trong thời điểm đó, Lê Ý tự xưng là con trai An Thái công chúa đứng lên chống lại nhà Mạc, tự xưng niên hiệu Quang Thiệu và hiệu triệu tướng sĩ ở Thanh Hóa, Nghệ An hội quân đánh Mạc. Tuy nhiên, cuộc khởi binh thất bại Lê Ý bị Mạc Quốc Trinh bắt vào tháng 11.

Do việc cướp ngôi của cha con Mạc Đăng Dung gây phẫn uất trong thiên hạ, nhiều hào kiệt khắp nơi nổi lên. Các thổ tù cũng chiêu binh mãi mã, chống lại triều Mạc. Lúc này, Nguyễn Kim lánh sang Ai Lao; Trịnh Ngung và Trịnh Ngang sang cầu viện nhà Minh; Vũ Văn Uyên trấn giữ Tuyên Quang. Các lực lượng này đều nhân danh “phù Lê diệt Mạc”, trong khi các vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Tuyên Quang và Hưng Hóa đều không chịu phục nhà Mạc.

Năm 1529, Nguyễn Kim đưa gia quyến chạy sang nước Ai Lao. Chúa Sạ Đầu cho rằng Đại Việt và Ai Lao có quan hệ thân thiết, nên đã cấp đất Sầm Châu để ông trú ngụ. Tại đây, Nguyễn Kim vừa nuôi dưỡng binh sĩ, vừa chiêu nạp những người trốn tránh hoặc bất mãn với nhà Mạc, đồng thời bí mật tìm kiếm hậu duệ nhà Lê để phò tá, chuẩn bị khôi phục cơ nghiệp cũ.

Đến tháng 12 năm 1530, Nguyễn Kim lánh nạn ở Sầm Thượng và Sầm Hạ, thu được vài nghìn quân, 30 voi chiến và 300 ngựa. Theo sự thỉnh cầu của các tướng, ông quyết định đưa quân trở lại Thanh Hoa. Tuy nhiên, khi đóng tại Lôi Dương quân ông bị phục kích bởi Ngọc Trục hầu, tướng của Mạc Đăng Doanh, và phải rút lui.

Đầu năm Tân Mão (1531), Mạc Đăng Doanh sai Tây Quốc công Nguyễn Kính đem quân đánh Nguyễn Kim ở Thanh Hoa. Nguyễn Kim chủ động ứng chiến, đánh bại quân của Nguyễn Kính và cho quân chiếm giữ các huyện trọng yếu. Nguyễn Kính tiếp tục tiến đánh Đông Sơn nhưng lại thất bại, để mất hàng trăm quân, buộc Nguyễn Kim mở rộng vùng kiểm soát đến Gia Viễn và Điềm Độ.

Tuy nhiên, đến tháng 9 năm 1531, mưa lớn kéo dài khiến nước sông dâng cao. Nhà Mạc lợi dụng thủy thế dùng chiến thuyền tấn công, khiến quân Nguyễn Kim rối loạn, không thể chống đỡ. Ông buộc phải rút quân về Ai Lao, trong khi vùng Thanh Hoa rơi vào tình trạng đói kém nghiêm trọng.

Lập vua Lê Trang Tông

Năm 1533, các cựu thần nhà Lê như Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Trịnh Duy Thuận, Trịnh Duy Duyệt và Trịnh Duy Liệu đưa Lê Duy Ninh là con út của Lê Chiêu Tông – lên ngôi ở Ai Lao, lấy hiệu Nguyên Hòa. Vua Trang Tông phong thưởng các công thần: Nguyễn Kim làm Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc công; Trịnh Kiểm làm Dực Quận công; Trịnh Công Năng làm Tuyên Quận công; Lại Thế Vinh làm Hòa Quận công, đồng thời ban ấn kiếm để chiêu dụ dân chúng và chống quân Mạc. Ông còn cử Trịnh Duy Liệu sang nhà Minh tố cáo Mạc Đăng Dung, khiến triều Minh định xuất binh, dù tướng Cừu Loan vẫn do dự ngoài biên giới.

Năm 1539, Trang Tông gia phong Trịnh Kiểm làm Đại tướng quân Dực Quận công, rồi sai các tướng chia đường tiến đánh, phá quân Mạc ở Lôi Dương. Đến 1542, vua dùng Hà Thọ Tường làm Đề thống, lệnh Nguyễn Kim dẫn quân đánh Thanh Hoa, Nghệ An, thu phục được nhiều hào kiệt địa phương. Năm 1543, sau khi Mạc Đăng Dung và Mạc Đăng Doanh mất, Mạc Phúc Hải lên ngôi, Trang Tông thân chinh, chiếm được Tây Đô và buộc nhiều tướng Mạc đầu hàng. Nguyễn Kim khi ấy còn ở Ai Lao được triệu về, được thăng Thái tể, giữ chức Đô tướng, chỉ huy các dinh quân tiến bình định vùng tây nam.

Cái chết

Nguyễn Kim bị Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất đầu độc giết chết vào năm Ất Tỵ (1545). Trung Hậu hầu vốn là hàng tướng nhà Mạc, xuất thân hoạn quan, làm quan đến chức Chưởng bộ, nghe tin vua Lê Trang Tông nổi quân, liền dùng kế trá hàng, muốn hại vua Lê Trang Tông. Việc không thành, Trung Hậu hầu mời Thái tể Nguyễn Kim đến dinh, bỏ ngầm thuốc độc trong quả dưa dâng lên trước mâm cỗ. Nguyễn Kim tin thật, ăn dưa, bị trúng độc, đến khi về thấy trong người khó chịu rồi mất. Hôm đó là ngày 20 tháng 5 năm Ất Tỵ (1545), niên hiệu Nguyên Hòa thứ 14. Trung Hậu hầu liền trốn đi, sau lại về với Mạc Phúc Hải.[19] Vua Lê Trang Tông vô cùng thương tiếc, truy tặng là Chiêu Huân Tĩnh công, đặt tên thụy là Trung Hiến, sai quan đem về quê ở Tống Sơn mai táng.

Gia đình

Các bà vợ

  • Chánh thất Nguyễn Thị Mai, xuất thân quyền quý, con của Nguyễn Minh Biện – quan nhà Lê giữ chức Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thư Vệ Sự. Bà sinh Nguyễn Hoàng và mất ngày 23 tháng Giêng âm lịch (không rõ năm), táng tại lăng Trường Nguyên, núi Thiên Tôn (Thanh Hóa).
  • Thứ phu nhân Đỗ Thị Tín, không rõ tiểu sử, là mẹ của Nguyễn Thị Ngọc Bảo.
  • Thứ phu nhân khuyết danh, không rõ lai lịch, sinh Nguyễn Uông.

Con cái

Nguyễn Uông là con của thứ phu nhân khuyết danh. Được Lê Trang Tông phong Lãng Quận công sau cái chết của Nguyễn Kim, nhưng sau bị Trịnh Kiểm sát hại để trừ hậu họa.

Nguyễn Hoàng (1525–1613), con của chánh thất Nguyễn Thị Mai. Được phong Hạ Khê hầu và giao quân đi đánh dẹp. Về sau trở thành người mở đầu cơ nghiệp các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Nguyễn Thị Ngọc Bảo, con của Đỗ Thị Tín. Bà kết hôn với Trịnh Kiểm, sinh Trịnh Tùng; mất trong một vụ hỏa hoạn tại phủ An Trường. Được truy phong Từ Nghi Vương Thái Phi.

Nhận xét của sử thần

Lê Quý Đôn nhận định trong sách Đại Việt thông sử:

“Nguyễn Kim lấy thân phận là tướng già của con nhà thế thần, giữ vững tiết tháo, lật đật nơi hang núi, cố chí lo toan việc khôi phục, rước lập thế tử, nối lại tông thống, đánh kẻ loạn tặc, phá đám chông gai, mở mang canh thổ Thanh, Nghệ, Thuận, Quảng hàng hơn ngàn dặm. Cơ nghiệp ngàn vạn năm của nước nhà, thực bắt đầu từ đây. Như thế chả phải là người bầy tôi xã tắc đó ư?”

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục (tập 1), Nxb Giáo Dục.
  5. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  6. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Nguyen Kim (1468–1545)

Background
According to Dai Nam Thuc Luc, the Nguyen family originated from a prestigious lineage in Thanh Hoa. Nguyen Kim’s father was Trung Quoc Cong Nguyen Van Luu, and his grandfather was Pho Quoc Cong Nguyen Nhu Trac. As the eldest son in the family, Nguyen Kim served the Le dynasty as Huu ve Dien tien Tuong quan and was granted the title An Thanh Hau.

Dai Viet Thong Su by Le Quy Don notes that during the reign of Mac Dang Dung, An Thanh Hau Nguyen Kim held the position of Huu ve Dien tien Tuong quan and was the elder brother of Nguyen Hoang Du. However, the exact family relationship remains subject to different interpretations.

In Nhin Lai Lich Su, authors Dinh Cong Vy, Phan Duy Kha, and La Duy Lan, when reviewing the genealogy of the Nguyen Gia Mieu family, suggest that Nguyen Kim and Nguyen Hoang Du were actually cousins. According to this view, Nguyen Kim was born to Nguyen Van Luu; Nguyen Van Lang was the elder brother of Nguyen Van Luu, while Nguyen Hoang Du was Nguyen Kim’s cousin.

Nguyen Phuoc Toc The Pha, published by the Hue Nguyen Phuc Clan Council in 1995, also confirms that Nguyen Kim’s father was Trung Quoc Cong Nguyen Van Luu, and his grandfather was Pho Quoc Cong Nguyen Nhu Trac.

Career

Uprising against the Mac
In 1530 (Canh Dan year), after three years of usurping the Le throne, Mac Dang Dung, fearing unrest, decided to abdicate in favor of his son Mac Dang Doanh. In January of that year, Mac Dang Doanh officially ascended the throne with the era name Dai Chinh, and honored his father as Thai Thuong Hoang.

At the same time, Le Yi, claiming to be the son of Princess An Thai, rose up against the Mac dynasty, declaring the era name Quang Thieu and rallying troops in Thanh Hoa and Nghe An to fight the Mac. However, the rebellion failed, and Le Yi was captured by Mac Quoc Trinh in November.

The usurpation by Mac Dang Dung and his son caused widespread resentment, leading many local elites and tribal leaders to raise forces against the Mac. Nguyen Kim fled to Ai Lao; Trinh Ngung and Trinh Ngang sought assistance from the Ming dynasty; Vu Van Uyen defended Tuyen Quang. These forces rallied under the banner of “supporting the Le to restore the kingdom,” while regions such as Thanh Hoa, Nghe An, Tuyen Quang, and Hung Hoa refused to recognize the Mac.

In 1529, Nguyen Kim took his family to Ai Lao. Lord Sa Dau, seeing the close relations between Dai Viet and Ai Lao, allocated land in Sam Chau for him. There, Nguyen Kim both nurtured his troops and recruited those fleeing or dissatisfied with the Mac, while secretly seeking Le descendants to restore the former dynasty.

By December 1530, Nguyen Kim had gathered several thousand troops, 30 war elephants, and 300 horses in Sam Thuong and Sam Ha. At the generals’ request, he decided to return to Thanh Hoa. However, his army was ambushed at Loi Duong by Mac Dang Doanh’s general Ngoc Truc Hau and was forced to retreat.

In early 1531 (Tan Mao year), Mac Dang Doanh sent Tay Quoc Cong Nguyen Kinh to attack Nguyen Kim in Thanh Hoa. Nguyen Kim proactively engaged, defeating Nguyen Kinh’s forces and capturing key districts. Nguyen Kinh continued to attack Dong Son but suffered defeat, losing hundreds of soldiers, forcing Nguyen Kim to expand his control to Gia Vien and Diem Do.

However, in September 1531, heavy rains caused rivers to flood. The Mac forces exploited the waterways, attacking with warships, causing Nguyen Kim’s troops to panic. He had to retreat to Ai Lao, while Thanh Hoa experienced severe famine.

Establishing King Le Trang Tong
In 1533, former Le officials including Nguyen Kim, Lai The Vinh, Trinh Duy Thuan, Trinh Duy Duyet, and Trinh Duy Lieu enthroned Le Duy Ninh, youngest son of Le Chieu Tong, in Ai Lao, with the era name Nguyen Hoa. King Trang Tong rewarded his loyalists: Nguyen Kim was made Thuong Phu Thai Su Hung Quoc Cong; Trinh Kiem became Duc Quoc Cong; Trinh Cong Nang, Tuyen Quoc Cong; Lai The Vinh, Hoa Quoc Cong. They were granted seals and swords to rally support and oppose the Mac. Nguyen Kim also sent Trinh Duy Lieu to the Ming court to denounce Mac Dang Dung, prompting the Ming to consider intervention, though General Cuu Loan hesitated at the border.

In 1539, Trang Tong promoted Trinh Kiem to Dai Tuong Quan Duc Quoc Cong and ordered generals to attack Mac forces at Loi Duong. By 1542, the king appointed Ha Tho Tuong as De Thong and instructed Nguyen Kim to lead troops to Thanh Hoa and Nghe An, reclaiming many local elites. In 1543, after Mac Dang Dung and Mac Dang Doanh died, Mac Phuc Hai ascended. King Trang Tong personally led forces to seize Tay Do and forced many Mac generals to surrender. Nguyen Kim, then in Ai Lao, was summoned, promoted to Thai Te, and served as Do Tuong, commanding military operations to pacify the southwestern regions.

Death
Nguyen Kim was poisoned and killed by Trung Hau Hau Duong Chap Nhat in 1545 (At Ty year). Trung Hau Hau, a Mac general and former eunuch, holding the office of Chuong Bo, had intended to harm King Le Trang Tong by deceiving him. When that failed, he invited Nguyen Kim to his mansion, secretly poisoned a melon presented at the banquet. Nguyen Kim, unaware, ate the melon, was poisoned, felt unwell, and died. This occurred on May 20, 1545 (14th year of Nguyen Hoa era). Trung Hau Hau fled but later returned under Mac Phuc Hai. King Le Trang Tong deeply mourned him, posthumously conferred the title Chieu Huan Tinh Cong, with the posthumous name Trung Hien, and ordered burial in his hometown at Tong Son.

Family
Wives

  • Principal wife: Nguyen Thi Mai, from a noble family, daughter of Nguyen Minh Bien, an official of the Le dynasty. She gave birth to Nguyen Hoang and died on the 23rd day of the first lunar month (year unknown), buried at Truong Nguyen mausoleum, Thien Ton mountain (Thanh Hoa).
  • Secondary wife: Do Thi Tin, little known, mother of Nguyen Thi Ngoc Bao.
  • Unknown secondary wife, mother of Nguyen Uong.

Children

  • Nguyen Uong, son of the unknown wife, was posthumously granted the title Lang Quoc Cong by Le Trang Tong, but later killed by Trinh Kiem to prevent future threats.
  • Nguyen Hoang (1525–1613), son of principal wife Nguyen Thi Mai, granted the title Ha Khe Hau, led military campaigns, later became the founder of the Nguyen lords in the South (Dang Trong).
  • Nguyen Thi Ngoc Bao, daughter of Do Thi Tin, married Trinh Kiem, gave birth to Trinh Tung, died in a fire at An Truong mansion, posthumously titled Tu Nghi Vuong Thai Phi.

Historical Assessment
Le Quy Don in Dai Viet Thong Su remarked:
“Nguyen Kim, as an aged general from a noble family, upheld integrity, endured hardship in mountain hideouts, diligently worked to restore the dynasty, enthroned the heir, reestablished the lineage, defeated rebels, overcame obstacles, and expanded the territories of Thanh, Nghe, Thuan, and Quang by over a thousand leagues. The enduring foundation of the nation truly began here. Was he not a faithful minister to the state?”

References

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục (tập 1), Nxb Giáo Dục.
  5. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  6. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Pháp

Nguyen Kim (1468–1545)
Origine et famille
Selon le Dai Nam thuc luc, les ancêtres de la famille Nguyen étaient une lignée prestigieuse de la région de Thanh Hoa. Le père de Nguyen Kim était le Duc Trung Quoc Nguyen Van Luu, et son grand-père le Vice-Duc Nguyen Nhu Trac. En tant qu’aîné de la famille, Nguyen Kim servit sous la dynastie Le avec le titre de Huu ve Dien tien tuong quan et fut titré Marquis An Thanh.

Selon le Dai Viet thong su de Le Quy Don, sous le règne de Mac Dang Dung, le Marquis An Thanh Nguyen Kim occupait également le poste de Huu ve Dien tien tuong quan et était le frère de Nguyen Hoang Du. Cependant, cette relation de parenté reste sujette à diverses interprétations.

Dans le livre Nhin lai lich su, les auteurs Dinh Cong Vy, Phan Duy Kha et La Duy Lan, en examinant la généalogie de la famille Nguyen Gia Mieu, estiment que Nguyen Kim et Nguyen Hoang Du n’étaient en réalité que des cousins. Selon cette interprétation, Nguyen Kim est le fils de Nguyen Van Luu, Nguyen Van Lang est le frère de Nguyen Van Luu, et Nguyen Hoang Du est le frère de Nguyen Kim.

Le Nguyen Phuoc Toc The Pha, publié par le Conseil de gestion de la famille Nguyen Phuc de Hue en 1995, confirme que le père de Nguyen Kim était le Duc Trung Quoc Nguyen Van Luu et son grand-père le Vice-Duc Nguyen Nhu Trac.

Révolte contre la dynastie Mac

En 1530, année Canh Dan, après trois ans de prise du trône Le, Mac Dang Dung, craignant que le peuple ne soit pas soumis, décida de céder le trône à son fils Mac Dang Doanh. En janvier, Mac Dang Doanh monta officiellement sur le trône, adoptant le nom d’ère Dai Chinh, et fit de son père le Retraité Suprême (Thai Thuong Hoang).

À la même époque, Le Y, se proclamant fils de la princesse An Thai, se leva contre la dynastie Mac, prit le nom d’ère Quang Thieu et rassembla des forces dans les régions de Thanh Hoa et Nghe An pour attaquer les Mac. Cependant, cette révolte échoua et Le Y fut capturé par Mac Quoc Trinh en novembre.

Le mécontentement général face à l’usurpation du trône par Mac Dang Dung provoqua l’émergence de nombreux chefs locaux et seigneurs régionaux contre la dynastie Mac. À cette époque, Nguyen Kim se réfugia au Laos ; Trinh Ngun et Trinh Ngang sollicitèrent l’aide de la dynastie Ming ; Vu Van Uyen contrôlait Tuyen Quang. Toutes ces forces se réclamaient de la restauration de la dynastie Le, tandis que les régions de Thanh Hoa, Nghe An, Tuyen Quang et Hung Hoa refusaient de se soumettre aux Mac.

En 1529, Nguyen Kim emmena sa famille au Laos. Le seigneur Sa Dau, considérant les relations amicales entre le Dai Viet et le Laos, lui attribua des terres à Sam Chau. Là, Nguyen Kim entretint ses troupes, recruta des réfugiés ou des mécontents de la dynastie Mac et chercha secrètement les descendants de la famille Le pour préparer la restauration.

En décembre 1530, Nguyen Kim, réfugié à Sam Thuong et Sam Ha, rassembla plusieurs milliers de soldats, 30 éléphants de guerre et 300 chevaux. Sur demande de ses généraux, il décida de revenir à Thanh Hoa. Cependant, lors de son stationnement à Loi Duong, ses troupes furent attaquées par le général Mac, Ngoc Truc Hau, et il dut se replier.

Début 1531, Mac Dang Doanh envoya le Duc Tay Quoc Nguyen Kinh attaquer Nguyen Kim à Thanh Hoa. Nguyen Kim engagea le combat, battit les forces de Nguyen Kinh et prit le contrôle des districts stratégiques. Nguyen Kinh poursuivit vers Dong Son mais fut de nouveau vaincu, perdant plusieurs centaines de soldats, ce qui permit à Nguyen Kim d’étendre sa zone de contrôle jusqu’à Gia Vien et Diem Do.

Cependant, en septembre 1531, de fortes pluies provoquèrent la crue des rivières. Les Mac utilisèrent la flotte pour attaquer, semant la panique dans les troupes de Nguyen Kim, qui dut se replier au Laos, tandis que la région de Thanh Hoa fut frappée par une famine sévère.

Couronnement du roi Le Trang Tong
En 1533, d’anciens ministres de la dynastie Le, dont Nguyen Kim, Lai The Vinh, Trinh Duy Thuan, Trinh Duy Duyet et Trinh Duy Lieu, intronisèrent Le Duy Ninh, dernier fils de Le Chieu Tong, au Laos, sous le nom d’ère Nguyen Hoa. Le roi Trang Tong récompensa ses conseillers : Nguyen Kim fut nommé Thuong Phu Thai su Hung Quoc Cong, Trinh Kiem devint Duc Duoc Quan Cong, Trinh Cong Nang Duc Tuyen Quan Cong, Lai The Vinh Duc Hoa Quan Cong, avec des sceaux et épées pour rallier la population et combattre les Mac. Nguyen Kim envoya Trinh Duy Lieu à la cour Ming pour dénoncer Mac Dang Dung, poussant le Ming à envisager l’intervention militaire, malgré les hésitations du général Cuu Loan à la frontière.

En 1539, Trang Tong éleva Trinh Kiem au rang de Grand Général, Duc Duoc Quan, et ordonna aux généraux de diviser les forces pour attaquer et vaincre les Mac à Loi Duong. En 1542, le roi envoya Ha Tho Tuong comme commandant et chargea Nguyen Kim de diriger les troupes pour reconquérir Thanh Hoa et Nghe An, récupérant de nombreux chefs locaux. En 1543, après la mort de Mac Dang Dung et Mac Dang Doanh, Mac Phuc Hai monta sur le trône ; Trang Tong menait lui-même les campagnes et s’empara de Tay Do, obligeant de nombreux généraux Mac à se rendre. Nguyen Kim, encore au Laos, fut rappelé, promu Thai Te, et chargé de commander les garnisons pour pacifier le sud-ouest.

Mort
Nguyen Kim fut empoisonné par le Marquis Trung Hau Duong Chap Nhat en 1545. Ce dernier, un ancien officier Mac, eunuque de carrière, monta au poste de Chưởng Bộ et, craignant le soulèvement de Le Trang Tong, tenta de nuire au roi. Ne réussissant pas, il invita Nguyen Kim à son palais et plaça secrètement du poison dans une pastèque servie lors du banquet. Nguyen Kim, croyant à la sincérité, consomma le fruit, fut empoisonné et mourut le 20 mai 1545, année At Ty, quatorzième année de l’ère Nguyen Hoa. Le roi Le Trang Tong, profondément attristé, le nomma posthumément Chieu Huan Tinh Cong, lui donna le nom posthume Trung Hien et ordonna que ses restes soient ramenés à son village natal de Tong Son pour être enterrés.

Famille
Épouses

  • Épouse principale : Nguyen Thi Mai, issue d’une famille noble, fille de Nguyen Minh Bien – fonctionnaire Le, Dac Tien Phu Quoc Thuong Tuong Quan Thu Ve Su. Elle donna naissance à Nguyen Hoang et mourut le 23 janvier (année inconnue), enterrée à la tombe Truong Nguyen, montagne Thien Ton (Thanh Hoa).
  • Seconde épouse : Do Thi Tin, dont la biographie est inconnue, mère de Nguyen Thi Ngoc Bao.
  • Troisième épouse : inconnue, mère de Nguyen Uong.

Enfants

  • Nguyen Uong, fils de la troisième épouse inconnue, fut titré Duc Lang Quan après la mort de Nguyen Kim, mais fut ensuite tué par Trinh Kiem pour prévenir tout danger futur.
  • Nguyen Hoang (1525–1613), fils de l’épouse principale Nguyen Thi Mai, fut titré Marquis Ha Khe et reçu le commandement militaire pour les campagnes. Il devint plus tard le fondateur de la lignée des seigneurs Nguyen dans le Sud.
  • Nguyen Thi Ngoc Bao, fille de Do Thi Tin, épousa Trinh Kiem et donna naissance à Trinh Tung ; elle mourut dans un incendie à Phu An Truong et fut posthumément élevée au rang de Từ Nghi Vuong Thai Phi.

Évaluation historique
Le lettré Le Quy Don nota dans Dai Viet thong su :
« Nguyen Kim, en tant que général âgé d’une famille influente, maintint sa loyauté et son intégrité, planifiant depuis ses retraites de montagne la restauration de la dynastie Le, intronisant l’héritier, rétablissant la succession, combattant les rebelles et surmontant de nombreux obstacles, étendant le territoire de Thanh, Nghe, Thuan et Quang sur plus de mille lieues. C’est ici que commença vraiment l’œuvre durable de notre pays. N’est-ce pas là l’exemple d’un serviteur loyal envers l’État et la société ? »

Tiếng Trung

阮金 (Nguyen Kim)(1468–1545)
身世
据《大南实录》,阮氏祖先原为清化(Thanh Hoa)地区的名门望族。阮金之父为整国公阮文流(Nguyen Van Luu),祖父为副国公阮如鐸(Nguyen Nhu Trac)。作为家中长子,阮金曾在黎朝任右卫殿前将军,并被封为安清侯。

《大越通史》(Le Quy Don著)记载,在莫登Dung(Mac Dang Dung)时期,安清侯阮金任右卫殿前将军,是阮弘裕(Nguyen Hoang Du)之兄。但关于血缘关系的问题,学界仍有不同理解。

在《回顾历史》一书中,作者丁公伟(Dinh Cong Vy)、潘維可(Phan Duy Kha)、卢維澜(La Duy Lan)考察阮嘉苗家族谱系时认为,阮金与阮弘裕实为堂兄弟关系。按照这一解释,阮金之父为阮文流(Nguyen Van Luu);阮文朗(Nguyen Van Lang)为阮文流之兄;阮弘裕为阮金之兄。

1995年,由阮福族会(Hue)出版的《阮福族世谱》也明确记载阮金之父为整国公阮文流,祖父为副国公阮如鐸。

起兵抗莫

庚寅年(1530年),莫登Dung夺取黎朝王位三年后,因担心民心未服,决定禅位于子莫登榮(Mac Dang Doanh)。当年正月,莫登榮即位,年号大正(Dai Chinh),尊父为太上皇。

同一时期,自称安太公主之子黎懿(Le Y)起兵反莫,自称年号光紹(Quang Thieu),在清化、乂安集结兵马攻打莫朝。然而起义失败,黎懿于十一月被莫國貞擒获。

莫登Dung父子夺位激起民愤,各地豪杰纷纷起兵,土土也招兵买马反莫。阮金逃往爱老(Ai Lao),郑雍(Trinh Ngung)与郑昂(Trinh Ngang)向明朝求援,武文渊(Vu Van Uyen)镇守宣光(Tuyen Quang)。各方均以“扶黎复国”为名,而清化、乂安、宣光与兴化均不服莫朝。

1529年,阮金携家眷逃至爱老国。萨头王(Chua Sa Dau)因大越与爱老关系密切,赐予三洲(Sam Chau)居住。阮金在此既养士兵,又招纳避莫者,同时秘密寻找黎氏后裔,准备恢复旧业。

至1530年12月,阮金避难于上三洲与下三洲,收集兵力数千、战象30头、马300匹。诸将请求下,他决定返回清化,但驻扎于雷阳(Loi Duong)时遭莫登榮将军玉逐侯伏击,被迫撤退。

1531年初(辛卯年),莫登榮派西国公阮敬(Nguyen Kinh)率军攻阮金于清化。阮金主动迎战,击败阮敬军,占据重要郡县。阮敬继而进攻东山(Dong Son)仍败,损失数百人,阮金遂将势力扩展至嘉原(Gia Vien)与点度(Diem Do)。

然而,1531年9月连日大雨导致河水上涨,莫朝利用水势发起水战,阮金军阵混乱,不得不撤退至爱老,清化陷入严重饥荒。

立黎庄宗
1533年,黎朝旧臣阮金、赖世荣(Lai The Vinh)、郑維顺(Trinh Duy Thuan)、郑維悅(Trinh Duy Duyet)与郑維料(Trinh Duy Lieu)将黎昭宗幼子黎維寧(Le Duy Ninh)立于爱老,年号元和(Nguyen Hoa)。庄宗封赏功臣:阮金为上辅太师兴国公;郑檢为翼郡公;郑公能为宣郡公;赖世荣为和郡公,同时颁发印剑以招抚民众、抗击莫军。阮金还派郑維料前往明朝控诉莫登Dung,使明廷拟出兵,虽将军丘鸾仍犹豫于边境。

1539年,庄宗加封郑檢为大将军翼郡公,命诸将分路进攻,破莫军于雷阳。至1542年,庄宗命河寿祥(Ha Tho Tuong)为提统,令阮金率军征讨清化、乂安,收复地方豪杰。1543年,莫登Dung及莫登榮逝世,莫福海(Mac Phuc Hai)即位,庄宗亲征,占领西都,迫使多位莫将投降。阮金此时仍在爱老被召回,晋为太宰,兼都将,统率驻军平定西南地区。

逝世
阮金于乙巳年(1545年)被中厚侯杨执一(Duong Chap Nhat)下毒杀害。中厚侯原为莫朝将领,出身宦官,任掌部官员,得知黎庄宗起兵,即以诈降计欲害庄宗未成,遂邀太宰阮金至府,暗中将毒药置于西瓜内,阮金信以为真,食后中毒,回府时身体不适而亡。当天为乙巳年五月二十日,元和十四年。中厚侯逃逸,后归于莫福海。黎庄宗追赠阮金为昭勋靖公,谥号忠献,并命官员将其运回宋山(Tong Son)安葬。

家庭
妻妾
正室:阮氏梅(Nguyen Thi Mai),出身名门,为阮明辩(Nguyen Minh Bien)之女,明朝职官特进辅国上将军书卫司。生阮滉(Nguyen Hoang),卒于农历正月二十三日(年份不详),葬于长原陵,天尊山(Thanh Hoa)。

侧室:杜氏信(Do Thi Tin),不详,为阮氏玉宝(Nguyen Thi Ngoc Bao)之母。
侧室:不详,生阮昂(Nguyen Uong)。

子女
阮昂,为不详侧室所生。阮金死后,被黎庄宗封为朗郡公,但后遭郑檢所杀。
阮滉(1525–1613),正室阮氏梅所生,封下溪侯,统率军队征战,后成为越南南方阮氏开国之始。
阮氏玉宝,杜氏信所生,嫁郑檢,生郑宗(Trinh Tung);于安长府火灾中去世,追封慈懿王太妃。

史家评价
黎贵敦(Le Quy Don)在《大越通史》中评价:
“阮金以世家老将身份,持节守道,隐居山谷,专心恢复旧业,迎立世子,继承宗统,击败叛贼,扫除艰难,拓展清、乂、顺、广千余里疆土。国家万年基业,实始于此。此岂非社稷臣子乎?”

參考

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục (tập 1), Nxb Giáo Dục.
  5. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  6. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

 

Chấm điểm

Địa điểm liên quan

Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (25)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)