Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (1421 – 1496)

Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (1421 – 1496)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Ngô Thị Ngọc Dao (吳氏玉瑤; 1421 – 26 tháng 2 năm 1496), thường được tôn xưng là Quang Thục Thái hậu, Quang Thục Hoàng hậu hay Thái Tông Ngô Hoàng hậu, là một phi tần của vua Lê Thái Tông và là thân mẫu của Hoàng đế Lê Thánh Tông. Cuộc đời bà gắn liền với sự hình thành và củng cố vương quyền của con trai, trở thành điểm tựa tinh thần và chính trị đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đầu trị vì của Lê Thánh Tông. 

Sử sách ghi lại rằng Ngô Thái hậu là người hết lòng hỗ trợ con trong sự nghiệp dựng xây triều chính; Đại Việt sử ký toàn thư còn mô tả việc bà không quản đường sá xa xôi, đích thân đi đón Lê Thánh Tông trở về sau chiến dịch chinh phạt Chiêm Thành cuối năm 1470 – đầu năm 1471, thể hiện tình mẫu tử sâu nặng và vai trò hậu thuẫn bền bỉ của bà đối với bậc minh quân này. Cuộc đời và đức hạnh của Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, người được hậu thế kính trọng như hình mẫu của bậc mẫu nghi, vừa hiền hòa, đoan trang, vừa góp phần quan trọng vào sự hưng thịnh của triều Hậu Lê.

Xuất thân

Quang Thục Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao vốn xuất thân từ vùng đất Động Bàng thuộc huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa (nay là xã Định Hòa, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa), tuy cũng có tài liệu cho rằng quê gốc của bà là làng Thịnh Mỹ (làng Mía) thuộc xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân. Bà sinh ra trong một gia tộc danh giá, nhiều đời gắn bó với nhà Trần và đặc biệt là với triều Hậu Lê thời khởi nghĩa Lam Sơn. 

Từ đời cao tổ trở xuống, gia đình bà đều là những người có công lao và địa vị: cụ cao tổ Ngô Rô là bậc vọng tộc thời Trần, cụ bà Đinh Thị Quỳnh được phong Khôi Á Quận chúa; cụ tằng tổ Ngô Tây được tặng Kiến Tường hầu, còn cụ bà Đinh Thị Ngọc Luân được tặng Kiến Tường quận phu nhân. Ông nội bà, Ngô Kinh, từng là gia thần thân tín của Lê Khoáng và Lê Lợi, mất trước khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ nhưng được triều đình truy phong Thái phó, tước Hưng Quốc công, còn bà nội Đinh Thị Mại được tặng Hưng Quốc phu nhân. Cha bà là Ngô Từ – một trong những công thần khai quốc của nhà Lê Sơ – người đã góp phần bảo vệ căn cứ Lam Sơn, lo liệu quân lương trong buổi đầu kháng chiến chống Minh; về sau ông được tặng Tuyên phủ sứ Thái từ Thiếu bảo Quan nội hầu, rồi Chương Khánh công và cuối cùng là Ý Quốc công. Mẹ bà là Đinh Thị Ngọc Kế, con gái của danh tướng Hiển Khánh vương Đinh Lễ, còn bà ngoại họ Trần, húy Ngọc Huy, thuộc dòng dõi Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, nhờ đó Ngọc Dao mang trong mình cả huyết mạch của hoàng tộc Trần. 

Bà mất mẹ từ thuở nhỏ và được bà ngoại nuôi dưỡng; dân gian còn truyền nhiều giai thoại tốt lành về thuở ấu thời của bà, như việc người mẹ mộng thấy tiên nữ hay mùi hương lạ tỏa ra trong nhà khi bà ra đời, và khi lớn lên thường có “năm sắc mây” che trên đầu lúc đi làm ruộng. Có dị nhân từng gặp bà và nói rằng bà “đáng là mẹ của thiên hạ”, rồi biến mất, được coi là điềm báo về ngôi vị mẫu nghi tương lai. Chị ruột của bà, Ngô Thị Ngọc Xuân (hoặc Ngọc Viên), lại được tuyển vào hầu vua Lê Thái Tổ, càng khiến danh tiếng gia tộc họ Ngô thêm rạng rỡ. Tất cả những yếu tố ấy hợp lại tạo thành nền tảng xuất thân trâm anh, bồi đắp cho phẩm hạnh và vai trò mẫu nghi của Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao sau này

Cuộc đời

Năm 1436, khi mới khoảng 14 uổi, nhân dịp vào cung thăm chị, bà được vua Lê Thái Tông để ý và tuyển vào cung làm cung nhân nhờ dung hạnh và lời nói khuôn phép. Năm 1440, bà được phong Tiệp dư, ngự tại cung Khánh Phương, nhưng theo văn bia, bà chủ động từ chối ở hẳn nơi này vì Chiêu nghi Lê Nhật Lệ đang cư trú, khiến Thái Tông và cận thần nể trọng. Bà nổi tiếng đoan trang, lễ độ với bậc trên, nhân hậu với người dưới, nên rất được nhà vua yêu quý. Bà sinh con gái đầu lòng là Thao Quốc Trưởng công chúa Lê Thị Ngọc Phương (hoặc Diệu Quốc Trưởng công chúa).

Năm 1442, ngày 20 tháng 7 âm lịch, bà sinh hoàng tử Lê Tư Thành (về sau là vua Lê Thánh Tông). Trước khi sinh, bà phải chịu sóng gió hậu cung và sự ganh ghét của Nguyễn Thần phi – mẹ Thái tử Bang Cơ khiến bà bị vu cho mang thai yêu nghiệt hoặc liên lụy vụ án Huệ phi Lê Nhật Lệ. Có lúc Thái Tông bị kích động định xử tội bà, nhưng nhờ sự can gián của vợ chồng Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ (và có thể có cả Đinh Liệt), bà được tha và phải rời khỏi cung. Bà sinh Lê Tư Thành trong cảnh lưu lạc tại chùa Huy Văn ở kinh thành (một số nguồn cho rằng tại Đô Kỳ, Thái Bình). Chỉ ít tháng sau, Thái Tông đột ngột băng hà; vụ án Lệ Chi Viên nổ ra khiến Nguyễn Trãi và gia tộc bị tru di, còn bà phải sống lặng lẽ, ở góa nuôi con.

Dưới triều Lê Nhân Tông, Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thị Anh nhiếp chính. Năm Tư Thành bốn tuổi, hoàng tử được rước về kinh và phong Bình Nguyên vương; Ngô Tiệp Dư được thăng Sung viên, trông coi việc phụng thờ Thái miếu. Suốt 17 năm triều Nhân Tông, bà sống bình an bên con, chăm nom dạy bảo, góp phần lớn trong việc hun đúc nhân cách của Lê Tư Thành. Năm 1459, Lê Nghi Dân làm loạn, giết Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh; Tư Thành bị đổi phong Gia vương, còn Ngô Sung viên vẫn không bị hại. Năm 1460, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng… làm cuộc binh biến thứ hai, phế Nghi Dân và tôn Gia vương lên ngôi, tức Lê Thánh Tông. Bà được tôn làm Thánh mẫu Hoàng Thái hậu.

Từ đây, bà sống chủ yếu tại điện Thừa Hoa (xây năm 1468, trùng tu năm 1473) và thường trở về quê ngoại ở Đông Triều. Bà ăn chay niệm Phật, sống giản dị, cần kiệm; lấy đức khoan hậu để khuyên răn nhà vua, nên Lê Thánh Tông luôn kính cẩn tuân theo. Bà thường đem lụa vàng được ban cấp phân phát cứu giúp người nghèo, vì vậy trong cung người sang kẻ hèn đều kính gọi bà là “Phật sống”. Bà cũng tinh thông kinh truyện, làm thơ và dạy dỗ đàn cháu. Năm 1471, bà đi đường xa đến Nga Sơn để đón Thánh Tông trở về sau chiến dịch đánh Chiêm Thành.

Năm 1496, sau khi cùng vua về Lam Kinh, bà mắc bệnh (chính sử chép là bệnh kiết lỵ hoặc cảm nặng). Lê Thánh Tông và Thái tử Lê Tranh đêm ngày hầu cận, tự nếm thuốc thang trước. Đến khi sức cùng lực kiệt, bà qua đời ngày 26 tháng 2 nhuận, thọ 75 tuổi; Thánh Tông đau buồn truy tôn bà là Quang Thục Hoàng Thái hậu. Dù có thuyết khác cho rằng bà mất năm 1471 tại cửa Sót (Hà Tĩnh), nhưng các thư tịch cổ đều thống nhất bà mất năm 1496. Thi hài bà được đưa về an táng tại Sơn Lăng (Khôn Nguyên lăng) ở Lam Kinh. Năm 1498, vua Lê Hiến Tông cho dựng bia Khôn Nguyên Chí Đức Chi Bi, một trong những bảo vật quốc gia ngày nay. Tại quê hương, Thuần Mậu Đường trở thành Đền Thánh Mẫu, nơi nhân dân hằng năm mở hội từ 23–26 tháng 3 âm lịch; ngoài ra bà còn được thờ tại Đền Đồng Cần (Đức Thịnh, Hà Tĩnh).

Ngô Thị Ngọc Dao được sử gia đánh giá là người phụ nữ đức hạnh, khoan hậu, thông tuệ, hội đủ “công, dung, ngôn, hạnh”, xứng đáng đứng hàng đầu các vị Hoàng hậu nước Đại Việt. Cuộc đời bà trải qua nhiều oan khiên và hai cuộc đảo chính, nhưng cuối cùng vẫn được tôn trí ngôi vị Thái hậu và để lại ảnh hưởng sâu rộng. Bà được ví như người thợ đúc khuôn mẫu tinh xảo trong cung đình—trong khi hậu cung kẻ tranh người đấu, bà lặng lẽ “đúc nên” một vị minh quân toàn tài: Lê Thánh Tông, giúp triều Lê đạt thời kỳ thịnh trị nhất. Đời Hồng Đức về sau phong thụy đầy đủ cho bà là Quang Thục Trinh Huệ Khiêm Tiết Hòa Xung Nhân Thánh Hoàng Thái hậu.

Thờ phụng 

Việc tôn vinh và thờ phụng Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (Quang Thục Hoàng Thái hậu) được thể hiện xuyên suốt trong lịch sử qua những danh hiệu cao quý, các di tích tưởng niệm quy mô lớn và hệ thống đền thờ cùng lễ hội dân gian kéo dài qua nhiều thế kỷ. Với đức hạnh khiêm cung, nhân hậu, cần kiệm và lòng thương dân sâu sắc, bà được triều đình gọi là Mẫu nghi thiên hạ, còn trong cung đình và dân gian thì tôn kính gọi là “Phật sống” Lê triều.

Sự tôn kính dành cho bà hiện lên rõ rệt trong các di tích lịch sử tại Lam Kinh và Thăng Long. Thi hài của bà được an táng tại Sơn Lăng (Khôn Nguyên lăng) thuộc Khu di tích Lam Kinh. Hai năm sau, vào năm 1498, vua Lê Hiến Tông cho dựng tấm bia lớn Khôn Nguyên Chí Đức Chi Bi – một trong những bảo vật quốc gia tiêu biểu. Tấm bia đá xanh nặng khoảng 13 tấn, đặt trên lưng rùa lớn, ghi lại công đức và xuất thân của Hoàng Thái hậu, cũng như vai trò của bà trong việc nuôi dưỡng và dạy dỗ vua Lê Thánh Tông. Trên mặt sau của bia còn khắc bài thơ điếu của Lê Hiến Tông cùng 36 bài họa thơ của các danh sĩ đương thời, cho thấy mức độ tôn kính mà triều đình dành cho bà. Ngoài ra, tại kinh đô Thăng Long, Lê Thánh Tông còn cho tạc tượng và đúc chuông thờ mẹ tại điện Huy Văn.

Bên cạnh Lam Kinh, việc thờ phụng bà còn gắn liền với nhiều địa phương khác. Tại quê ngoại Thanh Hóa, năm 1468, vua Lê Thánh Tông cho xây dựng Thuần Mậu Đường để phụng dưỡng mẹ; đến năm 1473 thì đổi tên thành Thừa Hoa Điện. Sau khi bà qua đời, nơi này trở thành Đền Thánh Mẫu (Phủ Nhì) – trung tâm thờ tự quan trọng nằm trong quần thể di tích Đồng Phang (Yên Định, Thanh Hóa). Lễ hội Kỵ Đền, diễn ra từ ngày 23–26 tháng 3 âm lịch hằng năm, là dịp con cháu họ Ngô và khách thập phương dâng hương tưởng niệm công đức của Thánh Mẫu.

Ngoài Thanh Hóa, bà còn được thờ ở nhiều nơi gắn với cuộc đời và truyền thuyết liên quan. Đền Đồng Cần (Đức Thọ, Hà Tĩnh) tôn thờ Quang Thục Hoàng Thái hậu theo truyền thuyết bà mất tại cửa Sót năm 1471, dù chính sử xác nhận bà mất năm 1496 tại Thăng Long. Đây là di tích cấp quốc gia và là địa điểm thờ tự quan trọng trên đất Hoan Châu xưa. Bên cạnh đó, tại làng Đô Kỳ (Hưng Hà, Thái Bình), vua Lê Thánh Tông cho xây Dụ Phúc Đường để thờ Ngoại tổ mẫu – nơi mẹ con bà từng lánh nạn; nay trở thành Đền Bà Quốc Mẫu, một di tích văn hóa cấp tỉnh.

Từ triều đình đến dân gian, từ Lam Kinh đến Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Thái Bình, dấu ấn Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao hiện diện sâu bền qua các danh hiệu tôn kính, qua bia đá và đền miếu, qua những lễ hội truyền thống hằng năm. Bà không chỉ được ghi nhớ như một mẫu nghi có đức hạnh vẹn toàn, mà còn như biểu tượng của lòng nhân hậu, sự bền bỉ và vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nuôi dưỡng nên vị minh quân Lê Thánh Tông – người đưa Đại Việt bước vào thời kỳ thịnh trị rực rỡ.

Tham khảo 

  1. Ngô Thị Ngọc Dao, Wikipedia.
  2. Lê Uyên, Đây là bà Hoàng Thái Hậu nhà Lê Sơ có số phận “ba chìm bảy nổi”, chứng kiến 2 cuộc đảo chính, lật ngôi báu, Tạp chí Dân Việt, đăng tải ngày 07/12/2023.
  3. Từ cung nữ Bích Châu đến Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, trên trang http://vanhocnghethuathatinh.org.vn/, đăng tải ngày 15/8/2023.
  4. Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao: một nhân cách, một tấm gương đức hạnh, trên trang Họ Ngô Việt Nam, đăng tải ngày 04/05/2018.
  5. Phượng Tía, Nữ Nhân Đại Việt: Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao: “Phật Sống” Lê Triều, trên trang blog.vietales.vn, đăng tài ngày 20/10/2025.
  6. Hà Tĩnh: Khai lễ đền thánh mẫu Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, Tạp chí điện tử Thương hiệu & Pháp luật, đăng tải ngày 09/05/2024.
  7. Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, trên trang ditichlamkinh.vn.
  8. Lê Hoàng, Bia cổ hơn 500 tuổi khắc ghi công trạng hoàng thái hậụ, trên trang vnexpress.net, đăng tải ngày 2/5/2016. 

______________

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

General Information

Ngo Thi Ngoc Dao (吳氏玉瑤; 1421 – 26 February 1496), posthumously honored as Empress Quang Thuc, was a consort of King Le Thai Tong and the mother of Emperor Le Thanh Tong. Her life was closely intertwined with the formation and consolidation of her son’s royal authority, and she became an essential spiritual and political pillar during the early years of Le Thanh Tong’s reign.

Historical sources recount that Empress Quang Thuc devoted herself wholeheartedly to supporting her son’s governance. The Dai Viet Su Ky Toan Thu records that she personally traveled a long distance to welcome Le Thanh Tong back after his successful campaign against Champa in late 1470–early 1471—an event reflecting both her profound maternal affection and her enduring role in sustaining the enlightened monarch. Her life and virtues earned her deep reverence from later generations, who regarded her as a model empress—gentle, dignified, and contributing significantly to the prosperity of the Later Le dynasty.

Origin

Empress Quang Thuc, Ngo Thi Ngoc Dao, came from the land of Dong Bang in Yen Dinh district, Thanh Hoa prefecture (today Dinh Hoa commune, Yen Dinh district, Thanh Hoa province). Some sources, however, claim her ancestral hometown was Thinh My village (Mia village) in Tho Dien commune, Tho Xuan district. She was born into a distinguished lineage closely connected to the Tran dynasty and, in particular, to the Later Le dynasty during the Lam Son uprising.

From her great-great-grandparents onward, her family held merit and status. Her great-great-grandfather Ngo Ro was a prominent noble of the Tran era, while her great-great-grandmother Dinh Thi Quynh was granted the title Khoi A Princess. Her great-grandfather Ngo Tay was posthumously granted the title Kien Tuong Marquis, and her great-grandmother Dinh Thi Ngoc Luan was honored as Kien Tuong Marchioness. Her grandfather Ngo Kinh served as a trusted retainer of Le Khoang and Le Loi; though he passed away before the uprising, the court posthumously awarded him the title Grand Tutor and Duke of Hung Quoc, while her grandmother Dinh Thi Mai was honored as Lady of Hung Quoc. Her father, Ngo Tu—one of the founding meritorious officials of the Early Le dynasty—played a crucial role in safeguarding the Lam Son base and managing military provisions during the early resistance against the Ming. He was later granted the titles Chief Envoy of Pacification, Grand Guardian, Marquis of Quan Noi, and eventually Duke of Chuong Khanh and Duke of Y Quoc. Her mother, Dinh Thi Ngoc Ke, was the daughter of the famed general Dinh Le, Prince of Hien Khanh; her maternal grandmother, Trinh Ngoc Huy, belonged to the lineage of Prince Chieu Van Tran Nhat Duat. Thus, Ngoc Dao inherited the bloodline of the Tran royal family.

She lost her mother at a young age and was raised by her maternal grandmother. Popular folklore preserves many auspicious tales about her childhood—such as her mother dreaming of a celestial maiden or a strange fragrance filling the house at her birth, and as she grew older, “five-colored clouds” reportedly hovered above her as she worked in the fields. A mysterious sage once encountered her and declared she was “worthy to be the mother of the realm” before vanishing—an omen foretelling her future position. Her elder sister, Ngo Thi Ngoc Xuan (or Ngoc Vien), was later selected to serve King Le Thai To, further enhancing the prestige of the Ngo family. These elements together formed the illustrious background that nurtured the character and future role of Empress Quang Thuc.

Life

In 1436, at about fourteen years old, Ngoc Dao visited the palace to see her sister. King Le Thai Tong noticed her and selected her as a palace attendant due to her grace and proper conduct. In 1440, she was granted the title Thiep Du and resided in Khangh Phuong Palace; however, according to stele inscriptions, she modestly declined to remain permanently in the residence because Lady Le Nhat Le, titled Chieu Nghi, already lived there—an act that earned respect from the king and his courtiers. She became known for her dignified manners toward superiors and kindness toward subordinates, and the king cherished her deeply. She bore her first daughter, Princess Le Thi Ngoc Phuong (or Princess Dieu Quoc).

On the 20th day of the 7th lunar month in 1442, she gave birth to Prince Le Tu Thanh (later Emperor Le Thanh Tong). Before giving birth, she endured palace turmoil and jealousy from Consort Nguyen—the mother of Crown Prince Bang Co—who accused her of conceiving a demonic child or being involved in the scandal of Lady Hue Phi Le Nhat Le. At one point, the king, provoked by slander, nearly punished her; however, thanks to the intervention of Nguyen Trai and Nguyen Thi Lo (and possibly Dinh Liet), she was spared but forced to leave the palace. Ngoc Dao gave birth to Le Tu Thanh while living in seclusion at Huy Van Pagoda in the capital (some sources claim Do Ky in Thai Binh). Only a few months later, Le Thai Tong suddenly passed away; the Le Chi Vien case erupted, resulting in the execution of Nguyen Trai’s entire family, while Ngoc Dao lived quietly as a widowed mother raising her child.

During Emperor Le Nhan Tong’s reign, Bang Co ascended to the throne, and Nguyen Thi Anh served as regent. When Tu Thanh was four, he was brought back to the capital and granted the title Prince of Binh Nguyen, while Ngo Thiep Du was promoted to Sung Vien, charged with overseeing the ancestral temple. For seventeen years under Nhan Tong’s reign, she lived peacefully alongside her son, nurturing and educating him, greatly shaping his character. In 1459, Le Nghi Dan staged a coup, killing Nhan Tong and Empress Dowager Nguyen Thi Anh; Tu Thanh was demoted to Prince of Gia, but Ngo Sung Vien remained unharmed. In 1460, officials Nguyen Xi, Dinh Liet, Le Lang, and others launched a second uprising, deposed Nghi Dan, and enthroned Prince of Gia as Emperor Le Thanh Tong. She was honored as Holy Mother, Empress Dowager.

From then on, she lived primarily in Thua Hoa Palace (built in 1468, renovated in 1473) and frequently returned to her maternal homeland in Dong Trieu. She practiced vegetarianism, recited Buddhist scriptures, and led a humble, frugal life. With her gentle virtue, she advised the king, and Le Thanh Tong always honored her guidance. She often distributed the golden silk granted by the court to help the poor; thus, both palace and common folk respectfully called her the “Living Buddha.” A learned woman, she studied scriptures, composed poetry, and educated her grandchildren. In 1471, she traveled a long distance to Nga Son to welcome Le Thanh Tong after his victorious campaign against Champa.

In 1496, after accompanying the emperor to Lam Kinh, she fell ill (official chronicles describe it as dysentery or a severe chill). Emperor Le Thanh Tong and Crown Prince Le Tranh cared for her day and night, even tasting her medicine first. Exhausted, she passed away on the 26th day of the leap 2nd lunar month at the age of seventy-five. Le Thanh Tong, in deep mourning, posthumously conferred upon her the title Empress Quang Thuc. Although some theories claim she died in 1471 at Cua Sot (Ha Tinh), historical texts consistently record her passing in 1496. Her remains were interred at Son Lang (Khon Nguyen Tomb) in Lam Kinh. In 1498, Emperor Le Hien Tong erected the stele Khon Nguyen Chi Duc Chi Bi, now a national treasure. In her homeland, Thuan Mau Hall became the Temple of the Holy Mother, where annual festivals are held from the 23rd to the 26th day of the 3rd lunar month. She is also venerated at Dong Can Temple in Duc Thinh, Ha Tinh.

Historians regard Ngo Thi Ngoc Dao as a virtuous, magnanimous, and wise woman who embodied the four Confucian qualities: merit, grace, speech, and conduct. Despite enduring misfortunes and two coups, she ultimately attained the rank of Empress Dowager and left a lasting legacy. She is often compared to a master sculptor who, quietly and patiently, “molded” an exemplary ruler—Emperor Le Thanh Tong—while the inner palace was rife with intrigue. Thanks to her guidance, the Later Le dynasty reached its most prosperous era. During the Hong Duc period, she was posthumously granted the full honorific Quang Thuc Trinh Hue Khiem Tiet Hoa Xung Nhan Thanh, Empress Dowager.

Veneration

The veneration of Empress Quang Thuc is reflected throughout history in the prestigious posthumous titles bestowed upon her, the large commemorative monuments, and the network of temples and local festivals that have persisted for centuries. With her humility, compassion, frugality, and profound love for the people, she was honored by the court as Mother of the Realm and revered by both palace and populace as the “Living Buddha” of the Le dynasty.

Her reverence is evident in historical sites in Lam Kinh and Thang Long. Her remains were interred at Son Lang (Khon Nguyen Tomb) in the Lam Kinh Relic Complex. Two years later, in 1498, Emperor Le Hien Tong erected the monumental stele Khon Nguyen Chi Duc Chi Bi, one of Vietnam’s national treasures today. Carved on a 13-ton greenstone turtle-base stele, the inscription records the merits and lineage of the Empress, as well as her role in raising and educating Emperor Le Thanh Tong. The reverse side bears an elegiac poem by Le Hien Tong, accompanied by thirty-six poetic responses from eminent scholars, demonstrating the court’s profound respect for her. In Thang Long, Emperor Le Thanh Tong also had her statue sculpted and a ceremonial bell cast for worship at Huy Van Palace.

Beyond Lam Kinh, she is venerated in several other localities associated with her life and legend. In her maternal homeland of Thanh Hoa, Emperor Le Thanh Tong built Thuan Mau Hall in 1468 to care for his mother; in 1473, it was renamed Thua Hoa Palace. After her passing, it became the Temple of the Holy Mother (Second Palace), a major shrine within the Dong Phang Relic Complex of Yen Dinh. The annual Ky Den Festival, held from the 23rd to the 26th day of the 3rd lunar month, gathers descendants of the Ngo clan and pilgrims from afar to honor her virtue.

In addition to Thanh Hoa, she is worshiped in many other places connected to her life. Dong Can Temple in Duc Tho, Ha Tinh venerates Empress Quang Thuc based on the legend that she died at Cua Sot in 1471, though official history records her death in 1496 at Thang Long. This site is a national relic and a key shrine of ancient Hoan Chau. At Do Ky village (Hung Ha, Thai Binh), Emperor Le Thanh Tong built Du Phuc Hall to worship his maternal great-grandmother at the place where his mother once took refuge; it later became the Temple of the National Mother, a provincial cultural relic.

From the royal court to the common people, from Lam Kinh to Thanh Hoa, Ha Tinh, and Thai Binh, the legacy of Empress Quang Thuc endures through titles, monuments, temples, and annual festivals. She is remembered not merely as a virtuous empress dowager but also as a symbol of compassion, resilience, and profound influence in nurturing Emperor Le Thanh Tong—the ruler who ushered Dai Viet into its most illustrious age.

References

  1. Ngô Thị Ngọc Dao, Wikipedia.
  2. Lê Uyên, Đây là bà Hoàng Thái Hậu nhà Lê Sơ có số phận “ba chìm bảy nổi”, chứng kiến 2 cuộc đảo chính, lật ngôi báu, Tạp chí Dân Việt, đăng tải ngày 07/12/2023.
  3. Từ cung nữ Bích Châu đến Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, trên trang http://vanhocnghethuathatinh.org.vn/, đăng tải ngày 15/8/2023.
  4. Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao: một nhân cách, một tấm gương đức hạnh, trên trang Họ Ngô Việt Nam, đăng tải ngày 04/05/2018.
  5. Phượng Tía, Nữ Nhân Đại Việt: Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao: “Phật Sống” Lê Triều, trên trang blog.vietales.vn, đăng tài ngày 20/10/2025.
  6. Hà Tĩnh: Khai lễ đền thánh mẫu Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, Tạp chí điện tử Thương hiệu & Pháp luật, đăng tải ngày 09/05/2024.
  7. Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, trên trang ditichlamkinh.vn.
  8. Lê Hoàng, Bia cổ hơn 500 tuổi khắc ghi công trạng hoàng thái hậụ, trên trang vnexpress.net, đăng tải ngày 2/5/2016. 

Tiếng Trung (中文)

基本信息

吳氏玉瑤(Wu Thi Ngoc Dao;1421-1496年2月26日),尊號為光淑太后、光淑皇后,或稱太宗吳皇后,是黎太宗的嬪妃,也是黎聖宗的生母。她的一生與聖宗皇帝鞏固皇權的進程緊密相連,成為其即位初期極為重要的精神與政治支柱。

史籍記載,吳太后盡心輔佐皇子治理朝政。《大越史記全書》亦記述她不辭路途遙遠,在1470年底至1471年初的平占遠征後,親自前往迎接黎聖宗歸朝,展現深厚母子情誼與堅定不移的支持。其一生清德備著,被後世尊為母儀典範,既溫和端莊,又對後黎朝的興盛作出極大貢獻。

出身

光淑皇太后吳氏玉瑤原籍清化府安定縣洞榜地區(今清化省安定縣定和社),亦有史料稱其故鄉為壽春縣壽延社盛美村(又稱米村)。她出生於名門世家,與陳朝及後黎朝(藍山起義)均有深厚淵源。

自高祖以降,她的家族多為顯貴:

高祖吳汝為陳朝望族,高祖母丁氏瓊受封盔雅郡主;曾祖吳西受贈建祥侯,曾祖母丁氏玉鸞受贈建祥郡夫人。祖父吳卿是黎桓與黎利的心腹家臣,於起義爆發前去世,後被追封太傅、興國公;祖母丁氏邁被封興國夫人。她的父親吳慈是黎初開國功臣之一,曾協助守護藍山基地、籌措軍餉,後被贈宣府使太傅少保關內侯、章慶公,最終為意國公。母親丁氏玉繼是顯慶王丁禮之女,外祖母陳氏玉輝為昭文王陳日煥後裔,故玉瑤亦兼具陳室皇族血脈。

幼年喪母,由外祖母撫養。民間流傳許多關於她童年的祥瑞故事,如母親夢見仙女、她出生時異香滿室,及長大後下田時頭上常有「五色雲」遮蔭。也有異人見到她後稱其「當為天下之母」,隨即消失,被視為母儀將臨的預兆。其姊吳氏玉春(或玉圓)後入侍黎太祖,使吳氏家族聲望更加顯赫。種種因素共同奠定了她日後成為皇太后的品德與威儀基礎。

生平

1436年,年僅十四歲的她因入宮探望姐姐而被黎太宗賞識,因其容儀與言行端正,被選為宮人。1440年,她受封「婕妤」,居慶芳宮;但根據碑文記載,因昭儀黎日麗居於此宫,她主動請求不久居於宮中,其謙讓品德令太宗與群臣皆敬佩。她以端莊、禮度、仁厚著稱,深得皇帝愛重,並生下長女修國長公主黎氏玉芳(或妙國長公主)。

1442年農曆七月二十日,她誕下皇子黎思誠(後為黎聖宗)。在此之前,她曾遭受後宮妒忌與誣陷,尤其是太子邦柯之母阮宸妃的敵意,使她被牽連入惠妃黎日麗之案。太宗一度受挑唆,欲治她之罪,幸得阮廌與阮氏路夫婦(亦有丁列參與之說)力諫,最終免罪但被逐出宮。她在京城徽文寺(或據部分資料為太平多奇村)生下黎思誠。不久後太宗暴逝,隨即爆發「荔枝園案」,阮廌一家被株連,而她則守寡撫子,生活清苦。

黎仁宗即位後,由阮氏英攝政。思誠四歲時被迎回京師,封平原王,吳婕妤晉封充媛,主管太廟奉祀。其後十七年間,她安穩地撫育皇子,對其人格養成影響深遠。1459年,黎宜民發動政變,弒仁宗與皇太后阮氏英;思誠被改封嘉王,而吳充媛並未受害。1460年,群臣阮泌、丁列、黎琅等再度發動兵變,廢黜宜民,擁立嘉王即位,是為黎聖宗。吳氏被尊為聖母皇太后。

此後,她多居於承和殿(1468年建、1473年修),並常返外家東朝地區。她吃素念佛、生活儉樸,以寬厚之德規勸皇帝,黎聖宗亦恭敬遵從。她常將皇帝賞賜的黃綢分施貧民,宮中上下皆敬稱她為「活佛」。她亦精通經傳,擅詩文,並教導諸皇孫。1471年,她不辭辛勞遠赴宜山迎接聖宗凱旋。

1496年,她隨皇帝回藍京後染疾(史稱赤痢或重感冒)。黎聖宗與太子黎鏳晝夜侍奉,先嚐藥湯。病勢垂危時,她於閏二月二十六日去世,享年七十五歲;聖宗悲痛,追尊為光淑皇太后。雖有傳聞稱她於1471年逝於疏門(河靜),但正史皆載其卒於1496年。其遺體葬於藍京山陵(坤元陵)。1498年,黎憲宗立「坤元至德之碑」,今為越南國家珍貴文物之一。在其故鄉,純懋堂後成為聖母殿,每年農曆三月二十三至二十六日舉行祭典;此外,她亦受祀於同勤殿(河靜德盛)。

吳氏玉瑤被史家評為德行寬厚、智慧淵博,兼具「功、容、言、行」的女性典範,居大越歷代皇后之首。她雖歷經流離與兩次政變,最終仍尊為皇太后,並對越南王朝留下深遠影響。她被譽為宮廷中「鑄造明君的巧匠」——在爭鬥紛亂的後宮中,她默默「塑造」了一位全才的聖君黎聖宗,助後黎朝達至最鼎盛的洪德盛世。後世為她加上全諡「光淑貞惠謙節和融仁聖皇太后」。

祭祀

對光淑皇太后吳氏玉瑤(Quang Thuc Hoang Thai Hau)的尊崇,貫穿歷代歷史,體現在諸多尊號、大型紀念遺跡、祭祀建築與綿延數百年的民間祭典之中。以其謙恭、仁厚、儉樸與愛民之德,她被朝廷尊為「母儀天下」,宮廷與民間更敬稱她為「黎朝活佛」。

在藍京與昇龍的歷史遺跡中,對她的敬仰尤為明顯。她的遺體葬於藍京山陵(坤元陵)。1498年,黎憲宗建造重量約十三噸的大型青石碑「坤元至德之碑」,碑身置於大龜座上,記述她的功德、出身及其在培育黎聖宗中的重要角色。碑背刻有憲宗的弔詩與三十六首名士和詩,足見其所受敬重。此外,在昇龍京城,黎聖宗亦在徽文殿為母親鑄鐘、塑像供奉。

在歸外清化,1468年黎聖宗為奉養母親建純懋堂,1473年改名承和殿。她逝世後,此處成為聖母殿(府二),屬同芳遺跡群之核心祭祀地。每年農曆三月二十三至二十六日舉行「忌殿祭」,吳氏後裔與各地民眾前往祭拜。

除清化外,她亦在與其生平傳說相關的多地受祀。如河靜德壽的同勤殿供奉光淑皇太后,因傳說她於1471年卒於疏門,儘管正史載其死於1496年昇龍。此處為國家級遺跡,為古時桓州的重要祭祀地。此外,在太平興河的多奇村,黎聖宗為祭祀外祖母建「裕福堂」,後成為「國母殿」,為省級文化遺跡。

從朝廷到民間、從藍京到清化、河靜與太平,光淑皇太后吳氏玉瑤的印記以尊號、石碑、殿宇與祭典延續流傳。她不僅是德行備著的母儀典範,也是仁心、堅韌與母教之象徵,更是培育明君黎聖宗,使大越步入燦爛盛世的重要人物。

參考資料

  1. Ngô Thị Ngọc Dao, Wikipedia.
  2. Lê Uyên, Đây là bà Hoàng Thái Hậu nhà Lê Sơ có số phận “ba chìm bảy nổi”, chứng kiến 2 cuộc đảo chính, lật ngôi báu, Tạp chí Dân Việt, đăng tải ngày 07/12/2023.
  3. Từ cung nữ Bích Châu đến Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, trên trang http://vanhocnghethuathatinh.org.vn/, đăng tải ngày 15/8/2023.
  4. Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao: một nhân cách, một tấm gương đức hạnh, trên trang Họ Ngô Việt Nam, đăng tải ngày 04/05/2018.
  5. Phượng Tía, Nữ Nhân Đại Việt: Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao: “Phật Sống” Lê Triều, trên trang blog.vietales.vn, đăng tài ngày 20/10/2025.
  6. Hà Tĩnh: Khai lễ đền thánh mẫu Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, Tạp chí điện tử Thương hiệu & Pháp luật, đăng tải ngày 09/05/2024.
  7. Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, trên trang ditichlamkinh.vn.
  8. Lê Hoàng, Bia cổ hơn 500 tuổi khắc ghi công trạng hoàng thái hậụ, trên trang vnexpress.net, đăng tải ngày 2/5/2016. 

Tiếng Pháp (Français’)

Informations générales

Ngo Thi Ngoc Dao (吳氏玉瑤 ; 1421 – 26 février 1496), honorée sous les titres de Quang Thuc Thai hau, Quang Thuc Hoang hau ou Thai Tong Ngo Hoang hau, fut une concubine du roi Le Thai Tong et la mère de l’empereur Le Thanh Tong. Sa vie gắn liền với la consolidation de l’autorité royale de son fils, devenant un pilier spirituel et politique particulièrement important durant les premières années du règne de Le Thanh Tong.

Les chroniques rapportent que la Reine-Mère Ngo fut entièrement dévouée à soutenir son fils dans l’édification du gouvernement. Le Dai Viet su ky toan thu mentionne notamment qu’elle n’hésita pas à parcourir un long trajet pour accueillir Le Thanh Tong à son retour de la campagne militaire contre le royaume de Chiem Thanh à la fin de 1470 – début 1471, témoignant d’un profond attachement maternel et d’un soutien constant envers ce souverain éclairé. La vie et les vertus de Hoang Thai hau Ngo Thi Ngoc Dao, figure considérée par la postérité comme un modèle de reine-mère, à la fois douce, vertueuse et déterminante pour la prospérité de la dynastie des Hau Le, sont restées exemplaires.

Origines

Quang Thuc Hoang Thai hau Ngo Thi Ngoc Dao était originaire de la région de Dong Bang dans le district de Yen Dinh, province de Thanh Hoa (aujourd’hui commune de Dinh Hoa, district de Yen Dinh, province de Thanh Hoa), bien que certaines sources affirment que sa famille venait du village Thinh My (lang Mia), commune de Tho Dien, district de Tho Xuan. Elle appartenait à une lignée prestigieuse, étroitement liée à la dynastie des Tran ainsi qu’à la dynastie des Hau Le, notamment durant l’insurrection de Lam Son.

Ses ancêtres jouirent de hautes fonctions : son arrière-arrière-grand-père Ngo Ro appartenait à la noblesse sous les Tran ; son arrière-arrière-grand-mère Dinh Thi Quynh fut titrée Khoi A Quan chua ; son arrière-grand-père Ngo Tay reçut le titre de Kien Tuong hau, et son arrière-grand-mère Dinh Thi Ngoc Luan celui de Kien Tuong quan phu nhan. Son grand-père Ngo Kinh fut un proche serviteur de Le Khoang et Le Loi ; bien qu’il soit décédé avant le déclenchement de l’insurrection, il fut honoré à titre posthume du rang de Thai pho, marquis Hung Quoc cong, tandis que sa grand-mère Dinh Thi Mai reçut le titre de Hung Quoc phu nhan. Son père, Ngo Tu, figure parmi les fondateurs de la dynastie des Le So ; il contribua à défendre la base de Lam Son et à assurer le ravitaillement durant les premières années de la résistance contre les Ming. Plus tard, il fut élevé successivement aux titres de Tuyen phu su Thai tu Thieu bao Quan noi hau, puis Chuong Khanh cong, et enfin Y Quoc cong. Sa mère, Dinh Thi Ngoc Ke, était la fille du général Hien Khanh vuong Dinh Le, et sa grand-mère maternelle, de la famille Tran, portait le nom Ngoc Huy, descendante du prince Chieu Van vuong Tran Nhat Duat. Ainsi, Ngoc Dao héritait à la fois du sang des Tran et des Le.

Orpheline de mère dès son enfance, elle fut élevée par sa grand-mère, et la tradition populaire conserve de nombreux récits merveilleux sur sa jeunesse : sa mère aurait rêvé d’une fée avant sa naissance, une fragrance surnaturelle se serait répandue dans la maison à sa venue au monde, et enfant, un « nuage aux cinq couleurs » aurait souvent plané au-dessus d’elle lorsqu’elle travaillait aux champs. Un devin, l’ayant rencontrée, déclara qu’elle “était destinée à être la mère du royaume”, puis disparut, ce qui fut interprété comme un présage de sa future position. Sa sœur aînée Ngo Thi Ngoc Xuan (ou Ngoc Vien) fut choisie pour servir le roi Le Thai To, ce qui rehaussa encore le prestige de la famille Ngo. Ces éléments contribuèrent à forger l’origine illustre qui allait soutenir la destinée exceptionnelle de Ngo Thi Ngoc Dao.

Vie

En 1436, à environ quatorze ans, elle accompagna sa sœur au palais et attira l’attention du roi Le Thai Tong qui l’intégra parmi les cung nhan en raison de sa beauté et de son comportement irréprochable. En 1440, elle reçut le titre de Tiep du et résida au cung Khanh Phuong ; mais selon les inscriptions, elle refusa de s’y établir durablement parce que la Chieu nghi Le Nhat Le y vivait déjà, ce qui suscita l’estime du souverain et de ses courtisans. Célèbre pour sa décence, sa piété filiale et sa bonté envers les serviteurs, elle jouissait d’une grande affection du roi. Elle donna naissance à une fille, la princesse Thao Quoc Truong cong chua Le Thi Ngoc Phuong (ou Dieu Quoc Truong cong chua).

En 1442, le 20e jour du 7e mois lunaire, elle mit au monde le prince Le Tu Thanh (futur Le Thanh Tong). Avant l’accouchement, elle fut victime de rivalités intestines et de la jalousie de Nguyen Than phi, mère du prince héritier Bang Co, qui l’accusa de porter un enfant « monstrueux » ou d’être impliquée dans l’affaire de Hue phi Le Nhat Le. Le roi, influencé, voulut la punir, mais grâce à l’intervention de Nguyen Trai, Nguyen Thi Lo (et peut-être Dinh Liet), elle fut épargnée et expulsée du palais. Elle donna naissance au futur souverain dans des conditions difficiles, au chua Huy Van à Thang Long (certaines sources évoquent Do Ky, Thai Binh). Quelques mois plus tard, Le Thai Tong mourut subitement ; l’affaire de Le Chi Vien éclata, entraînant l’extermination de la famille Nguyen Trai, tandis qu’elle-même dut vivre retirée, veuve et consacrée à élever son fils.

Sous Le Nhan Tong, le prince Bang Co monta sur le trône, et Nguyen Thi Anh assura la régence. À quatre ans, Tu Thanh fut ramené à la capitale et titré Binh Nguyen vuong ; Ngo Tiep du devint Sung vien et fut chargée du culte des ancêtres royaux. Pendant les 17 années du règne de Nhan Tong, elle vécut paisiblement, veillant à l’éducation de son fils. En 1459, Le Nghi Dan fomenta un coup d’État, tuant Nhan Tong et la reine-mère Nguyen Thi Anh ; Tu Thanh fut rétrogradé au rang de Gia vuong, mais Ngo Sung vien ne fut pas inquiétée. En 1460, les dignitaires Nguyen Xi, Dinh Liet, Le Lang… renversèrent Nghi Dan et intronisèrent Gia vuong sous le nom de Le Thanh Tong. Elle reçut alors le titre de Thanh mau Hoang Thai hau.

À partir de là, elle résida principalement au palais Thua Hoa (Thua Hoa Dien), construit en 1468 et restauré en 1473, et séjournait souvent chez sa famille maternelle à Dong Trieu. Elle menait une vie frugale, végétarienne, pieuse, consacrée au Bouddhisme ; elle conseillait le roi avec bienveillance, et Le Thanh Tong lui témoignait un profond respect. Elle distribuait fréquemment les étoffes de soie qui lui étaient offertes pour aider les pauvres, si bien que toute la cour la surnommait “Bouddha vivant”. Érudite, poétesse, elle éduquait aussi ses petits-enfants. En 1471, elle fit le long voyage jusqu’à Nga Son pour accueillir son fils revenant de la campagne contre Chiem Thanh.

En 1496, après un voyage au Lam Kinh, elle tomba malade (les annales évoquent la dysenterie ou une forte fièvre). Le Thanh Tong et le prince héritier Le Tranh la veillèrent jour et nuit, goûtant même les médicaments avant elle. À l’extrême affaiblissement, elle mourut le 26 février intercalaire, à l’âge de 75 ans ; Le Thanh Tong, accablé, la fit élever au rang de Quang Thuc Hoang Thai hau. Bien qu’une tradition rapporte sa mort en 1471 à Cua Sot (Ha Tinh), les sources officielles confirment son décès en 1496. Sa dépouille fut inhumée au Son Lang (Khon Nguyen lang) du Lam Kinh. En 1498, Le Hien Tong fit ériger la stèle Khon Nguyen Chi Duc Chi Bi, aujourd’hui classée trésor national. Dans son pays natal, la Thuan Mau Duong devint le Den Thanh Mau, où se tient chaque année une fête du 23 au 26 du 3e mois lunaire ; elle est également honorée au Den Dong Can (Duc Thinh, Ha Tinh).

Ngo Thi Ngoc Dao est considérée par les historiens comme une femme exemplaire, vertueuse, bienveillante et instruite, réunissant les qualités de “travail, apparence, parole, conduite”, méritant d’être classée parmi les plus grandes reines de Dai Viet. Malgré les épreuves et deux coups d’État, elle conserva sa dignité et joua un rôle majeur dans l’ascension de son fils. Elle est souvent comparée à une artisane façonnant un chef-d’œuvre : au sein d’un harem tumultueux, elle forgea silencieusement un souverain accompli — Le Thanh Tong — qui mena la dynastie des Le à son apogée. Sous le règne Hong Duc, elle fut honorée du titre complet : Quang Thuc Trinh Hue Khiem Tiet Hoa Xung Nhan Thanh Hoang Thai hau.

Culte

Le culte dédié à Hoang Thai hau Ngo Thi Ngoc Dao (Quang Thuc Hoang Thai hau) se manifeste à travers les titres honorifiques, les monuments commémoratifs et les sanctuaires érigés en son hommage durant plusieurs siècles. Réputée pour son humilité, sa bienveillance, sa frugalité et son amour du peuple, elle fut appelée Mau nghi thien ha, et dans la cour comme dans le peuple, “Bouddha vivant” de la dynastie des Le.

Son souvenir est particulièrement présent dans les sites historiques de Lam Kinh et Thang Long. Sa tombe, située au Son Lang (Khon Nguyen lang) du complexe de Lam Kinh, fut complétée en 1498 par la grande stèle Khon Nguyen Chi Duc Chi Bi, l’un des trésors nationaux les plus remarquables. Ce monument de pierre bleue, d’environ 13 tonnes, reposant sur une grande tortue, retrace son origine, ses mérites et son rôle dans l’éducation du roi Le Thanh Tong. Le versant arrière porte un poème funéraire de Le Hien Tong ainsi que trente-six poèmes composés par les lettrés contemporains — témoignage éloquent de la vénération qui lui était vouée. À Thang Long, Le Thanh Tong fit également sculpter sa statue et fondre une cloche en son honneur au dien Huy Van.

Outre Lam Kinh, plusieurs localités abritent son culte. À Thanh Hoa, en 1468, Le Thanh Tong fit construire Thuan Mau Duong pour la servir ; en 1473, l’édifice fut renommé Thua Hoa Dien, puis devint après sa mort le Den Thanh Mau (Phu Nhi), centre cultuel du complexe Dong Phang (Yen Dinh, Thanh Hoa). La fête Ky Den, du 23 au 26 du 3e mois lunaire, rassemble les descendants de la famille Ngo et des pèlerins venus lui rendre hommage.

À Ha Tinh, le Den Dong Can (Duc Tho) perpétue une tradition affirmant qu’elle mourut à Cua Sot en 1471 — bien que les annales contredisent cette version. Ce sanctuaire est aujourd’hui un site national classé. À Do Ky (Hung Ha, Thai Binh), Le Thanh Tong fit édifier Du Phuc Duong en mémoire de sa grand-mère maternelle — lieu où elle et son fils avaient trouvé refuge ; aujourd’hui, ce site est connu sous le nom de Den Ba Quoc Mau, classé au niveau provincial.

Du palais impérial aux villages, de Lam Kinh à Thanh Hoa, Ha Tinh et Thai Binh, l’empreinte de Hoang Thai hau Ngo Thi Ngoc Dao demeure profondément ancrée dans la mémoire collective : à travers les titres honorifiques, les stèles et sanctuaires, et les fêtes traditionnelles. Elle est rappelée non seulement comme une reine-mère d’une grande vertu, mais aussi comme un symbole de compassion, de résilience et de rôle fondamental dans la formation du souverain éclairé Le Thanh Tong, qui mena Dai Viet à son âge d’or.

Références

  1. Ngô Thị Ngọc Dao, Wikipedia.
  2. Lê Uyên, Đây là bà Hoàng Thái Hậu nhà Lê Sơ có số phận “ba chìm bảy nổi”, chứng kiến 2 cuộc đảo chính, lật ngôi báu, Tạp chí Dân Việt, đăng tải ngày 07/12/2023.
  3. Từ cung nữ Bích Châu đến Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, trên trang http://vanhocnghethuathatinh.org.vn/, đăng tải ngày 15/8/2023.
  4. Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao: một nhân cách, một tấm gương đức hạnh, trên trang Họ Ngô Việt Nam, đăng tải ngày 04/05/2018.
  5. Phượng Tía, Nữ Nhân Đại Việt: Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao: “Phật Sống” Lê Triều, trên trang blog.vietales.vn, đăng tài ngày 20/10/2025.
  6. Hà Tĩnh: Khai lễ đền thánh mẫu Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, Tạp chí điện tử Thương hiệu & Pháp luật, đăng tải ngày 09/05/2024.
  7. Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, trên trang ditichlamkinh.vn.
  8. Lê Hoàng, Bia cổ hơn 500 tuổi khắc ghi công trạng hoàng thái hậụ, trên trang vnexpress.net, đăng tải ngày 2/5/2016. 
Chấm điểm
Chia sẻ
12

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)