Chùa Miêng Hạ (Đại Bi tự – Ứng Thiên, Hà Nội)

Chùa Miêng Hạ (Đại Bi tự – Ứng Thiên, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Miêng Hạ, có tên chữ Đại Bi tự (大 慈 寺) thuộc cụm di tích đìnhđền – chùa Miêng Hạ xưa thuộc thôn Nghiêm Xá, xã Sơn Minh, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Thiên (nay thuộc xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội). Địa phận thôn Nghiêm Xá xưa: phía Đông giáp với Hoa Chẩn; phía Tây giáp Thượng thôn; phía Nam giáp Cao Lãm và phía Bắc giáp Áng Tre. Đến thời Nguyễn, do kiêng húy dưới triều Minh Mạng (1820 – 1840), tên địa danh “Minh” được thay bằng “Miêng”.

Lịch sử và nhân vật

Hiện chưa xác định được niên đại khởi dựng chùa qua tư liệu trực tiếp. Tuy nhiên, căn cứ vào các di vật còn lưu giữ, tiêu biểu là bia Trùng tu Đại Bi (重 修 大 慈) khắc năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751), có thể khẳng định chùa đã tồn tại từ trước năm này và đã trải qua các hoạt động trùng tu vào giữa thế kỷ XVIII.

Kiến trúc cảnh quan

Trải qua thời gian và những biến cố lịch sử, nhiều hạng mục kiến trúc của chùa bị hư hỏng hoặc phá hủy hoàn toàn, dẫn đến sự thay đổi so với diện mạo ban đầu. Hiện nay tổng thể di tích bao gồm các hạng mục chính: Tam Quan, Gác Chuông, Tam Bảo, Nhà Tổ, Tháp mộ và Sơn Minh động.

Tam Quan

Cổng Tam Quan của chùa nằm ở phía trước khu nội tự, đảm nhận chức năng phân định giữa không gian thế tục và không gian thờ tự. Về trục bố cục, công trình được tổ chức theo trục thần đạo rõ ràng, gồm ba khoảng mở phân bố cân đối; lối giữa rộng hơn hai lối bên, thể hiện mô thức Tam Quan truyền thống. Mái lợp ngói mũi sen màu đỏ; trên đỉnh mái giữa có hoa văn mặt trời, hai đầu góc mái trang trí tượng con kìm với đuôi uốn cong. Trên xà thượng lương còn ghi dấu mốc trùng tu, sửa chữa vào năm Quý Dậu (1993).

Phần thân cổng bố trí hệ bốn hàng cột tạo thành ba ô cửa vòm; vòm cửa chính có bức đại chữ Hán 大 慈 寺 (Đại Bi tự). Phía trước, sát hai đầu hồi, đặt hai trụ biểu xây cao hơn mái; mỗi trụ biểu chia ba phần rõ rệt: chân đế, thân trụ và đỉnh trụ, trên thân trụ đắp nổi đôi câu đối chữ Hán. Nền cổng lát gạch Bát Tràng, kết hợp hệ bậc xây thấp mở ngang theo toàn bộ chiều rộng công trình, tạo sự chuyển tiếp nhẹ nhàng từ không gian ngoài vào nội tự.

Qua cổng Tam Quan, dọc theo đường thần đạo dẫn tới Gác Chuông có đặt tượng Quán Thế Âm Bồ tát điêu khắc bằng đá trắng. Tượng ở tư thế đứng thẳng trên đài sen, toàn thân khoác áo tràng dài với nếp áo rủ sóng mềm mại buông xuống tới chân; cổ cao ba ngấn và đeo vòng dây anh lạc.

Khuôn mặt tượng toát lên vẻ từ bi, thoát tục: đôi mắt khép hờ nhìn xuống, miệng thoáng mỉm cười. Tay phải giơ ngang ngực, lòng bàn tay hướng về phía trước, ngón cái và ngón áp út chạm nhau, tạo thành thủ ấn Giáo Hóa. Tay trái hạ thấp ngang bụng, cầm bình thanh tịnh (bình cam lộ) chúc nhẹ xuống, biểu thị hành động tưới nước cam lộ xoa dịu khổ đau cho chúng sinh.

Gác Chuông

Gác chuông có thể được khởi dựng đồng thời với chùa trong cùng một đợt kiến thiết ban đầu. Trải qua thời gian cùng những biến động lịch sử, công trình bị xuống cấp và hư hại, vì vậy đến tháng 9 năm Quý Mão, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783), Gác Chuông đã được trùng tu, tôn tạo nhằm khôi phục giá trị sử dụng và giá trị biểu tượng. Diện mạo hiện nay của Gác Chuông là kết quả của đợt đại tu năm 2005. Qua đó, ta thấy rằng công trình đã nhiều lần được sửa chữa trong quá trình tồn tại.

Về kiến trúc, Gác Chuông có mặt bằng hình vuông, bố cục hai tầng, tám mái, là dạng thức quen thuộc trong kiến trúc tôn giáo truyền thống. Mái lợp ngói mũi sen, các đầu đao uốn cong mềm mại, tạo cảm giác thanh thoát nhưng vẫn giữ sự bề thế. Tại hai đầu góc mái gắn tượng hình con kìm, một mô típ trang trí vừa mang ý nghĩa biểu tượng vừa tạo điểm nhấn cho đường nét mái. Hệ kết cấu Gác Chuông được thiết kế chắc chắn. Vì nóc làm theo kiểu chồng rường – giá chiêng, còn vì nách theo kiểu chồng rường bán giá chiêng; đây là giải pháp kết cấu tiêu biểu trong kiến trúc gỗ truyền thống, vừa bảo đảm khả năng chịu lực, vừa tạo nên nhịp điệu không gian bên trong. Các con rường được chạm khắc hình nghê và mây lửa cách điệu, cho thấy sự kết hợp giữa chức năng kết cấu và nghệ thuật trang trí, đồng thời phản ánh trình độ tay nghề của hiệp thợ khi xưa.

Hiện nay, tầng trên của Gác Chuông được lát sàn gỗ, bên trong treo quả chuông đồng Trùng chú Đại Bi tự chung ký (重鑄大悲寺鐘記), đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1796). Quả chuông là hiện vật quan trọng, vừa có giá trị tư liệu lịch sử vừa có giá trị nghi lễ, gắn trực tiếp với đời sống tín ngưỡng của chùa. Tầng dưới đặt tấm bia đá Trùng tu Đại Bi/ Tự thạch bi ký, khắc năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751), lưu giữ thông tin về quá trình tu sửa chùa và cung cấp chứng cứ quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử kiến trúc, niên đại và sự phát triển của di tích.

Tam Bảo

Tổng thể kiến trúc của Tam Bảo có mặt bằng hình chữ Đinh (丁), mái lợp ngói mũi sen màu đỏ; các góc mái đắp trụ đấu hình thang. Công trình gồm hai khối chính: Tiền Đường và Hậu Cung. Diện mạo hiện nay phản ánh kết quả của đợt trùng tu lớn thực hiện năm 2001.

Tiền Đường gồm 5 gian, 6 hàng cột, xây theo kiểu tường hồi bít đốc; hai gian đầu hồi được bịt kín và mở ô cửa chữ Thọ (壽) ở mặt trước. Mặt tiền của khu Tiền Đường được ngăn cách với không gian ngoài bằng hệ thống cửa bức bàn. Kết cấu vì nóc kết hợp các kiểu truyền thống: vì nóc theo kiểu giá chiêng và vì kèo cọc báng; vì nách theo kiểu bán giá chiêng và vì kẻ ngồi.

Theo hướng chùa và theo trình tự từ trái qua phải có đặt các ban thờ, gian bên trái đặt ban thờ Đức Ông với tượng ngài ngồi giữa, hai bên là tượng Già Lam và Chấn Tể. Tiếp theo là tượng hộ pháp Khuyến Thiện, được tạc trong tư thế ngồi trên lưng sư tử, một chân co, một chân buông; trang phục võ tướng, đầu đội mũ trụ, khuôn mặt trắng, phúc hậu và trang nghiêm; tay trái cầm ngọc Như ý, biểu tượng cho trí tuệ và tấm lòng từ bi hướng thiện.

Đối xứng qua gian giữa về phía bên phải là ban thờ tượng hộ pháp Trừng Ác, cũng mang trang phục võ tướng và đội mũ giáp trụ; khuôn mặt sơn đỏ, mắt to tròn dữ tợn, lông mày xếch cao góc cạnh, tay phải cầm đao tượng trưng cho tính nghiêm minh trừng phạt cái ác. Bên cạnh đó là gian thờ Đức Thánh Hiền, tượng ngài được tạc với sắc diện hiền từ, đầu đội mũ tỳ lư và khoác áo tràng rộng; hai bên là tượng Tiêu Diện Đại Sĩ (khuôn mặt dữ tợn, sắc xanh đen) và tượng Vi Đà (tướng mạo khang kiện, hiền hòa).

Ngoài các ban thờ tượng, ở gian đầu hồi phía bên phải của Tiền Đường hiện lưu giữ hai bia đá: Hậu Phật bi ký (后 佛 碑 記) khắc năm Khải Định thứ 9 (1924) và Phật hậu bi ký (𫢋 后 碑 寄) dựng ngày 15 tháng 4 năm Bính Tuất, thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946) ghi lại hoạt động tu sửa chùa, bầu hậu trong các giai đoạn đầu thế kỷ XX và sau Cách mạng Tháng Tám.

Hậu Cung nối dài vuông góc với Tiền Đường, bố cục gồm ba gian, trong đó gian giữa có chiều rộng lớn hơn và được tổ chức thành các bệ tượng giật cấp nhằm tôn trí các lớp tượng theo thứ tự cao thấp; hai gian bên bố trí bộ Thập Điện Diêm Vương (mỗi bên năm vị) cùng một số tượng cổ lưu giữ từ giai đoạn trước của chùa.

Các lớp tượng ở gian giữa sắp xếp theo trật tự từ trên xuống như sau:

Lớp 1: Bộ Tam Thế Phật, các tượng tạo hình giống nhau, tọa ở tư thế thiền kiết già, nhấn mạnh biểu tượng bình đẳng pháp tánh và trí tuệ vô biên của chư Phật;

Lớp 2: Tượng Thích Ca nhập Niết bàn, điêu khắc ở tư thế nằm nghiêng an nhiên, tay phải đỡ đầu, tay trái duỗi dọc thân trên đài sen biểu trưng cho sự thoát ly luân hồi và nhắc nhở Phật tử hướng tới tâm thanh tịnh cùng trí tuệ viên mãn;

Lớp 3: Tượng Phật A Di Đà tọa trên đài sen ở tư thế kiết già, hai tay kết ấn Thiền Định; hai bên là tượng Quán Thế Âm Bồ tát và Đại Thế Chí Bồ tát;

Lớp 4: Tượng Thích Ca cầm cành hoa sen đưa lên, khuôn mặt mỉm cười; đứng hai bên là hai Tôn giả: Ma Ha Ca Diếp và A Nan Đà;

Lớp 5: Tượng Quán Âm Chuẩn Đề, tọa trên đài sen với mười tám cánh tay; hai tay trên cùng kết ấn Chuẩn Đề, các tay còn lại cầm pháp khí, tượng trưng cho năng lực cứu độ mạnh mẽ và phương tiện hóa độ chúng sinh;

Lớp 6: Tượng Ngọc Hoàng đặt ở vị trí trung tâm quản lý ba cõi (thiên, địa, âm); hai bên là tượng Nam Tào và Bắc Đẩu;

Lớp 7: Tòa Cửu Long, với hình tượng Phật Thích Ca sơ sinh đứng trên đài sen, bao quanh bởi chín con rồng uốn lượn phun thủy; hai bên đặt tượng Phạm Thiên và Đế Thích.

Nhà Tổ

Nằm phía sau Tam Bảo, gồm tám gian, chín hàng cột tạo thành khối công trình trang nghiêm. Mái lợp ngói mũi sen, các góc mái gắn trụ đấu hình thang; kết cấu vì nóc theo kiểu giá chiêng kẻ ngồi kết hợp với giá chiêng, vì nách theo kiểu kẻ ngồi, tạo nên bộ khung vững chắc cho toàn bộ kiến trúc.

Hai gian đầu hồi bên phải hiện là nơi nghỉ của sư trụ trì. Kế tiếp là ba gian đặt ban thờ Tổ, trên ban thờ đặt tượng Bồ Đề Đạt Ma trong tư thế ngồi kiết già: đôi mắt to, sâu thẳm trừng nhìn vào hư vô, lông mày rậm, trán cau, râu quai nón dài và xồm xoàm.

Hai gian tiếp theo của dãy hiện được sử dụng làm Nhà Mẫu. Ban Tam Tòa Thánh Mẫu đặt ở chính giữa gồm ba vị nữ thần tối cao quản lý ba miền: Mẫu đệ nhất Thượng Thiên (cai quản trời) ngồi giữa, mặc áo đỏ; Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn (cai quản rừng núi) ngồi bên trái, khoác áo xanh; Mẫu đệ tam Thoải Phủ (cai quản sông nước) ngồi bên phải, khoác áo trắng. Ở hàng dưới là bộ tượng Tam vị Ông Hoàng (Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bảy và Ông Hoàng Mười).

Bên trái ban Tam Tòa Thánh Mẫu là ban Trần triều, tượng tạc trong tư thế ngồi trên ngai, tay đặt lên đầu gối, mặc triều phục võ quan với dáng vẻ uy nghiêm, ánh mắt sắc sảo và quắc thước. Bên phải là ban thờ Chúa Sơn Trang, tượng được tạc với dáng ngồi ung dung, trang phục màu xanh lá (biểu tượng cây cỏ và núi rừng), đầu đội khăn vấn, tay đặt lên đầu gối với biểu cảm khoan thai.

Tháp mộ

Tháp có cấu trúc hình lăng trụ đứng, thu nhỏ dần theo phương thẳng đứng theo dạng giật cấp, gồm ba phần rõ rệt: đế, thân và mái. Toàn bộ khối tháp xây bằng gạch đỏ, phần mái được thiết kế theo kiểu mái đao truyền thống, bốn góc vuốt cong nhẹ, tạo nét thanh thoát hài hòa với tổng thể. Trên đỉnh đặt hình búp sen, đặt trên bệ hình tháp cụt có chạm khắc hoa văn đơn giản. Theo lời người dân địa phương và đương kim trụ trì Thích Đàm Hằng, tháp là nơi an táng các vị Tổ của chùa, gồm hai cụ Thích Đàm Hựu và Thích Đàm Tuyết.

Sơn Minh động (Nhà thờ liệt sỹ)

Công trình có mặt bằng chữ Nhất (一), nằm bên phải Tam Bảo, gồm 5 gian chạy dọc, hướng mặt ra phía Tam Quan. Cửa chính hướng ra Tam Quan gồm ba lối đi hình vòm bán nguyệt; lối giữa rộng và cao hơn, được tạo giả hai tầng mái với mảng đắp nổi mô phỏng ngói và đầu góc mái uốn cong, giữa hai tầng mái đắp nổi bức đại tự chữ Hán 山 明 峒 (Sơn Minh động) và phía trên là hình lưỡng long chầu nhật. Hai lối bên nhỏ hơn, phía trên trang trí các bức tranh phong cảnh dân gian. Trên đỉnh các cột trụ hai bên đặt tượng nghê, thân mập mạp, bờm dựng, miệng ngậm ngọc, mang ý nghĩa canh giữ, trừ tà và bảo vệ không gian tâm linh; dọc thân cột có câu đối chữ Hán đắp nổi nhưng đã mòn, bong tróc theo thời gian. 

Hai gian đầu bố trí bia tưởng niệm ghi danh 48 liệt sĩ của quê hương Miêng Hạ, những người đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ba gian tiếp theo dùng làm nhà Địa Tạng, nơi đặt tượng Địa Tạng Bồ tát tạc ở thế đứng trên đài sen; khuôn mặt tượng hiền từ, phúc hậu, mặc áo cà sa, đội mũ Thất Phật. Tay phải tượng cầm tích trượng – biểu trưng cho việc vào cõi u minh mở cửa địa ngục cứu độ chúng sinh; tay trái cầm ngọc minh châu tỏa sáng, tượng trưng cho trí tuệ soi đường, xua tan vô minh cho các vong linh.

Hiện vật

Chùa Miêng Hạ hiện còn lưu giữ hệ thống hiện vật, di vật và di văn tương đối phong phú, phản ánh quá trình tồn tại, tu sửa, sinh hoạt tín ngưỡng và đời sống Phật giáo của cộng đồng cư dân địa phương qua nhiều giai đoạn lịch sử. Các hiện vật hiện được phân bố tại nhiều hạng mục kiến trúc chính của chùa như Gác Chuông, Tam Bảo, Nhà Tổ và Sơn Minh động, trong đó đáng chú ý là hệ thống văn bia, chuông đồng, hoành phi, câu đối và bia tưởng niệm.

Tại Gác Chuông hiện lưu giữ bia đá Trùng tu Đại Bi/Tự thạch bi ký (重修大慈/寺石碑記) khắc năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751) và chuông đồng Trùng chú Đại Bi tự chung ký (重鑄大悲寺鐘記) đúc năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1796). Đây là những tư liệu có giá trị quan trọng trong việc nhận diện lịch sử tồn tại và quá trình trùng tu của chùa Miêng Hạ. Trong đó, bia Trùng tu Đại Bi là căn cứ trực tiếp cho thấy chùa đã tồn tại trước năm 1751; chuông Trùng chú Đại Bi tự chung ký (重鑄大悲寺鐘記) vừa có giá trị nghi lễ Phật giáo, vừa phản ánh sự tiếp nối trong sinh hoạt tín ngưỡng của ngôi chùa vào cuối thế kỷ XVIII.

Tại khu Tam Bảo hiện có 02 bia đá, gồm Hậu Phật bi ký 后佛碑記 khắc năm Khải Định thứ 9 (1924) và Phật hậu bi ký 𫢋后碑寄 dựng ngày 15 tháng 4 năm Bính Tuất (1946), cùng 08 bức hoành phi và 04 đôi câu đối. Nội dung các văn bia ghi nhận hoạt động công đức, bầu hậu và những lần tu sửa chùa trong nửa đầu thế kỷ XX, qua đó phản ánh sự gắn bó của cộng đồng dân cư đối với di tích. Hệ thống hoành phi, câu đối tại Tam Bảo chủ yếu mang nội dung ca ngợi Tam Bảo, giáo lý nhà Phật và công đức của các bậc tiền nhân.

Tại Nhà Tổ hiện còn 02 bức hoành phi và 02 đôi câu đối, có nội dung chủ yếu tôn vinh chư vị Tổ sư, đề cao truyền thống tu hành và sự kế thừa của các thế hệ Tăng Ni tại chùa. Đây là nhóm tư liệu góp phần làm rõ vai trò của Nhà Tổ trong cấu trúc thờ tự Phật giáo cũng như trong mạch truyền thừa của bản tự.

Tại Sơn Minh động, hiện có 01 bức hoành phi, 01 đôi câu đối và 01 bia chữ Quốc ngữ ghi danh 48 liệt sĩ quê hương Miêng Hạ đã hy sinh trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Sự hiện diện của nhóm hiện vật này cho thấy không gian chùa Miêng Hạ không chỉ gắn với sinh hoạt Phật giáo và tín ngưỡng dân gian, mà còn là nơi lưu giữ ký ức cách mạng, tưởng niệm và tri ân những người con của quê hương đã hy sinh vì đất nước.

Nhìn chung, hệ thống hiện vật, di vật và di văn tại chùa Miêng Hạ có giá trị trên nhiều phương diện: lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, Phật giáo và ký ức cộng đồng. Các tư liệu như văn bia, minh chuông, hoành phi, câu đối và bia tưởng niệm không chỉ góp phần nhận diện quá trình hình thành, trùng tu và phát triển của ngôi chùa, mà còn phản ánh sự giao thoa giữa Phật giáo, tín ngưỡng dân gian và truyền thống yêu nước của cư dân Miêng Hạ qua nhiều thế hệ.

Xếp hạng

Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa truyền thống của địa phương, cụm di tích đình – đền – chùa Miêng Hạ đã được Bộ Văn hoá và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1993. Việc được công nhận và xếp hạng đã khẳng định giá trị nổi bật của quần thể di tích trong hệ thống di sản văn hóa của Thủ đô Hà Nội, đồng thời tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị di tích.

 

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)