Nguyễn Duy Hiệu (1847 – 1887)

Nguyễn Duy Hiệu (1847 – 1887)

Thông tin cơ bản

Cuộc đời

Nắng nhạt dần. Hương cau thơm dịu. Cụ đồ nho gấp trang sách, nhìn ra sân và khẽ ngâm vài câu thơ. Ngày từng ngày, lúc chiều xuống, cụ lại thấy sự đơn độc ùa về choáng ngợp tâm trí. Đạn đồng súng lớn của bọn mắt xanh mũi lõ đã bắn phá của Hàn, đánh vào Thuận An… Rồi vua Tự Đức băng hà. Triều đình rối như canh hẹ, trước sức mạnh của giặc có kẻ cho rằng phải hòa hoãn, có người chủ trương phải đánh. Chỉ thoạt nghĩ như thế, cụ đồ ứa giọt lệ… Than ôi! Giang san gấm vóc đã mất vào tay giặc, biết bao giờ mới giành lại được? Nắng nhạt dần. Buồn tủi cho thế sự, cụ đồ nâng ly rượu trên tay và uống cạn. Men đắng nằm mãi nơi cổ họng. Tưởng chừng như nỗi u uất đó có thể khạc ra thành máu. Giọt lệ lăn nhanh trên gương mặt của cụ. Bỗng lúc đó, ngoài sân có tiếng chó sủa ran. Có tiếng quát tháo ầm ĩ. Ngước nhìn cụ thấy vài ba tên lính lệ đang xăm xăm đi vào. Con mực đang giữ nhà điên tiết nhảy xổm ra, nó nhe răng hung tợn sẵn sàng cản những bước chân vô lễ kia, nhưng một cây gậy đã quất thẳng vào mõm! Con chó rú lên, rồi cụp đuôi lủi vào góc sân. Một tiếng nói oang oang:

Ông đồ! Quan Tuần phủ gọi ông lên dinh gấp. Việc quan là việc trọng, mời ông đi ngay cho!

Ngán cho thời thế! Đổi thay đến thế là cùng. Chẳng còn một chút phép tắc, lễ nghi gì cả. Cụ đồ thở dài ngán ngẩm… Cậy vào thế lực của Châu Đình Kế – Tuần phủ Quảng Nam nên bọn lính lệ xem cụ không đáng để mình thưa bẩm.

Cuộc gặp tại dinh quan Tuần phủ

Bước chân vào dinh, cụ đã thấy nhung nhúc những người, láo nháo những ngợm, tiếng cười nói ồn ào như bắp rang. Thì ra nhà quan có yến tiệc. Cụ đồ nào biết chính cụ sẽ là nhân vật quan trọng nhất mà lúc này quan đang cần đến. Vì bấy giờ, học trò cũ của cụ đồ là Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu đang nắm giữ ngọn cờ của phong trào Nghĩa Hội ở tỉnh nhà. Vốn là người có mưu mô xảo quyệt, y biết rằng, nếu lung lạc được tinh thần của cụ đồ Lê Tấn Toán, nhờ cụ viết thư chiêu dụ học trò cũ thì vẫn là kế hay nhất. Nghĩ thế nên chiều nay y gặp mặt cụ đồ. Sau vài lòi xã giao, Châu Đình Kế buông giọng kẻ cả:

Phận sự của thầy giáo là đem chữ của Thánh hiền mà giáo dục bọn học trò thành tài để giúp nước. Chắc cụ cũng có suy nghĩ như tôi. Nhưng tôi lại không ngờ học trò của cụ lại có Hưòng Hiệu đi làm giặc. Trò hư là lỗi ở thầy. Đúng vậy không?

Nói xong, y buông tiếng cười gằn. Tưởng rằng, “miệng nhà quan có gang có thép” thì sẽ khiến cụ đồ nho khiếp sợ. Thật bất ngờ, khác hẳn với tính tình trầm tĩnh thường ngày, cụ vụt đứng thẳng người dậy và ném ly rượu đang cầm trên tay xuống đất, quắc mắt:

Thời thế này ai là vua, ai là giặc? Quan tuần nên cẩn trọng lời ăn tiếng nói. Mắng xong, cụ bước thẳng ra khỏi dinh trước sự ngơ ngác lẫn kính phục của mọi người.

Thân thế Nguyễn Duy Hiệu

Người học trò của cụ mà Tuần phủ Quảng Nam vừa nhắc tới là Nguyễn Duy Hiệu, sinh năm 1847 tại làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay thuộc xã Cẩm Hà, thị xã Hội An-Quảng Nam), là con trai của ông bà Nguyễn Viết Thiện và Nguyễn Thị Châu. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Duy Hiệu đã nổi tiếng là học trò giỏi nhất trong làng. Không chỉ được thầy Lê Tấn Toán dạy chữ Nguyễn Duy Hiệu còn được thầy hun đúc thêm cho tinh thần yêu nước. Dù chỉ mới mười bốn tuổi nhưng Nguyễn Duy Hiệu đã “xứng danh tuyên đệ nhất Tú tài”, rồi sau đó, “Năm ba hai dự thí Hội nguyên, vinh quy với danh cao Phó bảng”. Bước đường hoạn lộ của Nguyễn Duy Hiệu mở ra thênh thang. Ra kinh đô, ông được cử làm Giảng tập ở Dưỡng thiện đường dạy hoàng tử Ung Đăng – con nuôi thứ ba của vua Tự Đức – sau này là vua Kiến Phúc. Do được phong tước Hồng lô Tự khanh nên sau này mọi người thường gọi Nguyễn Duy Hiệu là ông Hường hoặc Hường Hiệu. Sau khi vua Tự Đức mất, tình hình trong triều rối ren đến nỗi có người viết câu đối chua chát:

Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết;
Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường.

(Một sông hai nước không đường nói
Bốn tháng ba vua điềm chẳng lành)

Một người ưu thòi mẫn thế như Nguyễn Duy Hiệu thì không thể bàng quan trước “điềm chẳng lành” này. Lấy cớ phải phụng dưỡng mẹ già, ông cáo quan xin về quê. Ít lâu sau, trước những đòn sấm sét của giặc Pháp, kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở và xuống hịch Cần vương kêu gọi toàn dân kháng chiến.

Thành lập Nghĩa Hội và những bước đầu kháng chiến

Hưởng ứng lời kêu gọi này, tại Quảng Nam, Tiến sĩ Trần Văn Dư nhân danh Chánh sơn phòng sứ cùng với các ông Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Án Nại, Huỳnh Bá Chánh, Phạm Như Xương, Nguyễn Trường… thành lập Nghĩa Hội. Cuộc kháng chiến vì chính nghĩa đã bắt đầu. Thay mặt Nghĩa hội, Trần Văn Dư công bố Bản cáo thị kêu gọi:

Kẻ trí dùng mưu, người dũng hiến sức, giàu đem của giúp quân nhu, đồng bào đồng trạch chẳng ngại gian lao nguy hiểm, cứu nguy chống khốn, chớ nên tiếc gì tâm lực, lòng người thuận như dòng nước xuôi để biến nguy thành an, biến loạn thành trị, thu lại bờ cõi. Ấy là một cơ hội đem phúc lợi lại cho xã tắc, tức là phúc của thần dân. Những ai tham sống sợ chết, nghĩ nhà hơn nợ nước, bỏ sáng theo tối, giá áo túi cơm, giữa lúc nước nhà lâm nguy là những kẻ đón hèn, chắc thần dân không ai làm vậy.

Nên mau mau đồng tâm hiệp lực, theo nghĩa mà làm, triều đình sẽ thi công luận tội phân minh.

Mở đầu xung đột và xây dựng lực lượng

Để ngăn trở việc thành lập Nghĩa Hội ở Quảng Nam, cùng với việc đem một lực lượng hùng hậu đóng ở thành Điện Hải – làm bàn đạp đàn áp lực lượng kháng chiến, Pháp còn chỉ đạo ngụy triều điều Trần Văn Dư đi khỏi tỉnh Quảng Nam, về Quảng Ngãi giữ chức Bố chánh. Còn chức Chánh sơn phòng sứ giao cho Tế tửu Quốc tử giám là Nguyễn Đình Tựu. Ngày Tựu đến nhận bàn giao, Trần Văn Dư quắc mắt:

Vua đang dựng cờ Cần vương, cứu nguy cho sơn hà xã tắc. Vậy ông phụng mạng ai mà về đây? Ông ăn cơm vua nên biết cái nghĩa ấy!

Tựu cụp mặt xuống.

Trần Văn Dư chỉ phê vào triều chỉ mỗi một chữ: “Bất” (không). Tuy nhiên sau đó, ông cũng bàn giao nhưng không đi Quảng Ngãi mà cáo bệnh trở về quê nhà, trực tiếp lãnh đạo Nghĩa hội. Đó là một phong trào mà sau này cụ Huỳnh Thúc Kháng đã ghi nhận:

Nghĩa Hội mọc lên như cây rừng. Quân hịch truyền đi như gió thét. Kẻ thì tài như Khổng Minh đánh giặc Ngô Ngụy. Người thì giỏi như Trương Tuần giữ đất Thư Dương…

Những trận đánh đầu tiên

Ngày 4/9/1885, sau lễ xuất quân, Trần Văn Dư kéo quân về đóng ở Thăng Bình, Nguyễn Duy Hiệu cùng Nguyễn Thành đem quân từ Hòa Vang về đóng ở Vĩnh Điện, Phan Bá Phiến đưa quân từ phía nam Tam Kỳ về để cùng phối hợp trong những trận đánh đầu tiên. Trước hết, ông sai người đến báo với Nguyễn Đình Tựu là nghĩa quân sẽ chiếm lại Nha sơn phòng, Tựu sợ hãi làm đơn tâu ra triều đình, sau đó để nguyên toàn bộ binh lính, vũ khí rồi cáo bệnh từ quan. Như thế, sau khi chiếm được Nha sơn phòng một cách dễ dàng, chủ tướng Nghĩa hội Hiệu đã đem quân tại đây sát nhập với nghĩa quân để tạo thanh thế hùng mạnh. Về phía thực dân Pháp, ngày 29/7/1885 một đại đội lính đánh thuê người Angiêri đã đổ bộ và chiếm đóng Đà Nẵng, chúng bắt đầu đàn áp Nghĩa hội. Để đối phó, nghĩa quân đã quyết định đánh chúng trận phủ đầu là tấn công thành La Qua (phủ Điện Bàn).

Không thể đối đầu được với căm hòn dâng cao hơn lửa gặp gió, khí thế tấn công chớp nhoáng nhanh như chẻ tre, Tuần vũ, Bố chánh, Án sát nơi này phải mở đường tháo chạy. Chiếm được thành La Qua, Nghĩa hội đã thủ tiêu mọi chính sách, thể chế cũ để công khai lập nên một chính quyền mới. Sau đó, thừa thắng xông lên, nghĩa quân đã vây đánh hai cứ điểm lớn của giặc là Trà Kiệu và Phú Thượng – hai giáo khu lớn nhất tỉnh Quảng Nam…

Xây dựng căn cứ kháng chiến 

Ngay sau khi Trần Văn Dư bị giết, lên nắm quyền, Nguyễn Duy Hiệu và các đồng chí đã nghĩ đến việc xây dựng một căn cứ kháng chiến lâu dài – thay cho La Qua và Dương Yên đã bị giặc phản công chiếm đóng. Trong tầm nhìn chiến lược, ông đã chọn vùng Trung Lập, một địa thế rừng sâu núi cao hiểm trở, có nhiều ngọn núi liên hoàn nhau tạo nên các thung lũng hẹp và dốc. Từ trên cao, dựa lưng vào vách núi, nghĩa quân có thể khống chế lực lượng của đối phương từ dưới đánh lên. Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc đã phân tích:

Vùng Trung Lập nằm trên con đường từ Hương An nối huyện lì Quế Sơn, qua đèo Le đi Trung Phước, dọc theo bờ sông Thu Bồn. Nhờ dòng sông này, từ Trung Lộc có thể liên lạc với Điện Bàn, Hội An và bằng sông Vĩnh Điện thông với Đà Nẵng. Còn phía bắc và tây bắc, cũng bằng đường sông, Trung Lộc có thể thông với Đại Lộc, ngược lên miền sông Con hoặc xuôi về Cẩm Lệ, Hòa Vang theo sông Yên.

Về đường bộ, phía đông, có thể từ Trung Lộc, qua đèo Le về đến huyện Quế Sơn, rồi từ đó tỏa đi nhiều nơi. Phía tây lên Trung Phước, ngược lên phía bắc có con đường xuống đồng bằng. Đèo Le, Thác Cá, núi Phường Rạch là những địa thế thiên nhiên hiểm trở giúp cho sự phòng thủ được dễ dàng.

Cả trong trường hợp bị địch tấn công hai mặt: một từ đèo Le lên, một từ Trung Phước xuống, nghĩa quân vẫn có thể băng qua eo núi “Ông Phó Tòng” qua vũng Thạch Bích rồi vượt sông qua chiến khu Phước Sơn.

Căn cứ Trung Lộc nằm về phía tây nam thung lũng Trung Lộc, dựa lưng vào triền núi và chạy dài giữa hai khe nước. Khe Canh (thôn 2, xã Quế Lộc) chạy ngang trước mặt. Căn cứ gồm có; một kho lương ở lưng chừng sườn núi để tránh lụt; Văn Miếu và các cơ quan bộ, nha, thự, bãi luyện quân. Chếch về phía bắc là nhà lao và pháp trường. Gần một trăm năm, ngày nay trở lại Trung Lộc chúng ta vẫn thấy dấu vết của những nền nhà cũ.

Căn cứ này xây dựng xong vào đầu năm 1886. Lúc bóng trăng chênh chếch trên đỉnh núi, đứng giữa ba quân, thủ lĩnh Nguyễn Duy Hiệu nói rắn rỏi:

La Qua đã mất, ta không thể để các bậc tiền hiền ở lại cùng ngụy triều và bọn mắt xanh mũi lõ bẩn thỉu. Phải rước bài vị của các ngài về thờ tại căn cứ của ta. Cho dù Văn miếu có dựng bằng phên, tre nhưng các ngài cũng vui lòng vì biết lòng trung nghĩa của chúng ta đỏ như son, tinh thần cứng như sắt đá…

Gió thổi thốc vào vách đá. Tưởng cùng như cả cánh rừng nghiêng ngã theo cơn gió đang giận dữ. Đêm tối đen. Lực lượng kháng chiến bắt đầu xuất quân. Những cảm tử quân vượt hào chông, băng rào tre để đột nhập vào trong thành La Qua. Chỉ trong nháy mắt một biển lửa sáng rực trong đêm đen. Lập tức, từ bên ngoài yểm trợ cho tinh thần dũng cảm ấy là những khẩu đại bác đã bắt đầu khạc đạn dữ dội. Bị tấn công bất ngờ, bọn giặc Pháp bàng hoàng tỉnh giấc, nhưng chúng đã nghe giục giã tiếng trống, phèng la náo động bốn bể. Chúng chạy hướng nào cũng bị nghĩa quân dùng giáo, mác đánh trực diện. Trong trận đánh bất ngờ này, nghĩa quân đã rước được 150 bài vị tiền hiền, thánh hiền…

Nguyễn Thân – Chiến dịch đàn áp Nghĩa Hội

Không chỉ hoạt động trong tỉnh, Nguyễn Duy Hiệu còn chủ trương thống nhất lực lượng kháng chiến Cần Vương ở ba tỉnh Quảng Nam Quảng Ngãi – Bình Định.

Bù nhìn Đồng Khánh và thực dân Pháp gần như bất lực trước tẩm hoạt động rộng lớn của Nghĩa hội. Lịch sử đã chứng minh rằng, trong các cuộc chiến tranh xâm lược, thông thường khi quân đội viễn chinh do không thông thạo địa hình địa vật, không thích nghi với thời tiết khí hậu khắc nghiệt… bó tay trước lối đánh du kích thoắt ẩn thoát hiện tài tình của người bản xứ thì chúng sẽ thực hiện chiến thuật dùng người bản xứ đánh người bản xứ, vừa tránh được thương vong chết chóc nhưng cũng vừa đạt được hiệu quả! Trong cuộc đối đầu với Nguyễn Duy Hiệu, sau khi các viên chỉ huy người Pháp khiếp đảm trước tài cầm quân thao lược của ông thì chúng đưa Nguyễn Thân vào trận – y tự Thạch Trì, người Quảng Ngãi từng tham gia Cần Vương, nhưng sau do bất mãn mà quay đầu hợp tác với chúng. Một người như thế sẽ có ưu thế hơn khi giao chiến với Nguyễn Duy Hiệu.

Nhưng tại sao Nguyễn Thân lại bất mãn với kháng chiến?

Khi y đang giữ chức Phủ sứ sơn phòng Nghĩa Định thì nhận được chiếu Cần Vương. Theo kế hoạch thì y sẽ là người tấn công tỉnh thành Quảng Ngãi, nhưng do y chần chừ nên Cử nhân Lê Trung Đình và Tú tài Nguyễn Tự Tân đã đánh chiếm trước! Lẽ ra, phải vui mừng trước thắng lợi này thì y lồng lộn lên, lập tức trở mặt phối hợp với Tổng đốc Bình Phú là Lê Thận, Án sát Bình Định là Lê Duy Cung đem quân tiến đánh thành Quảng Ngãi! Phó tướng Nguyễn Tự Tân bị giết tại trận, còn chủ tướng Lê Trung Đình bị bắt giam hạ ngục! Sau nhiều lần mua chuộc không được, chúng đem Lê Trung Đình ra chém ở góc tây thành Quảng Ngãi. Trước lúc mất, người anh hùng này chỉ mới 22 xuân đã dõng dạc ngâm bài thơ tuyệt mệnh: Ngày nay, chim trong lồng Sáng mai, cá trên thớt Thân này có tiếc chi Chỉ thương cho xã tắc

Đàn áp xong phong trào kháng chiến ở Quảng Ngãi, Nguyễn Thân kéo quân về hàng Pháp! Thế đấy! Với Nguyễn Thân khi tham gia kháng chiến không phải xuất phát từ lòng yêu nước mà qua đó, y muốn làm bậc thang leo lên danh vọng… Nhục nhã thay!

Bắt giữ Nguyễn Duy Hiệu 

Bây giờ, theo lệnh của giặc, y trực tiếp cầm quân đối đầu với Nghĩa hội Quảng Nam. Y thừa biết thủ lĩnh Nguyễn Duy Hiệu không phải là người cầm quân tầm thường. Trước đây, ngay cả Đại úy Besson chỉ huy lực lượng mở đường tấn công vào Tân tỉnh, nhưng lúc mới chân ướt chân ráo dừng chân tại trạm Nam Chơn (ngay dưới chân Hải Vân) thì đã bị nghĩa quân tập kích diệt gọn. Nhưng thật ra lối đánh xuất quỷ nhập thần của Nghĩa hội cũng không khiến y rụt rè khi xuất quân. Vì những lúc ra trận, bao giờ y cũng nhớ đến lời dạy của cha mình, đại khái, muốn diệt quân “phiến loạn” thì phải thu phục được lòng dân, một khi dân không còn hậu thuẫn về lương thực, hậu cần thì trước sau chúng cũng quy hàng. Thật vậy, khi đàn áp cuộc nổi dậy của sắc tộc ít người Co, H’rê, K’tu… ở vùng núi Răng Cưa (Quảng Ngãi), Nguyễn Tấn – cha y đã trí trá thu phục dân bằng cách ăn đường phèn trước mặt họ, họ ngây thơ tưởng ông ta ăn… đá cuội nên khiếp đảm tôn là thần tướng! Từ chỗ thu phục được dân, Nguyễn Tấn dần dần đập tan cuộc nổi dậy của sắc tộc ít người mà sử nhà Nguyễn gọi là “Mọi Vách Đá”.

Bây giờ, Nguyễn Thân ra quân, tương tự như thế, y cũng tìm cách thu phục dân Quảng Nam bằng mọi thủ đoạn, nhưng thất bại. Bởi y không biết rằng, khi lập Tân tỉnh, ngoài việc cầm quân đánh Pháp, Nguyễn Duy Hiệu còn là người cấp bằng, phong chức cho những người đi theo mình, dù đã là triều Đồng Khánh nhưng các sắc phong của ông đều dùng niên hiệu Hàm Nghi! Với việc làm này, Nguyễn Duy Hiệu đã giáo dục cho dân Quảng Nam thấy Nghĩa hội là chính nghĩa, hoạt động dưới ngọn cờ Cần Vương chứ không phải là đám giặc cỏ. Hơn nữa, Nguyễn Duy Hiệu còn là người biết thu phục nhân tâm bằng một nhân cách cao thượng. Khi Nguyễn Thân sai Nguyễn Đình Tựu lấy tư cách là thầy dạy học kêu gọi học trò của mình đang tham gia Nghĩa hội quay về với ngụy triều thì nhiều người đòi giết Tựu. Nghe thế, ông nghiêm mặt:

Chúng ta cứ cử sự, biết chắc thế nào cũng bại, nhưng vì chính danh mà phải làm; nhưng trên danh nghĩa, quân sư là trọng. Nay mang tiếng giết thầy, biết lấy gì tỏ cho thiên hạ hậu thế?

Nghe thế, ai cũng thấy chủ tướng của mình nói đúng và càng khâm phục tinh thần “tôn sư trọng đạo” của ông.

Bắt giữ gia đình Nguyễn Duy Hiệu

Do đó, khi hành quân truy kích Nghĩa hội, Nguyễn Thân đã gặp không ít khó khăn cũng như trước đây “Tây dương bạch quỷ” đã từng nếm trải! Lồng lộn, điên tiết trước khí phách của người dân nơi đây, Nguyễn Thân đã dùng biện pháp mà theo y hữu hiệu hơn cả là bắn giết tất cả những ai mà chúng gặp trên đường hành quân!

Sau nhiều lần thất bại, Nguyễn Thân hiến kế với giặc là bằng mọi cách phải cấp tốc tấn công vào tận đại bản doanh Tân tỉnh để trấn an tinh thần của quân viễn chinh đang xuống dốc thảm hại. Riêng với ngụy quân thì Nguyễn Thân láu lỉnh ban cho thẻ bài vàng, trên khắc hai chữ “Trung dũng” để động viên tinh thần! Theo kế hoạch này, chúng huy động lực lượng hùng hậu, trang bị đầy đủ vũ khíchia thành nhiều hướng để tiếp cận mục tiêu: một cánh quân tiến lên huyện lì Quế Sơn, vượt đèo Le hiểm trở để mở đường; một cánh quân khác ngược sông Thu Bồn đến Trung Phước nhằm tiêu diệt đường rút quân của nghĩa quân v.v… Thế nhưng khi chúng hành quân từ nhiều hướng như thế vẫn không vượt qua được các căn cứ mà nghĩa quân đang đóng quân.

Những cuộc giao chiến long trời lở đất đã nổ ra khắp tỉnh Quảng Nam. Bấy giờ, Nguyễn Thân cho rằng, nếu cứ đối đầu với Nguyễn Duy Hiệu thì chỉ gặt lấy một sự thất bại nặng nề. Do đó, y quyết định thay đổi chiến thuật mà chính người Pháp phải thừa nhận là khôn khéo “cực kỳ thông minh”. Theo quan niệm của người Việt Nam thì làm con phải lấy đạo hiếu làm trọng, nếu bắt được mẹ thì chắc chắn con sẽ phải ra đầu thú. Nghĩ như thế nên Nguyễn Thân ráo riết truy tìm nơi mẹ già cùng vợ con Nguyễn Duy Hiệu đang ẩn náu.

Trong trận đánh úp một đồn lớn ở Gò Mây (Trung Phước), Nguyễn Thân đã phát hiện ra đó là nơi thủ lĩnh Nghĩa hội đang giấu gia đình và lương thực. Cho dù Nguyễn Duy Hiệu thoát hiểm, nhưng nhiều bộ hạ thân tín, ấn tín, lương thực, thuốc súng rơi vào tay giặc. Vài hôm sau, chúng bắt được gần hết gia đình Nguyễn Duy Hiệu, gồm mẹ già 85 tuổi, vợ cả, vợ lẻ và 5 con, trong đó có 2 con gái còn nhỏ.

Đưa ra Huế

Chúng thu được hơn 900 số thuế, 250 bằng cấp và 5 cái ấn, một thót voi mà Nguyễn Duy Hiệu đã bắt được trong khi đánh quân tuần tiễu của Nam triều và nhiều hòm thuốc súng… Trong lúc thế cùng lực kiệt, Nguyễn Duy Hiệu không đầu hàng ngay để cứu mẹ mà ông còn bàn với phó tướng Phan Bá Phiến rút quân về Phước Sơn. Nhưng Nguyễn Thân lại được giặc Pháp cung cấp thêm súng đạn để tiếp tục xuất quân truy kích. Cho dù binh mã tan tác hết, nhưng hai ông vẫn thoát được, chạy về Hà My. Giữa vùng núi non hiểm trở, bóng nắng chiều nhọt nhạt dần. Những tiếng chim kêu khắc khoải từ xa xăm vọng đến… Ngồi giữa một vài cận vệ thân tín, Nguyễn Duy Hiệu nắm tay phó tướng mà nói trong uất nghẹn:

Nghĩa hội ba tỉnh thì tôi với ông là người cầm đầu. Nhưng việc nghĩa đã không thành thì chỉ có lấy cái chết mà bày tỏ gan ruột với nhật nguyệt.

Phan Bá Phiến gạt nước mắt:

Cả hai chúng ta cùng chết sao?

Nguyễn Duy Hiệu nghiến răng:

Không! Cả hai chúng ta cùng chết thì không chắc ích gì cho đại sự. Vậy ông nên chết trước. Sau khi giải tán Nghĩa hội, tôi đem thân cho Pháp bắt. Giặc tất sẽ tra khảo, tôi nhân đó sẽ liệu bể che giấu cho tổ chức. Có như thế thì chúng mới không truy bắt, trả thù những nghĩa quân đang lẩn trốn. Sống chết trên đời là chuyện thường tình. Nay mai có kẻ nối chí ta, tức là ta vẫn sống!

Phan Bá Phiến khí khái đứng dậy, ngửa mặt nhìn lên vòm trời tối đen. Thấp thoáng có những ngôi sao lóe sáng… Giây lát sau, ông Phan Bá Phiến sửa soạn lại quần áo, đội mũ, đeo đai, hướng về phía kinh đô lạy 5 lạy, rồi quay sang Nguyễn Duy Hiệu lạy 2 lạy:

Ông hãy gắng sức, tôi xin đi!

Nói xong, ông uống thuốc độc chết trước mặt nghĩa quân, ai nấy cũng đều thương cảm. Bấy giờ là nửa khuya ngày 21/9/1887.

Cuối đời

Ngày nay, mộ của anh hùng Phan Bá Phiến được chôn cất ở xóm Cây Bàng, xã Tam Tiến, huyện Tam Kỳ (Quảng Nam), trên bia có khắc bài minh của cụ Phan Bội Châu: “Sống hiếu, chết trung. Vì nước sống tốt đẹp, vì dân chết oanh liệt. Ông quả đủ hai đức: sáng và trung kiên”.

Sau khi phó tướng tuẫn tiết, Nguyễn Duy Hiệu ra lệnh giải tán nghĩa quân, khuyên họ trở về quê ẩn náu chờ thời cơ. Còn về phần mình, ông ẩn nấp ở núi Ngũ Hành. Tháng 8/1887, Nguyễn Duy Hiệu đau đớn khi hay tin mẹ đã mất. Ông dẫn đứa con trai tìm về làng Thanh Hà nơi chôn cất mẹ. Giữa trảng cát nắng chói chang đến nhức mắt, ông quỳ xuống thắp nhang trước mổ mẹ. Gió thổi lồng lộng. Bão cát xoáy lên ngút trên trời… Ông tức tưởi khóc:

Là bày tôi mà vua nạn không phò, vua chạy không theo, khó đem nổi bất bình mà kêu cùng tạo hóa; Là con trai mà mẹ đau không dưỡng, mẹ mất không chôn, chỉ biết lấy trường hận mà khóc sinh thành.

Sau đó, ông ngồi trong miếu Quan Công, ngước mắt nhìn khói nhang tỏa nghi ngút trước mộ mẹ giữa bão cát. Bỗng cả bó nhang ấy phừng phừng lửa đỏ như một bó đuốc! Điểm gì chăng? Nguyễn Duy Hiệu rùng mình, giữa trưa nắng mà toàn thân ông lạnh toát, khi ông vừa định thần lại thì quân giặc đã ùa tới vây bắt.

Nguyễn Thân hí hửng hay tin đã bắt được thủ lĩnh của Nghĩa hội Quảng Nam, y vội vã sai lính đóng cũi khiêng hai cha Nguyễn Duy Hiệu ra triều đình Huế. Khi đến kinh đô, ngụy triều và giặc Pháp ra sức dụ hàng nhưng bất lực trước khí phách ngoan cường của ông. Dù bị tra tấn tàn nhẫn nhưng trước sau ông cũng không cung khai một lời nào. Đến một ngày kia, chúng khấp khởi mừng thầm khi chính ông yêu cầu được cung cấp 200 tờ giấy lớn để kê khai họ tên của những người tham gia Nghĩa hội! Lập tức một án thư được thiết lập trang trọng để ông khải trình. Cuối cùng, trên 200 tờ giấy, triều đình Huế phải đọc 200 lần với một lời khai duy nhất: “Nghĩa hội Quảng Nam, Quảng Ngãi chỉ có mình Hiệu. Từ Hiệu trở xuống đều bị Hiệu cưỡng bức phải theo”. Tòa cơ mật tức điên lên, đòi phải đưa ông ra xử lăng trì ngay. Nhưng sau đó, Tòa Khâm sứ Pháp đổi thành án chém và bù nhìn Đồng Khánh đã phê chuẩn. Sáng ngày 1/10/1887 trên đường đến pháp trường An Hòa (Huế), Nguyễn Duy Hiệu đã đọc hai bài thơ tuyệt mệnh gửi cho hậu thế:

Cần Vương Nam Bắc kết dây đồng, Cứu giúp đường kia khổ chửa thông. Muôn thuở cang thường không Ngụy Tháo, Trăm năm tâm sự có Quan Công. Non sông phần tự thư trời định, Cây cỏ buồn xem thế đất cùng. Chìm nổi đời nay ai đó tá? Chớ đem thành bại luận anh hùng.

(Huỳnh Thúc Kháng dịch)

Ta, giặc đành rằng sức khó so, Thề còn làm được, việc dù cho… Giáo không đưa nổi cho quân giặc, Gậy đủ ta vung quật đứa què. Được mấy thông già trơ vách núi, Dễ đâu cột một chống nhà to. Tấm son mang xuống chầu vua thánh, Cùng với trăng thề sáng giữa thu.

(Lâm Quang Thự dịch)

Lạ thay, trước án chém, trên môi Nguyễn Duy Hiệu vẫn nở nụ cười. Khi đầu của người anh hùng rơi xuống đất, lập tức được chở bằng một chuyến xe tốc hành vào Quảng Nam, bêu cho công chúng dọc đường thấy – nhằm uy hiếp tinh thần của họ.

Ngay ngày sau, cụ đồ Lê Tấn Toán – thầy dạy Nguyễn Duy Hiệu bị ngụy quyền bắt về tỉnh đường đang đóng tại La Qua để hạch tội dạy học trò làm giặc. Trước những lời tra hỏi, cụ vẫn một mực im lặng, cuối cùng cụ chọn lấy chén thuốc độc tự vẫn để giữ tròn tiết tháo của một người thầy vinh dự có học trò đã hy sinh vì Nước. Cái chết của cụ cũng gây xúc động lớn trong tỉnh, các môn đệ đã ra chợ Vĩnh Điện mua cây lụa trắng, phong kín thi thể của thầy lại, rồi họ tháo hết khăn nhiễu trên đầu, kết thành chiếc võng đưa thầy về làng Hà Lộc an táng. Còn Nguyễn Thân sau “chiến công” bắt được Nguyễn Duy Hiệu, y cùng với Trần Bá Lộc được giặc Pháp ra lệnh tiếp tục đánh phá nghĩa quân kháng chiến… Về già, y bị bệnh điên rồi chết tại làng Thu Xà (Quảng Ngãi) dưới sự ghẻ lạnh, khinh miệt của mọi người.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 5 – Danh nhân quân sự Việt Nam, Nxb Trẻ.

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Duy Hiệu

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)