Khái quát
Con đường làng nằm dưới bóng tre xanh rợp bóng mát. Từ thinh không thả xuống những tiếng chim hót véo von. Lũ học trò chạy tung tăng và chuyện trò như bắp rang. Chẳng mấy chốc chúng đã ra đến đường quốc lộ. Gió bụi mù mịt. Bỗng có đứa kêu to:
Ủa đàng kia có trụ xi măng gì lạ quá ta?
Mà lạ thật. Trụ xi măng này được xây vuông vức đầu hơi nhọn, cao khoảng nửa mét. Để làm gì nhỉ! Lũ học trò chạy ùa đến quan sát, chúng thấy bên hông có khắc đậm nét bốn chữ “H.A.H.T”. Viết tắt của chữ gì đây? Mỗi đứa nói mỗi phách, nhưng cuối cùng chúng thống nhất, hai chữ “H.T” dứt khoát là “Hà Tĩnh” vì trụ này xây trên địa phận của tỉnh nhà. Nhưng còn “H.A” là gì? Đứa nào đứa nấy ngẩn tò te. Lát sau, có đứa nhanh trí:
Hay ta qua bên kia đường hỏi ông già nông dân đang cày ruộng kia thử chăng?
Đám bạn cười ồ:
Bọn mình mài đũng quần ở ghế nhà trường mấy năm trời còn chưa hiểu nổi, làm sao bác nông dân chân lấm tay bùn kia biết được chứ!
Trong khi ấy, bác nông dân lững thững bước đến. Bỏ chiếc cuốc trên vai xuống đất, bác đến chỗ bọn trẻ và ôn tồn hỏi đôi điều. Sau khi biết thắc mắc của chúng, bác cười:
Các cháu giỏi lắm. Khi phán đoán “H.T” là “Hà Tĩnh”, thì đúng rồi, nhưng các cháu phải cố gắng học thêm. Này bác giải thích nhé. “H” là hydraulique, nghĩa là thủy lực; “A” là agricole, là nông nghiệp. Vậy “hydraulique agricole” nghĩa là thủy nông, là đưa nước vào ruộng. Cái trụ xi măng này là do ngành canh nông dựng lên, đánh dấu công trình dẫn thủy nhập điền cho tỉnh Hà Tĩnh. Các cháu hiểu rồi chứ?
Lũ học trò trố mắt ngạc nhiên. Bác nông dân này là ai mà lại am hiểu quá vậy? Sau này, lớn lên chúng mới biết đó chính là thầy Lê Thước, một trong những người biên soạn sách giáo khoa cho chúng học tập.
Thân thế và con đường học tập
Thầy Lê Thước, hiệu Tĩnh Lạc sinh ngày 13/4/1891 tại xã Lạc Thiện, huyện La Son (nay xã Ngu Lâm, huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh) trong gia đình có truyền thống hiếu học. Năm 1918, thầy lều chõng và đậu Giải nguyên khoa thi cuối cùng ở trường Nghệ An. Như vậy vốn liếng Hán của thầy đã đạt đến một trình độ nhất định. Thế nhưng bấy giờ thời thế đã khác trước. Làn sóng Tây học ngày càng du nhập vào Việt Nam và tạo sự xáo trộn căn bản trong ý thức của thanh niên về con đường tiến thân.
Trước đây, sau khi đã đậu qua các khoa thi thì có cơ hội ra làm quan, nhưng nay chưa hẳn nếu người đó không được trang bị thêm tiếng Pháp. Với thầy Lê Thước, dù đậu Giải nguyên, nhưng thầy không dừng lại đó mà vẫn tiếp tục học thêm tiếng Pháp, học chữ Quốc ngữ. Giữa thời điểm này, để đào tạo giáo viên người Việt nhằm đáp ứng việc triển khai “Học chính tổng quy” đã ban hành, ngày 21/8/1918 Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định mở trường Sư phạm Hà Nội. Thầy Lê Thước vào học trường này và tốt nghiệp xuất sắc năm 1921. Bài luận văn viết bằng tiếng Pháp của thầy trong kỳ thi này, đề tài “Việc học chữ Hán ở Việt Nam” đã được nhà trường đánh giá cao. Hình ảnh của thầy Lê Thước khá tiêu biểu cho trí thức trong buổi giao thời này, dù ghét Pháp – kẻ đang thống trị mình, nhưng vẫn phải học lời ăn tiếng nói của họ và đó cũng là lớp người tinh thông cả Hán văn và Pháp Văn. Điều này sẽ giúp ích cho thầy trong công việc giảng dạy và nghiên cứu sau này.
Sự nghiệp giảng dạy và hoạt động yêu nước
Tốt nghiệp xong, thầy được bổ dạy Pháp văn và Việt văn tại trường Quốc học Vinh. Hai năm sau, thầy lại được cử làm Hiệu trưởng Trường Cao đẳng tiểu học Vinh và thanh tra các trường sơ học, tiểu học ở Nghệ An. Trong thời gian này, người Pháp bắt đầu theo dõi và phát hiện ở thầy có điều “bất thường” trong nhận thức về chính trị. Điều này không lạ, bởi thầy là cháu gọi chí sĩ Lê Văn Huân bằng cậu ruột. Đây là một trong những nhân vật hoạt động chính trị mà mật thám Pháp phải luôn rình mò, theo dõi.
Cụ Lê Văn Huân đậu Giải nguyên khoa Bính Ngọ (năm 1906) ở trường thi Nghệ An nên mọi người thường gọi Giải Huân. Không ra làm quan, cụ cùng các đồng chí Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn… lập cơ sở thương mại công khai ở Vinh và tham gia phong trào Duy tân để cứu nước. Năm 1908, từ Quảng Nam nổ ra cuộc biểu tình chống thuế rồi lan rộng ra cả nước. Giặc Pháp gọi cuộc biểu tình này là “giặc đồng bào”, “giặc cúp tóc” và cho rằng các trí thức, các nhà khoa bảng cấp tiến đã xúi giục nên nhân có này chúng bắt bớ một số người, trong đó có cụ Giải Huân, đày ra Côn Đảo.
Những tháng năm này, phong trào Đông Du của chí sĩ Phan Bội Châu đang phát triển mạnh, những thanh niên có chí hướng, có hoài bão được bí mật đưa ra nước ngoài đào tạo thành những hạt giống cách mạng cho tương lai. Lúc thư của cụ Phan gửi về vận động đồng bào trong nước thì các cụ Nguyễn Sinh Khiêm, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân… đều bị tù nên thư đó đã được tổ chức giao cho bà Hát – vợ của cụ Giải Huân – và các nữ đồng chí khác đi tìm đầu mối liên lạc, tuyên truyền… Những việc làm này, tất nhiên không qua được cái mũi thính hơi của chó săn mật thám. Bà Hát đã bị giặc Pháp bắt và tra tấn tàn nhẫn, nhưng chúng không tìm được một lời cung khai nào. Đòn thù tàn khốc đã giết chết bà lúc mới ngoài bốn mươi xuân. Sĩ phu Nghệ Tĩnh rất kính trọng khí phách và thương tiếc bà nên đã khóc: “Gieo mình giữa chốn can qua, trơ như đá, vững như đồng, đàn bà dễ có mấy tay. Từ thuở nặng vì non nước, tình nên thương, tài nên trọng, ông tơ ghét bỏ chỉ”. Lúc vợ mất, cụ Huân đau xót không nguôi. Chỉ một đêm khóc vợ mà tóc bạc trắng… Sau 9 năm ngồi tù Côn Đảo, được thả tự do, cụ Huân vẫn tiếp tục đeo đuổi mục đích Duy Tân cứu nước.
Hành động phi thường của vợ chồng người cậu đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức thầy Lê Thước. Dù là công chức đang ăn lương của Nhà nước Bảo hộ, nhưng thầy vẫn quan hệ mật thiết với những người từng có án “quốc sự” như Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên…; hoặc quen thân với các thầy đang hoạt động chính trị như Trần Phú, Trần Mộng Bạch… Đôi lần Chánh công sứ Nghệ An gọi thầy lên răn đe, hăm dọa nhưng thầy vẫn giữ mối quan hệ này. Vì thế, năm 1927, thầy bị đổi về Hà Nội dạy tiếng Việt ở trường Albert Sarraut, rồi lại bị đổi lên Lạng Sơn, vào Thanh Hóa…
Biên soạn sách giáo khoa
Nếu thầy Bùi Kỷ từng cộng tác với thầy Trần Trọng Kim soạn nhiều sách giáo khoa phục vụ cho công việc giảng dạy, thì thầy Lê Thước cũng vậy. Với sự tận tụy và yêu nghề, năm 1928, thầy đã cộng tác với thầy Nguyễn Hiệt Chi biên soạn một loạt sách giáo khoa, được Nha học chính Đông Dương chọn sử dụng chính thức trong nhà trường như Sách dạy tiếng Nam, Sách mẹo tiếng Nam… Đáng chú ý nhất là Hán văn tân giáo pháp (tức sách dạy chữ Hán theo phương pháp mới) dành cho học trò các lớp đồng ấu, dự bị, sơ đẳng, trung đẳng. Nay ta thử đọc lại phần “tiểu dẫn” trong bộ sách này, qua đó không chỉ thấy được quan niệm của người biên soạn về vấn đề dạy chữ Hán, mà ta còn biết được vai trò của chữ Hán trong nền giáo dục những năm đầu thế kỷ XX:
Trẻ con nước ta đi học, thuở xưa cốt học chữ Hán, ngày nay cốt học chữ Quốc ngữ (tức là tiếng Nam). Tựu trung nhiều đứa trẻ lại kiêm học cả chữ Hán và chữ Pháp nữa, thành ra ngoài chữ bản quốc, lại còn học hai thứ chữ ngoại quốc. Ấy là chưa kể (các môn) vệ sinh, cách trí, toán pháp, địa dư… trước kia không học mà nay cần phải học. Xem thế thì biết cái học quy nay khác xưa. Cái học quy đã khác thì cái học pháp cũng phải đổi, để trẻ con học cho khỏi sai mục đích và khỏi tốn thì giờ.
Mục đích học chữ Hán bây giờ cốt ba điều: Một là bảo tồn luân lý; hai là tăng bổ quốc văn; ba là giúp việc nhật dụng thường hành, như xem các giấy tờ thường dùng trong nhà.
Muốn trong một khoảng thời gian ngắn ngủi mà đạt được ba cái mục đích ấy, thì học pháp phải khác xưa. Ngày xưa trẻ con mới đi học đã bắt đầu học bài, rồi sau mới tập đặt câu. Nay, trong quyển sách này, thì bắt đầu học chữ và tập đặt câu rồi dần dần về sau mới học cả bài; vì rằng có hiểu chữ một, câu một rồi mới có thể hiểu được cả bài. Cái giáo pháp mới này thể theo sư phạm Thái tây, chính người Tầu cũng thế.
Rõ ràng, phương pháp dạy chữ Hán của thầy cũng đã khác trước, hợp lý hơn. Và thầy cũng cho biết quan điểm khi biên soạn sách giáo khoa:
Trong quyển sách này, các bài học hoặc nói về luân lý, về lịch sử, hoặc bàn về các tư tưởng mới, các thường thức hay, bài nào chủ ý cũng để bồi đắp cái tinh thần và mở mang cái học thức cho học trò. Học chữ Hán theo sách này thì không những thâu nạp được nhiều điều hay trong cựu học mà lại còn bổ ích thêm cho tân học nữa. Chữ Hán thuộc về cựu học, song học chữ Hán không phải là thủ cựu, muốn mượn chữ Hán mà nói việc mới cũng được.
Nghiên cứu văn học
Không những biên soạn sách giáo khoa mà thầy còn có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa nước nhà có giá trị. Thầy là người trước nhất phát hiện ra văn bản gốc tác phẩm Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi Văn chiêu hồn) của thi hào Nguyễn Du vào năm 1926. Ngoài ra thầy cũng viết về thân thế, sự nghiệp của những tác gia lừng danh như Truyện cụ Nguyễn Du (đồng tác giả, 1928), Sự nghiệp và thi văn của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ (1928)…
Với những đóng góp của thầy khi nghiên cứu về thi hào Nguyễn Du, Từ điển văn học bộ mới ghi nhận:
Truyện cụ Nguyễn Du được soạn giả ấp ủ từ thời kỳ giảng dạy ở Trường Cao đẳng tiểu học Vinh: mong muốn bổ khuyết cho “thiếu sót đáng tiếc” của văn học nước nhà là rất nhiều người thuộc Truyện Kiều, nhưng lại chỉ có rất ít người biết rõ tiểu sử Nguyễn Du. Dựa vào thư tịch và tư liệu của hậu duệ Nguyễn Du tại quê hương tác giả, Lê Thước và cộng sự đã xác lập được thân thế và hành trạng Nguyễn Du. Riêng với kiệt tác Truyện Kiều, soạn giả đã có những ý kiến độc lập, khác với một số người đương thời về nguồn gốc và thời gian sáng tác. Do biết Nguyễn Du đã mô phỏng theo một tác phẩm Trung Quốc, Lê Thước bỏ công tìm hiểu và đi đến khẳng định: đó là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, chứ không phải sách Ngu sơ tân chí như một giả thuyết trên Nam phong. Ông cũng cho rằng Nguyễn Du sáng tác sau khi đã ra làm quan dưới triều Nguyễn và đi sứ Trung Quốc trở về vì, theo ông, phải từng trải nhân thế đến như vậy, Nguyễn Du mới viết nổi khúc đoạn trường lưu danh muôn thuở.
Những thông tin này ngày nay đối với ta gần như ai cũng đã tường tận, nhưng sự khẳng định của thầy vào thời điểm đó quả là một đóng góp cho học thuật nước nhà.
Những năm cuối đời
Tinh thần vừa dạy học vừa chú tâm nghiên cứu văn học, thầy vẫn giữ cho đến cuối đời. Điều đáng chú ý trong phương pháp giáo dục của thầy là “học phải đi đôi với hành”. Thầy đã tổ chức nhiều chuyến đi thực địa, tổ chức thí nghiệm, tăng gia sản xuất để học sinh hiểu rõ hơn những điều đã học trong sách. Và bản thân thầy cũng tự làm được nhiều công việc lao động khác. Chỉ riêng về việc… cày sâu cuốc bẫm thầy cũng là một tay cày giỏi! Thầy từng phát biểu rằng, nghề làm thầy không chỉ truyền đạt tri thức bằng lời nói, mà còn phải đem cả nhân cách của mình ra dạy, phải là tấm gương sáng để học trò noi theo.
Sau Cách mạng tháng Tám, thầy Lê Thước hăng hái tham gia nhiều công việc của Mặt trận Liên – Việt toàn quốc, và của tỉnh Thanh Hóa. Hòa bình lập lại (1954), thầy về công tác tại Ban Tu thư Bộ Giáo dục, rồi Vụ Bảo tồn bảo tàng Bộ Văn hóa. Thầy cũng là một trong những nhà giáo có uy tín được giao nhiệm vụ tham gia viết sách giáo khoa cấp II, cấp III ngay sau năm 1955. Với vốn Hán học uyên bác thầy đã cùng các đồng nghiệp nghiên cứu, biên soạn nhiều tập sách có giá trị như Thơ văn Nguyễn Khuyến (1957), Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền (1959), Thơ văn chữ Hán Nguyễn Du (1965)… Thầy mất ngày 1/10/1975 tại Hà Nội.
Đánh giá
Trong tập Thầy giáo Việt Nam mười thế kỷ (NXB Thanh Niên – 2000), GS Vũ Ngọc Khánh đã viết về thầy:
Nói về Lê Thước, ở các mặt nghiên cứu, hoạt động xã hội, hoạt động kinh tế v.v… ở đâu chúng ta cũng có thể nhận ra được phần đóng góp đáng trân trọng. Nhưng phải nói thêm về Lê Thước với tư cách là một người thầy. Phương pháp giảng dạy của ông tại các nhà trường hiện nay ta chưa đủ điều kiện để tìm hiểu cho đầy đủ. Song những học trò của ông – khá nhiều là những nhà trí thức có uy tín trong nước – đã luôn luôn giữ những ấn tượng đẹp đẽ về ông và thừa nhận ông đã có ảnh hưởng lớn đến họ. Ông Hà Huy Giáp cho rằng thầy Lê Thước đã tìm mọi cách thông qua các môn văn sử đề truyền cho học sinh tư tưởng phản đế. Ông Trần Hậu Toàn cho rằng thầy đã khơi lên trong lòng các em lòng yêu nước, thương nòi, thái độ và trách nhiệm đối với Tổ quốc… Những bức thư học sinh cũ gửi đến với những ý tứ như trên có khá nhiều và đều là của những nhà khoa học tiếng tăm (nhà khoa học Nguyễn Xiển, bác sĩ Nguyễn Đức Khỏi). Lúc ông mất, bài điếu văn do Đặng Thai Mai viết. Nhà thơ Vũ Đình Liên, sau đó hàng năm, cứ đến ngày giỗ của Lê Thước là không bao giờ vắng mặt, cho đến khi ông từ trần. Còn cả những học sinh hậu sinh, không được trực tiếp học với ông trên ghế nhà trường, vẫn giữ lễ thầy trò đối với ông.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.