Khái quát
Trên con đường đi về đất Bình Khê, một tráng sĩ vội vã phóng ngựa. Vó ngựa gập ghềnh. Bóng nắng nhợt nhạt phủ xuống cánh rừng. Đâu đó có tiếng cọp gầm. Nghe tin anh em Tây Sơn dựng cờ chiêu mộ hào kiệt để khởi nghĩa, tráng sĩ cũng nô nức tìm đến. Lúc chàng đang băng qua cánh rừng thì gặp cọp dữ. Không một chút chần chừ, chàng nhảy xuống ngựa quyết đấu. Tiếng roi vun vút trong gió. Con cọp lồng lên, giương những móng vuốt nhọn hoắt. Chỉ trong chớp mắt nó lao thẳng vào chàng. Chàng lảo đảo ngã về phía sau, tựa lưng vào gốc cây chống trả lại quyết liệt. Những miếng võ hiểm của chàng khiến cọp dữ rú lên. Nhưng nó không quay đầu chạy mà vẫn tấn công dữ dội. Càng chống trả, tráng sĩ càng kiệt sức. Mồ hôi túa ra đầm đìa. Cái chết đến gần trong gang tấc. Bỗng con cọp hộc lên một tiếng khủng khiếp rồi ngã lăn xuống đất. Phát hiện ra con thú hung dữ bị một mũi tên không biết từ đâu cắm vào đúng chỗ hiểm, tráng sĩ kinh ngạc nhìn quanh. Thì ra người vừa cứu mình thoát chết trong đường tơ kẽ tóc lại chính là một thục nữ. Môi nàng đỏ như son. Nét mặt hiền thục, dễ mến. Chàng vội vàng quỳ xuống tạ ơn ân nhân. Trời sụp tối. Cả hai thong thả cưỡi ngựa ra khỏi cánh rừng…
Tráng sĩ ấy là Trần Quang Diệu, vốn có tên là Trần Văn Đạt, người ở làng An Hải (nay thuộc quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng), con trai của ông Trần Tấn và bà Phan Thị Hy.
Thân thế
Còn ân nhân của chàng là Bùi Thị Xuân, người thôn Xuân Hòa – phía Nam sông Côn – thuộc xã Bình Phú, huyện Bình Khê (Bình Định). Nàng là con gái ông Bùi Đắc Chí, gọi Bùi Đắc Tuyên (Thái sư thời vua Quang Toản) bằng chú. Tuyên có chị (hoặc em) lấy vua Quang Trung sinh ra Quang Toản. Sống trong gia đình có truyền thống võ nghệ nên từ thuở nhỏ, nàng đã tập luyện thành thạo nhiều môn võ bí truyền, giỏi bắn cung, cưỡi ngựa và biết huấn luyện cả voi. Sau lần gặp gỡ đó, họ se duyên kết tóc trăm năm. Cả hai cùng chiến đấu dưới ngọn cờ chính nghĩa của anh em Tây Sơn và lập được nhiều chiến công hiển hách. Năm 1789, Trần Quang Diệu được vua Quang Trung cử làm đốc trấn để xây dựng thành Phượng Hoàng trung đô ở Nghệ An. Dự định của nhà vua là sau này sẽ đóng đô ở đây. Trong những năm tiếp theo, bà cùng chồng cầm quân đi đánh các lực lượng chống đối của nhà Lê đang ngóc đầu dậy. Bấy giờ, bọn hoàng thân Lê Duy Chỉ cấu kết với tù trưởng Bảo Lạc (Hà Tuyên), Cao Bằng và cả vua nước Vạn Tường để khởi binh. Bằng mưu lược của mình, bà đã cùng chồng đánh tan lực lượng trên.
Cuộc đời và sự nghiệp
Tiếng tăm của vợ chồng danh tướng Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân ngày càng lừng lẫy, họ trở thành chủ tướng của quân đội Tây Sơn. Vó ngựa của họ tung hoành từ Nam chí Bắc. Thế nhưng cơ đồ của nhà Tây Sơn đang xây dựng thì năm 1792, vua Quang Trung đột ngột băng hà. Quang Toản mới 10 tuổi lên nối ngôi, đặt niên hiệu Cảnh Thịnh, nhưng mọi quyền hành đều nằm trong tay Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Lúc này, Bùi Thị Xuân được phong làm Đô đốc và cử vào trấn thủ Quảng Nam. Trần Quang Diệu nhận lệnh vào Diên Khánh đánh Nguyễn Ánh. Do vua còn nhỏ tuổi nên Tuyên ngày càng chuyên quyền khiến đại thần trong triều ngày càng oán ghét. Phụng chính Trần Văn Kỷ mật báo với danh tướng Vũ Văn Dũng: “Thái sư ngôi to nhất các quan, chuyên quyền độc đoán, không có lợi cho xã tắc. Nếu không mưu giết đi thì sau này tình thế càng rối ren”. Dũng bèn cùng Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn vây bắt Tuyên. Quang Toản bất đắc dĩ phải đồng ý. Tuyên bị tống vào ngục. Con trai Tuyên là Đắc Trụ bị dìm xuống nước chết. Quang Toản không thể can thiệp được, chỉ biết nhỏ nước mắt khóc lóc thương xót. Tình thế ấy đã đặt nữ tướng Bùi Thị Xuân vào chỗ khó xử.
Về tình riêng, bà là cháu của Thái sư Bùi Đắc Tuyên, nhưng trước họa Nguyễn Ánh thì sao? Bà vội mật báo cho chồng đang vây thành Diên Khánh. Nghe tin ấy, Trần Quang Diệu cả sợ, bảo với các thuộc hạ: “Chúa không có đức cương quyết, đại thần giết lẫn nhau là có biến lớn đấy. Trong không yên thì làm sao chống đỡ được giặc ngoài?”. Nói xong, Diệu cho rút quân về kinh đô đóng ở bờ Nam sông An Cựu, Dũng đem quân đóng ở bờ Bắc chống cự lại. Lợi dụng cơ hội đại thần Tây Sơn đang chia năm xẻ bảy, Nguyễn Ánh đem quân đánh chiếm lại những vùng đất ở phía Nam. Đang trấn thủ ở Quảng Nam, suy tính mưu kế chống trả lại các đợt tiến quân của Nguyễn Ánh thì nữ tướng Bùi Thị Xuân được lệnh hồi triều. Có phải Quang Toản lấy tình riêng muốn có bà bên cạnh trong lúc này hay mưu của Vũ Văn Dũng muốn hại bà? Dù vậy, bà cũng dàn binh bố trận chu đáo. Nguyễn Ánh cho đây là cơ hội tốt liền đem quân đánh Quảng Nam. Nhưng Ánh vừa kéo quân đến thì bị đánh một trận tơi bời. Thua mua trí đàn bà, Ánh tức tối lui quân và thề sẽ rửa mối nhục này. Đánh thắng một trận oanh liệt, Bùi Thị Xuân kéo quân về Phú Xuân. Trong lúc này trước cảnh nồi da xáo thịt, Quang Toản lo sợ, sai người đi hòa giải. Trần Quang Diệu được phong Thiếu phó, Vũ Văn Dũng làm Tư đồ, Nguyễn Văn Danh làm Đại tư mã, Nguyễn Văn Huấn làm Thiếu bảo – đây là tứ trụ đại thần của nhà Tây Sơn dưới thời Quang Toản. Nhưng có người dèm pha rằng: Diệu uy quyền quá to sẽ có mưu phản. Toản tin theo, thu lại binh quyền. Vì thế Trần Quang Diệu trong lòng lo sợ, thường cáo ốm không vào chầu, sai thủ hạ vài trăm người ngày đêm cầm binh khí để tự vệ.
Trước đây, năm 1793, lợi dụng lúc nội bộ Tây Sơn đang lục đục, Nguyễn Ánh đem quân đánh chiếm Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc hoảng sợ phải cầu cứu Quang Toản. Toản sai Phạm Công Hưng và Đặng Văn Trấn vào giải vây. Nhưng sau đó, Hưng và Trấn ra lệnh tịch thu kho tàng, binh khí và chiếm giữ lấy thành khiến Nguyễn Nhạc ức quá, thổ huyết mà chết. Vợ Nhạc bảo với con là Nguyễn Bảo: “Khai thác cõi đất này là công của cha mày, nếu sống mà chịu nhục thì chết còn hơn”. Vì thế Bảo làm phản, đem quân đánh úp chiếm lại thành Quy Nhơn, sau đó đầu hàng Nguyễn Ánh. Cay cú trước trò phản phé này, Quang Toản sai Thiếu phó Trần Quang Diệu đi đánh chiếm lại thành Quy Nhơn. Thành này do Võ Tánh và Ngô Tùng Châu – danh tướng của Nguyễn Ánh đang trấn giữ. Từ Phú Xuân, Trần Quang Diệu bàn bạc với vợ:
– Ta nghe tiếng Tánh và Châu đã lâu. Nay đem quân đánh một trận để xem chúng cầm quân khiển tướng ra sao!
Bùi Thị Xuân gật gù đồng ý và hiến kế:
– Lúc này giặc trơ trọi giữ thành trong tình thế bất lợi. Ta đem bộ binh nhanh chóng vây thành thì chúng khác nào như cá đang nằm trên thớt? Chúng chờ quân cứu viện từ Gia Định ư? Ta đem thủy binh chặn ở cửa biển Thị Nại. Chúng chỉ còn cách mọc cánh mà bay lên trời!
Mùa đông năm đó, quân Tây Sơn đem vài vạn quân tinh nhuệ, hơn một trăm chiến thuyền đồng loạt ra quân. Vũ Văn Dũng đem thủy quân vào cửa biển Thị Nại. Trần Quang Diệu chỉ huy quân bộ, trên đường đi, ông tiêu diệt chốt tiền tiêu ở Thạch Tân. Không đối đầu nổi, Võ Tánh sai phó tướng Nguyễn Văn Thập rút quân để cố thủ trong thành, mặt khác sai Lê Chất mật báo cho Nguyễn Ánh biết tình hình. Trần Quang Diệu bắt đầu bao vây thành. Võ Tánh vẫn ru rú không động binh. Thấy để lâu sẽ bất lợi, Quang Diệu lập mưu:
– Tánh không ra quân là dùng kế cầm cự lâu dài để quân ta ngày càng mệt mỏi. Chúng muốn thế thì ta đắp lũy ngoài thành. Thử xem ai hơn ai?
Kế hoạch này chẳng khác nào đưa Tánh vào rọ. Khi nghe tin Tánh bị vây, Nguyễn Ánh nói:
– Lương thực trong thành còn đủ dùng trong một năm, nay gió đông bắc đang mạnh, không lợi đi đường thủy, đợi đến mùa xuân sang năm cứu viện cũng chưa muộn.
Đúng kế hoạch này, mùa xuân năm 1801, Lê Văn Duyệt tấn công quân Tây Sơn ở cửa biển Thị Nại và có thông báo cho Tánh biết. Tánh nhân cơ hội này, mở cửa thành phía Đông đem quân ra giao chiến hòng tìm đường thoát vòng vây, nhưng bị quân Tây Sơn đánh một trận tan tác, lại phải rút lui cố thủ. Cung cấp lương thực cạn kiệt, quân trong thành phải giết cả voi ngựa để ăn. Nguyễn Ánh sai người mang thư lẻn vào thành bảo Tánh phá vòng vây, ra hội với đại binh của Duyệt. Tánh thấy không thể được, bèn làm tờ biểu hiến kế: “Tướng giỏi quân mạnh của Tây Sơn đều ở đây cả, Phú Xuân đang bỏ trống. Đây là cơ hội ngàn năm có một. Xin để thành Quy Nhơn ra ngoài không tính đến. Hãy đem quân chiếm lấy Phú Xuân, được vậy thì thần có chết cũng vui lòng nơi chín suối”.
Một hôm, phó tướng Ngô Tùng Châu đến hỏi Võ Tánh mưu kế. Tánh chỉ đống củi có đặt thuốc súng dẫn lửa ở phía dưới lầu bát giác, nói: “Kế của ta đấy!”. Châu hiểu ý, quay về mặc triều phục, trông về cửa khuyết lạy, rồi uống thuốc độc tự tử. Hai ngày sau, Võ Tánh leo lên lầu bát giác, sau khi hút xong điếu, Tánh châm vào thuốc dẫn lửa. Lửa cháy bùng lên. Tánh chết chiêu trong lửa. Sự kiện này trong Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn có ghi lại: “Diệu dẫn quân vào thành, trông thấy thương chảy nước mắt ra, lấy lễ thu chôn, tướng sĩ ở trong thành, giặc (tức quân Tây Sơn) không giết một ai cả”. Chi tiết này khiến chúng ta cảm phục đức độ của chồng bà Bùi Thị Xuân. Trong khi quân tinh nhuệ Tây Sơn đang đóng ở Quy Nhơn thì Nguyễn Ánh làm theo kế sách của Võ Tánh, chỉ để lại lực lượng nhỏ do Nguyễn Văn Thành cầm cự, rồi đem đại binh ra đánh Phú Xuân. Trên đường tiến quân, Ánh tấn công thành Quảng Nam.
Nữ tướng Bùi Thị Xuân cấp tốc đem quân vào cứu viện. Giải vây xong Quảng Nam thì hay tin Lê Văn Duyệt thống lĩnh hơn 1.000 chiến thuyền vượt biển đánh vào Thuận An, bà kéo quân ra cứu viện thì bị bao vây. Sau đó quân Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân. Quang Toản không chống cự nổi phải bỏ chạy ra Bắc. Nữ tướng Bùi Thị Xuân cũng tìm đường ra Bắc. Mùa xuân năm 1802, Quang Toản sai em là Quang Thùy vào trấn giữ Nghệ An, còn mình đem quân đi đánh chiếm lại Phú Xuân. Đô đốc Bùi Thị Xuân được lệnh đem 5.000 quân đi tòng chinh. Khí thế của quân Tây Sơn thật dữ dội, họ đánh lũy Trấn Ninh (cửa ải Quảng Bình ngày nay), chọc thủng lũy Đâu Mâu để vượt qua sông Gianh. Quân Nguyễn Ánh rút lui về Động Hải. Hai bên giao chiến dữ dội. Biết đây là chỗ hiểm yếu, Ánh thúc quân đào hào sâu, đắp thành caovà đặt nhiều vũ khí tối tân của phương Tây nên chiếm được ưu thế. Khi quân Tây Sơn tiến lên thì quân Nguyễn Ánh bắn súng lớn và ném đá xuống như mưa, làm bị thương và chết rất nhiều. Quang Toản sợ hãi muốn rút quân, Đô đốc Bùi Thị Xuân đến nắm cương ngựa, nói:
– Tâu bệ hạ! Quân ta dẫu không chống cự nổi nhưng khí thế đang hăng. Giặc đang mạnh nhưng tinh thần cũng sa sút lắm. Chi bằng ta cố đánh. Thành bại về ai chưa thể nói trước được.
Quang Toản cho là phải, bèn thúc quân đánh tiếp. Mãi đến trưa, nghe tin thủy quân đã bị đánh bại, Toản hoảng sợ cho quân tháo lui! Quang Toản chạy ra Thăng Long, giao Đô đốc Bùi Thị Xuân ở lại Nghệ An cản sức tiến quân của Nguyễn Ánh và đợi hợp binh với chồng. Lúc này, Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng đang ở Quy Nhơn nghe tin bèn đem 3.000 binh đinh, 80 thớt voi chiến vượt đường sang Ai Lao để tiến ra Nghệ An. Nhưng họ vừa đến huyện Hương Sơn thì Nghệ An đã mất, quân Tây Sơn không còn tinh thần chiến đấu, tự động tan rã. Tại đây, Trần Quang Diệu gặp lại vợ, hai người mừng mừng tủi tủi. Họ bàn với nhau chạy về huyện Thanh Chương, nhưng hai ngày sau thì bị quân Nguyễn Ánh vây bắt. Trong khi đó, Quang Toản biết không chống cự nổi nên cùng với em Quang Thùy, Quang Thiệu và các quan tư mã, đô đốc khác vội vã chạy lên phía Bắc. Khi đến Xương Giang, trong đêm khuya đang ngủ trọ thì bị dân thôn mưu bắt, đóng cũi đưa về Thăng Long. Quang Thùy thắt cổ tự tử.
Triều đại Tây Sơn sụp đổ
Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802 và hai năm sau mới đặt niên hiệu Gia Long. Tranh giành ngôi báu, thành bại là chuyện thường tình xưa nay. Nhưng cách trả thù của Gia Long đối với nhà Tây Sơn thật khủng khiếp. Tù binh bị bắt đều chịu cực hình tra tấn tàn khốc. Mộ anh em vua Quang Trung đều bị khai quật, đem giã nát thây, còn đầu thì bị giam trong ngục tối. Ngay cả những vùng đất phát tích của anh em Tây Sơn cũng bị đổi tên, chẳng hạn ấp Tây Sơn đổi thành ấp An Tây, hoặc Quy Nhơn đổi thành Bình Định, v.v… Số phận của vợ chồng danh tướng Bùi Thị Xuân ra sao?
Sau khi giết Trần Quang Diệu, Gia Long đưa mẹ con bà ra pháp trường Thăng Long. Trước lúc hành quyết, Gia Long sai lính lấy hèo đánh vào khuỷu chân, níu tóc giập đầu bắt lạy, nhưng bà vẫn nhất định không chịu. Gia Long điên tiết hỏi:
– Giữa ta với Nguyễn Huệ, ai hơn ai kém?
Bà dõng dạc đáp:
– Sao lại so sánh như thế? Tiên đế ta lấy áo vải dựng cờ đào, đánh Đông dẹp Bắc, bách chiến bách thắng, đánh Nguyễn thì Nguyễn bại, đánh Trịnh thì Trịnh vong, đánh một trận thì quân Xiêm tan tác, đánh hai trận thì quân Tàu khiếp vía. Sao ngươi lại so sánh như thế? Có khác nào đem rồng ví với giun bọ, lấy biển cả sánh với đầm lầy?
Gia Long tím mặt, nhưng cũng nén giận cười gằn:
– Tiên đế ngươi anh hùng, nhưng sao người lại chịu trói?
Bà ngửa mặt trả lời:
– Tiên đế ta mất sớm, nếu không ngươi đã bỏ xác từ lâu rồi!
Gia Long tức giận trả thù bằng cách sai thuộc hạ treo ngược con gái của bà, rồi đập đầu vào tường cho đến chết. Còn gì tàn nhẫn hơn, đau lòng hơn khi chính bà phải chứng kiến cái chết tàn khốc của con mình! Trước lúc thần chết đưa lưỡi hái đến để gặt lấy linh hồn thì con gái bà hoảng sợ khóc thét lên:
– Mẹ ơi cứu con!
Dù thương con đến đứt từng đoạn ruột, nhưng bà cũng chỉ nói:
– Đừng khóc! Đừng sợ! Mẹ không cứu được con đâu. Chẳng thà chết còn hơn sống chung với lũ cõng rắn cắn gà nhà!
Cũng chưa thỏa cơn giận, Gia Long hạ lệnh lấy vải tẩm sáp bó bà lại, rồi dùng lửa đốt cháy. Bà đã trở thành bó đuốc cháy rực, nhưng không hề hé răng than van! Chính Gia Long chứng kiến cảnh giết người man rợ này, cũng phải khâm phục khí phách lẫm liệt của bà. Lại có truyền thuyết khác về cái chết của Bùi Thị Xuân. Một cố đạo Thiên Chúa giáo là De La Bissachère lúc đó đang ở Phú Xuân, ghi lại lời kể của một tín đồ chứng kiến thì bà bị hành hình ở Phú Xuân – chứ không phải ở Thăng Long: “Con gái của bà đã bị vứt cho voi dày. Đến lượt bà cũng chịu nhục hình này. Nhưng trong tư thế hiên ngang, bà tiến thẳng đến trước voi khiến con vật này đứng sững lại như khiếp sợ oai vũ của bà. Bọn đao phủ phải thúc trống và giục bà phải quỳ xuống, nhưng bà vẫn thản nhiên tiến bước. Con voi lui lại. Bọn đao phủ lấy giáo thọc vào đùi voi, bấy giờ con voi mới quặp bà tung lên trời”.
Dù chấp nhận một trong hai cái chết như trên thì Đô đốc Bùi Thị Xuân cũng đều xứng đáng là nữ tướng Tây Sơn. Trên quê hương Bình Định còn lưu truyền câu:
Ai về Bình Định mà coi
Đàn bà con gái cầm roi đi quyền
Chắc hẳn khí phách lẫm liệt của nữ tướng Bùi Thị Xuân cũng ảnh hưởng đến tinh thần thượng võ của những người con gái quê hương bà.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.