Ba pho Tượng Tam Thế chùa Linh Ứng

Ba pho Tượng Tam Thế chùa Linh Ứng

Thông tin cơ bản

Tên: Tượng Tam Thế chùa Linh Ứng
Niên đại: Thế kỷ XVII, thời Lê Trung Hưng
Chất liệu: Đá xanh
Số lượng: 03 pho
Số đăng ký: 02
Kích thước: Tượng cao khoảng 1,42–1,46 m; tổng thể cả tượng và bệ cao khoảng 2,59 m
Trọng lượng: Mỗi pho nặng khoảng vài tấn
Nơi lưu giữ: Chùa Linh Ứng, thôn Ngọc Khám, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Giới thiệu hiện vật

Ba pho Tượng Tam Thế chùa Linh Ứng là một bộ tượng Phật bằng đá có kích thước lớn, được tạo tác vào khoảng thế kỷ XVII dưới thời Lê Trung Hưng. Cả ba pho được bố trí thành một chỉnh thể thống nhất, mỗi pho gồm tượng Phật, đài sen và bệ đá nhiều tầng, tổng chiều cao khoảng 2,59 m. Tuy có những khác biệt về thế tay, tư thế ngồi và hoa văn trang trí, cả ba đều mang chung một phong cách tạo hình: thân tượng lớn, đầy đặn, khuôn mặt phúc hậu, tóc xoắn ốc, đỉnh đầu nổi nhục kế, tai dài, mắt khép hờ và miệng mỉm nhẹ, tạo nên vẻ tĩnh tại và từ hòa.

a. Pho tượng ở giữa: 

– Tượng được tạc bằng đá khối với thân hình to lớn nở nang (cao 1,46 m, cả bệ 2,59 m) trong tư thế ngồi thiền định tư thế “bán kiết già” trên toà sen; đầu to, sọ nở, tóc xoắn ốc, đỉnh nổi nhục kháo. Khuôn mặt nữ tính, đầy đặn, phúc hậu, lông mày cong lá liễu, mắt khép hờ nhìn xuống nhân từ,  miệng mỉm cười độ lượng; tai to dài chảy. Thân hình nở nang; vận pháp y với 3 lớp mềm mại: Lớp áo ngoài choàng qua bờ vai, lớp trong phủ kín toàn thân, lớp trong cùng phía trên để hở ngực đeo dây “anh lạc”, diềm áo ngoài chạm chìm hoa cúc và hoa sen . Tay phải giơ lên trong tư thế kết ấn ( ba ngón cuối giơ lên, ngón chỏ và ngón cái cong cụp vào lòng bàn tay). Tay trái để úp nhẹ nhàng trên đùi trái. Hiện trạng một góc đùi trái bị vỡ.

– Đài sen: Bằng đá khối lớn (đường kính 2,15 m, cao 0, 41 m) với 3 lớp cánh xen kẽ nhau nở rộ ( mỗi lớp 16 cánh): Lớp cánh sen trên cùng để trơn. Lớp cánh sen ở giữa cánh to mập và được chạm nổi hình “rồng đơn” xen kẽ với “ rồng đôi” chầu vào viên ngọc đang toả sáng. Lớp cánh sen dưới, cánh chạm nổi rồng chầu ngọc xen kẽ với cánh chạm hoa cúc dây. Rồng có thân hình mập mạp, mình trơn không vẩy, đầu có mào bờm tóc bốc lên cao.

– Bệ tượng: Được chia làm ba phần: Phía trên là trụ tròn bẹt và được chạm nổi một đôi rồng lớn đang chầu vào một viên ngọc. Rồng đầu có tai thú, sừng có ngạc, bờm râu và tóc dài, mắt lồi to, miệng há rộng để lộ răng; trên thân rồng có vảy đơn, sống lưng có vây dựng cao; chân trước có 3 móng sắc cong quặp và 1 móng choãi sau. Phần bệ tiếp theo là 2 lớp cánh sen to mập và đầu cánh sen chạm nổi vân mây cuộn; lớp trên chạm nổi những hạt nhỏ xếp theo hình hoa. Phần bệ cuối cùng tiếp đất được tạo theo kiểu bát giác ba cấp: Cấp trên cùng các mặt bên tạo thành 4 ô chữ nhật to và 4 ô chữ nhật nhỏ, được chạm nổi đề tài “ tứ linh tứ quý” gồm long, ly, quy, phượng, tùng, trúc, cúc, mai với đường nét chau chuốt tỉ mỉ. Cấp tiếp theo bề mặt trên chạm nổi hoa dây; các mặt bên cũng tạo thành 4 ô chữ nhật to và nhỏ, chạm nổi đề tài “ mã hoá long” xen kẽ với “ rồng chầu ngọc”. Cấp cuối cùng tiếp đất: Mặt trước chạm rồng chầu, mặt sau chạm sóng nước “thuỷ ba” với đưòng nét to khoẻ phóng khoáng. 

b. Pho tượng thứ hai (bên tay trái): 

– Tượng: được tạo tác tương tự như pho ở giữa, nhưng khác trong tư thế ngồi thiền, thế tay kết ấn, một số chi tiết trang trí trên đài sen và bệ : Tượng cũng có thân hình nở nang to lớn ( cao 1,46 m, vai rộng 0,66 m, đùi rộng 1,13 m); đầu to sọ nở, tóc xoắn ốc, đỉnh nổi nhục kháo, tai to dài, mặt đầy đặn phúc hậu, lông mày cong, mắt khép hờ nhìn xuống nhân từ, môi mỉm cười độ lượng. Tượng ngồi thiền “bán kiết” trên toà sen; tay phải giơ lên kết ấn theo kiểu ( ngón chỏ, ngón giữa giơ lên, còn ngón cái, ngón nhẫn và ngón út thì cong cụp vào lòng bàn tay); tay trái để ngửa nhẹ nhàng trên lòng đùi. Áo tượng ba lớp, lớp ngoài choàng qua vai, lớp trong choàng kín người để hở cổ và ngực đeo dây anh lạc, trước bụng thắt “con ro”; diềm áo ngoài chạm chìm hoa cúc và hoa sen. 

– Đài sen: được tạo bằng đá khối lớn (đường kính 1,13 m, cao 0, 38 m) với 3 lớp cánh sen to mập, nở rộ, đầu các cánh sen chạm nổi mây cuộn: Lớp cánh sen trên cùng để trơn không chạm khắc. Lớp giữa các cánh sen chạm xen kẽ đôi rồng chầu ngọc và rồng đơn uốn khúc cũng chầu ngọc đang toả sáng. Lớp cánh sen dưới cùng, mỗi cánh được chạm một con rồng đang uốn khúc chầu vào viên ngọc đang toả sáng. Rồng trên các lớp cánh sen đều có thân hình mập mạp, trơn không vảy, đầu có bờm râu tóc bốc lên phía trước, miệng há to đang chầu vào viên ngọc, chân có 4 móng với 3 móng trước cong quặp sắc nhọn. 

– Bệ tượng: Chia làm ba phần: Phía trên là trụ tròn bẹt, mặt trước chạm nổi một đôi rồng lớn chầu vào viên ngọc đang toả sáng; rồng đầu có sừng và tai, lưng có vây dựng đứng. Bên cạnh chạm hình lá đề bên trong có cặp sừng vắt chéo trên cây vũ trụ và sóng nước. Mặt bên chạm “lân hoá long” với chân trước vuốt râu, chân sau đeo túi kinh. Phần bệ dưới tiếp đất được tạo theo kiểu ba cấp: Cấp trên cùng tạo thành 4 ô chữ nhật to chạm nổi đôi rồng “chầu ngọc” và 4 ô chữ nhật nhỏ chạm nổi hoa cúc mãn khai. Cấp tiếp theo được tạo thành hình chữ nhật và chạm nổi các lớp sen xếp chồng cánh lên nhau. Cấp cuối cùng tiếp đất được tạo như một “sập chân quỳ” xung quanh chạm hoa lá cách điệu. 

c. Pho tượng thứ ba (bên tay phải):

– Tượng: cũng được tạo tác tương tự như hai pho bên, nhưng khác trong tư thế ngồi thiền, thế tay kết ấn, một số chi tiết trang trí trên đài sen và bệ : Tượng có thân hình nở nang to lớn, nhưng chiều cao thấp hơn một chút so với hai tượng bên ( cao 1,42 m, vai rộng 0,66 m, đùi rộng 1,13 m); đầu to sọ nở tóc xoắn ốc, đỉnh nổi nhục kháo, tai to dài, mặt đầy đặn phúc hậu, lông mày cong, mắt khép hờ nhìn xuống nhân từ, môi mỉm cười độ lượng. Tượng ngồi thiền “bán kiết” trên toà sen;  hai tay để nhẹ nhàng trên đùi kết ấn “ tam muội”. Áo tượng cũng ba lớp, lớp ngoài choàng qua vai, lớp trong choàng kín người để hở cổ và ngực đeo dây “anh lạc”, bụng thắt “con ro”; diềm áo ngoài chạm chìm hoa cúc và hoa sen. 

– Đài sen: được tạo bằng đá khối lớn (đường kính 1,17 m, cao 0, 38 m) với 3 lớp cánh ( mối lớp 16 cánh) xen kẽ nhau nở rộ to mập: Lớp cánh sen trên cùng để trơn không chạm khắc. Lớp cánh sen giữa cứ một ánh chạm nổi đôi rồng “chầu ngọc” lại xen kẽ một cánh chạm nổi một con rồng uốn khúc trong lá đề chầu vào viên ngọc đang toả sáng; đầu các cánh sen chạm nổi mây cuộn. Lớp cánh sen dưới cùng, mỗi cánh được chạm một con rồng đang uốn khúc chầu vào viên ngọc đang toả sáng lại xen kẽ với cánh chạm nổi cúc dây . Rồng trên các lớp cánh sen đều có thân hình mập mạp, trơn không vảy, đầu có bờm râu tóc bốc lên phía trước, miệng há to đang chầu vào viên ngọc. 

– Bệ tượng: Chia làm ba phần: Phía trên là trụ tròn bẹt, mặt trước và sau chạm nổi rồng có mặt kiểu hổ phù. Rồng có bờm tóc xoắn ốc, râu trê, tóc tốt dựng trên đỉnh đầu, thân có vẩy, sống lưng có vây dựng đứng. Hai mặt bên lại chạm nổi rồng có thân trơn không vẩy, đầu có bờm tóc râu bốc lên. Phần bệ tiếp theo là hai lớp cánh sen, đầu cánh sen chạm nổi mây cuộn. Phần bệ dưới tiếp đất được tạo theo kiểu bát giác ba cấp: Cấp trên cùng tạo thành 4 ô chữ nhật to để trơn và 4 ô chữ nhật nhỏ chạm nổi cúc mãn khai. Cấp tiếp theo được tạo thành 4 ô chữ nhật to chạm nổi rồng chầu ngọc và 4 ô nhỏ chạm  nổi xen nở rộ. Cấp cuối cùng tiếp đất, mặt trên chạm hoa dây, các mặt bên chạm nổi sóng nước thuỷ ba. 

Kết luận chung: Cả 3 pho tượng Tam Thế chùa Linh Ứng được tạo tác cơ bản là giống nhau, cùng chất liệu bằng đá xanh, đã ngả màu xám; toàn thân tượng trong khối đóng kín với thân hình nở nang to lớn (cao 1,46 m, cả bệ 2,59 m), được bố cục thành 3 phần (tượng, đài sen, bệ). Tượng được tạo tác với nét chạm to khoẻ phóng khoáng, cùng hoa văn rồng trên đài. 

Căn cứ vào phong cách nghệ thuật tạo tác và hoa văn trang trí đã cho biết cả ba pho Tượng Tam Thế (tượng và đài sen) và tấm bia đá của chùa có tên “Trùng tu Linh Ứng tự các chung bi”, niên đại “Hoằng Định 13” (1612), năm Nhâm Tý triều vua Lê Kính Tông được trùng tu và tu sửa tượng Phật như sau:  “Cổ tích Linh Ưng làm từ thời Trần, lâu ngày đổ nát…Ngày 25 tháng 10 cùng năm ( tức năm Nhâm Tý – 1612) tô tượng Phật…”. Cú thể thấy ba pho tượng này được tạo tỏc vào thế kỷ XVII (thời Lê Trung Hưng).

Giá trị tiêu biểu

Giá trị lịch sử: Bộ tượng có niên đại thuộc thời Lê Trung Hưng, gắn với lịch sử trùng tu chùa Linh Ứng đầu thế kỷ XVII và sự phát triển lâu dài của Phật giáo tại vùng Bắc Ninh.
Giá trị nghệ thuật: Ba pho tượng có quy mô lớn, hình khối khỏe, khuôn mặt phúc hậu, pháp y mềm mại và hệ thống bệ – đài sen được chạm khắc rất phong phú, tạo nên một tổ hợp điêu khắc đá có giá trị cao.
Giá trị kỹ thuật: Việc tạo tác những khối tượng đá cao hơn 1,4 m, mỗi pho nặng tới vài tấn, cùng những bệ nhiều tầng và hàng loạt chi tiết chạm nổi cho thấy trình độ đáng kể của nghệ nhân đương thời.
Giá trị phong cách: Hoa văn rồng, hoa sen, tứ linh, tứ quý, mã hóa long, lân hóa long và thủy ba cho thấy sự kế thừa các truyền thống nghệ thuật thời Trần, Lê Sơ và Mạc, đồng thời phản ánh rõ đặc trưng của nghệ thuật Lê Trung Hưng.
Giá trị Phật giáo: Bộ Tam Thế thể hiện quan niệm về chư Phật của ba thời, đồng thời phản ánh vai trò bền vững của Phật giáo trong đời sống tinh thần và mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XVII.

Với ba pho tượng đá có kích thước lớn, tạo hình thống nhất nhưng không hoàn toàn trùng lặp, cùng hệ thống đài sen và bệ chạm khắc đặc biệt phong phú, Ba pho Tượng Tam Thế chùa Linh Ứng là một bộ hiện vật tiêu biểu của điêu khắc Phật giáo thời Lê Trung Hưng. Bộ tượng vừa cho thấy kỹ thuật chế tác đá phát triển, vừa lưu giữ những lớp kế thừa và biến đổi của nghệ thuật Phật giáo Việt Nam qua nhiều thời kỳ.

Nguồn ảnh: Sưu tầm

Chấm điểm
Chia sẻ
Ba pho tượng Tam Thế chùa Linh Ứng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)