Tên gọi chính thức: Tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường
Tên gọi khác: Tượng nhục thân, toàn thân xá lợi, tượng táng hai thiền sư họ Vũ
Niên đại: Giữa thế kỷ XVII, thời Lê Trung Hưng
Thiền sư Vũ Khắc Minh: Pháp danh Đạo Chân
Thiền sư Vũ Khắc Trường: Pháp danh Đạo Tâm
Kích thước: Tượng Vũ Khắc Minh cao khoảng 57 cm; tượng Vũ Khắc Trường cao khoảng 75 cm
Nơi thờ tự: Chùa Đậu – Thành Đạo tự, thôn Gia Phúc, khu vực Thường Tín, Hà Nội
Xếp hạng: Bảo vật quốc gia, Quyết định số 2496/QĐ-TTg ngày 22/12/2016.
Giới thiệu hiện vật
Tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường là hai di vật đặc biệt đang được thờ tại chùa Đậu, một cổ tự nổi tiếng của vùng Thường Tín. Khác với tượng Phật hay tượng tổ thông thường được tạc hoàn toàn từ gỗ, đất hoặc chất liệu khác, hai pho tượng này được hình thành trên cơ sở di thân của chính hai vị thiền sư, bên ngoài được xử lý bằng các lớp vật liệu truyền thống để bảo tồn và tạo thành hình tượng thờ. Trong văn hóa Phật giáo, hai bảo vật thường được gọi là “nhục thân” hoặc “toàn thân xá lợi”; trong nghiên cứu bảo tồn, các thuật ngữ “tượng táng”, “thiền táng” cũng được sử dụng để mô tả loại hình đặc biệt này.
Thiền sư Vũ Khắc Minh được thể hiện trong tư thế ngồi thiền kiết già, đầu hơi cúi, thân nghiêng về phía trước. Hai chân bắt chéo, bàn chân ngửa trên đùi; hai tay đặt trước bụng, tư thế gợi động tác lần tràng hạt. Cấu trúc cơ thể được thể hiện rất tự nhiên, các phần xương ngực và cột sống còn nhận thấy khá rõ. Khuôn mặt mang những nét cá thể riêng, tạo cảm giác tĩnh tại và tập trung của người đang nhập định. Pho tượng cao khoảng 57 cm; trước đợt bảo quản lớn đầu thế kỷ XXI có trọng lượng khoảng 7 kg, sau xử lý khoảng 7,5 kg.
Tượng Vũ Khắc Trường cũng ngồi trong tư thế thiền định nhưng thân hình đầy đặn và lưng thẳng hơn. Hai chân xếp vòng, phần ngực và tay được tạo thành những khối rõ hơn so với tượng Vũ Khắc Minh. Pho tượng cao khoảng 75 cm. Do từng chịu hư hại nghiêm trọng bởi môi trường, thiên tai và lũ lụt, cấu trúc của tượng Vũ Khắc Trường đã phải trải qua quá trình gia cố, phục hồi phức tạp; vì vậy hình thức và trọng lượng hiện nay có nhiều yếu tố thuộc quá trình bảo tồn sau này.
Niên đại của hai bảo vật được xác định vào giữa thế kỷ XVII. Một nguồn tư liệu đặc biệt quan trọng là bia Tu tạo Pháp Vũ tự bi ký dựng năm Dương Hòa thứ 5 (1639), trong đó nhắc đến ba tăng nhân tại chùa, gồm Nguyễn Đăng Dung, Sa di Vũ Khắc Minh và Tăng Vũ Khắc Trường. Tư liệu này tạo cơ sở lịch sử để xác định hai thiền sư là những người từng tu hành, trụ trì tại chùa trong nửa đầu thế kỷ XVII.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Hai pho tượng gắn với Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường – những nhân vật được văn bia năm 1639 ghi nhận tại chùa Đậu, tạo nên sự liên hệ rõ ràng giữa bảo vật, nhân vật và không gian lịch sử.
Giá trị tôn giáo: Trong truyền thống Phật giáo tại chùa Đậu, hai di thân được tôn kính như “toàn thân xá lợi”, biểu đạt niềm tin đối với sự tu tập và phẩm hạnh của các vị cao tăng.
Giá trị nghệ thuật: Tư thế thiền định, những đặc điểm cá thể trên gương mặt và cơ thể cùng lớp sơn tạo hình bên ngoài khiến hai bảo vật nằm ở ranh giới đặc biệt giữa di thân, tượng chân dung và nghệ thuật thờ tự.
Giá trị khoa học: Cấu trúc bên trong bảo lưu hệ xương người trong tư thế ngồi thiền, tạo nguồn tư liệu hiếm cho nghiên cứu nhân học, kỹ thuật bảo quản di thể và hiện tượng tượng táng ở Việt Nam.
Giá trị quý hiếm: Hồ sơ Bảo vật quốc gia đánh giá đây là hai hiện vật gốc, độc bản, tiêu biểu cho loại hình tượng táng đặc biệt của Việt Nam. Năm 2016, cả hai được công nhận chung thành một nhóm Bảo vật quốc gia.
Giá trị bảo tồn: Lịch sử tồn tại gần bốn thế kỷ cùng những lần bảo quản, phục hồi cho thấy đây không chỉ là di sản của thế kỷ XVII mà còn là một trường hợp quan trọng trong nghiên cứu bảo tồn vật liệu hỗn hợp và di thân người trong môi trường di tích.
Với hình thức di thân của hai thiền sư được bảo lưu trong tư thế nhập định và tạo thành tượng thờ, Tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường là một nhóm bảo vật đặc biệt của văn hóa Phật giáo Việt Nam thế kỷ XVII. Giá trị của hai bảo vật nằm đồng thời ở lịch sử nhân vật, tín ngưỡng, nghệ thuật tượng táng và khoa học bảo tồn, qua đó tạo nên một loại hình di sản hiếm gặp trong kho tàng văn hóa Việt Nam.
Nguồn ảnh: Sưu tầm
