Nguyễn Thị Duệ (1574 – 1654)

Nguyễn Thị Duệ (1574 – 1654)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Thời trước, khi đi dạo chơi đến đền Sầm Nghi Đống thấy quang cảnh tiêu điều, không nhang khói, rêu ẩm mốc theo thời gian, bà Hồ Xuân Hương phóng bút đề những câu thơ mỉa mai, không thèm trông thẳng, trông lên mà:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền thái thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!

Thân thế và sự nghiệp

Sự nghiệp anh hùng của nhân vật này như thế nào? Y là tướng của Tôn Sĩ Nghị được lệnh dẫn một đạo quân sang xâm lược nước ta năm 1789. Trong bão táp cuộc tiến công của anh hùng Nguyễn Huệ, không chạy thoát được, y sợ hãi đến nỗi phải thắt cổ tự tử! Về sau, nối lại với quan hệ với Trung Quốc, vua Quang Trung cho phép Hoa kiều ở Thăng Long lập đền thờ y, nay không còn. Có tài liệu cho rằng đền này nằm ở ngõ Sầm Công, phía sau phố Hàng Buồm, nhưng cũng có tài liệu lại khẳng định đền nằm trên gò Đống Đa, tức chỗ đền thờ Trung Liệt ngày nay. Bà Hồ Xuân Hương muốn đổi thành phận trai cũng bởi nhiều lý do, trong đó có một phần bởi thiên hạ còn nặng nề tư tưởng trọng nam khinh nữ. Dưới chế độ phong kiến, thân phận người phụ nữ không được coi trọng. Khi sinh con, người ta quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, sinh con trai thì họ gọi là “lộngchương” (chơi ngọc) còn sinh con gái thì gọi rẻ rúng là “lộng ngõa” (chơi ngói)! Nếu các ca kỹ bị xếp vào hàng “xướng ca vô loại” cấm đi thi thì người phụ nữ cũng thế, họ không có cơ hội để lều chõng thi thố tài năng của mình! Thế nhưng, trước thời Hồ Xuân Hương, ở dưới triều nhà Mạc (1527- 1592) có một người phụ nữ quyết cải trang thành nam nhi để lập danh ở đời.

Đó là bà Nguyễn Thị Duệ – người đầu tiên thi đậu Tiến sĩ trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. Một người dám đem sở học của mình “cạnh tranh” với các đấng mày râu đương thời, lừng lẫy như thế, nhưng các nhà viết sử của ta do quan niệm coi thường người phụ nữ (và cũng do biến động của thời cuộc) nên không ghi chép gì nhiều về sự nghiệp của bà. Duy chỉ trong tập Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (viết phần tiền biên) và Trần Quý Nha (viết phần tục biên) biên soạn từ năm 1755 là có viết về bà, nhưng cũng sơ lược. Căn cứ vào đó và một vài tài liệu khác ta có thể hình dung ra đôi nét về cuộc đời của bà.Bà Nguyễn Thị Duệ, người xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh (nay là xã Văn An, huyện Chí Linh – Hải Dương). Tương truyền, có một thầy địa lý khi chọn đất cho dòng họ nhà bà đã tiên đoán “Một gương soi ba vua”. Không rõ có phải lời nói này nhằm chỉ vào bà hay không, chứ ngay từ thuở nhỏ, bà đã nổi tiếng là thần đồng, học đâu nhớ đấy, công dung ngôn hạnh hơn người. Bấy giờ loạn lạc trong nước nổi lên khắp nơi. Họ Mạc cướp ngôi nhà Lê chiếm quyền thiên tử, trong nước lòng người không phục, bên ngoài thì nhà Minh muốn lợi dụng tình thế này sang cướp nước ta. Sử gia Trần Trọng Kim cho biết:

Đến tháng 11 năm Canh Tý (1540), Mạc Đăng Dung thấy quân nhà Minh sửa soạn sang đánh, sợ hãi quá chừng, bèn để Mạc Phúc Hải ở lại giữ nước, rồi cùng bọn Vũ Như Quế cả thảy hơn 40 người, tự trói mình ra hàng, sang chịu tội ở cửa Nam Quan, lạy phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân đinh, lại xin dâng đất 5 động. Lại đem vàng bạc dâng riêng cho nhà Minh.

Trong khi đó, công thần nhà Lê nổi dậy đánh họ Mạc, rồi họ Nguyễn dấy binh giúp nhà Lê. Binh đao dậy đất. Tiếng khóc ngút trời. Có thể xem đây là giai đoạn bi đát nhất trong lịch sử nước nhà. Từ cuối năm 1543, nhờ Nguyễn Kim, nhà Lê chiếm được Tây Đô (Thanh Hóa), cai quản từ địa phận đó trở vào gọi là “Nam triều”, còn cả vùng Bắc Bộ trong đó có kinh đô Đông Đô thuộc nhà Mạc gọi là “Bắc triều”. Sau khi Nguyễn Kim mất, trao quyền lực lại cho con rể là Trịnh Kiểm. Từ đó, họ Trịnh chuyên quyền, xem vua Lê chỉ là hư vị lấn át hết mọi quyền hành – mở ra thời kỳ “vua Lê chúa Trịnh”. Họ Trịnh tiếp tục cầm quân đánh họ Mạc những trận thất điên bát đảo. Năm 1592, Mạc Mậu Hợp bị Trịnh Tùng chém bêu đầu ở Thanh Hóa… Không còn cách nào khác, họ Mạc đành xin ý kiến của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xem giúp về hậu vận. Trạng bảo: “-Ngày sau có biến cố gì, đất Cao Bằng dẫu nhỏ, cũng có thể hưởng phúc vài đời nữa”.

Nghe theo lời khuyên này, con cháu họ Mạc rút lên Cao Bằng. Trong chính sử trước đây, ở giai đoạn này nhà Mạc xem như chấm dứt, chỉ tính từ đời Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp kéo dài 65 năm và cho rằng giai đoạn từ sau năm 1592 đến 1677 không đáng ghi chép nên dù có nhiều khoa thi, có Tiến sĩ chiếm bảng vàng nhưng cũng không được ghi chép đầy đủ. Sau khi họ Mạc rút lên Cao Bằng, Trịnh Tùng vẫn kéo quân đi đánh, nhưng Mạc Kính Cung sang cầu cứu vua Minh. Nhờ sự can thiệp của nhà Minh, vua Lê chúa Trịnh bất đắc dĩ đành phải nhường đất Cao Bằng cho con cháu họ Mạc nương thân – mãi đến năm 1677 mới bị diệt hẳn. Nhờ vậy, họ Mạc củng cố lực lượng, vẫn tiếp tục duy trì các khoa thi hạch hằng năm để chọn nhân tài. Trường hợp của nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ bị bỏ sót, đời sau ít biết đến là cũng vì những xáo động của thời cuộc bấy giờ và quan niệm chép sử của các sử gia thời trước.

Vào thời điểm này, bà Nguyễn Thị Duệ theo cha lên Cao Bằng lánh nạn. Không chỉ an phận với quan niệm phổ biến coi thường phụ nữ, cho phụ nữ chỉ là kẻ lo khuê phòng bếp núc:

Có con phải khổ vì con
Có chồng phải gánh giang san nhà chồng

thì bà không nằng nặc đòi cha mẹ cho đi học. Dù thấy con sắc sảo, thông minh, nhưng cha mẹ vẫn ngần ngại vì các thầy đồ nào có nhận dạy cho nữ nhi! Thế là chỉ còn cách cắt tóc, mặc quần áo cải trang bà làm con trai, cho đổi tên là Du để theo đòi bút nghiên. Bạn trai học cùng lớp không ai phát hiện ra. Càng học, bà càng tỏ ra thông thuộc kinh sử hơn người. Khoa thi Hội của nhà Mạc tổ chức ở Cao Bằng, bà ra ứng thí và đậu đầu, trong khi đó thầy dạy bà chỉ đậu thứ hai. Trong buổi tiệc mừng các vị tân khoa, vua Mạc ngạc nhiên khi thấy chàng Du kia lại có nhan sắc diễm lệ như thiếu nữ, bèn cho gọi tới gặng hỏi. Không thể không nói thật, bà quỳ xuống tâu rõ sự tình. Nhà vua hỏi về kinh sử, bà đáp làu làu, vua hài lòng và sau đó chọn bà đưa vào cung để dạy cho các cung nhân, phi tần. Khi nhà Mạc mất, bà sống ẩn náu trong chùa ở hang núi sâu. Quân của chúa Trịnh đã bắt được bà, thấy bà có nhan sắc định vùi hoa dập liễu. Bà nghiêm nét mặt bảo: – Ta đã như cá nằm trên thớt, các ngươi cho ta được yết kiến với chúa các ngươi, chứ không được vô lễ. Trước lời nói nghiêm khắc, nét mặt trang nghiêm, biết không phải là người tầm thường, chúng giải bà về kinh. Vua Lê Thần Tông (1619- 1634) đã nghe tiếng của bà nên lấy làm vui mừng trước “chiến lợi phẩm” này, ngài phong cho bà chức Chiêu Nghi làm Lễ sư để tiếp tục dạy cho các cung nữ. Tiếng đồn về học vấn của bà quả không sai, mỗi khi nhà vua hỏi ý kiến về một vấn đề gì thì bà đều dẫn kinh sử và sự tích xưa nay để giải đáp rành mạch nên ngài rất hài lòng, thán phục. Và chính bà là người đã có ý kiến quyết định bài thi của tiến sĩ Nguyễn Minh Triết. Chuyện như thế này, thuở hàn vi ông Triết vốn người lận đận trong khoa cử nên đã đến chùa Hương Hải (Chí Linh) để cầu mộng.

Đêm ấy, nằm mơ thấy thần nhân cho câu thơ “Độc thư đáo lão vị thành nhân” – nghĩa là đọc sách đến già vẫn chưa nên danh phận! Một người bạn biết chuyện, cười: “- Chớ lo, tin vui đấy! Có lẽ thần nhân viết là “mùi”, có nghĩa là năm mùi đến sẽ thành nhân, mà tôn huynh đọc nhầm ra chữ “vị” đấy thôi!” Nhưng ông cũng cáu tiết bảo: “- Thần gì mà phán hồ đồ như thế? Ta gắng học để xem thần phán đúng hay danh phận ta bọt bèo như thế!”. Từ đó, ông quyết chí học tập ngày đêm. Trong khoa thi năm Tân Mùi (1631) ông lai kinh ứng thí. Đề thi Hội dài đến 12 mục, nhưng ông chỉ làm đầy đủ được có 4 mục mà thôi. Do đó, quan trường không dám cho đậu, chỉ xếp vào loại dự bị. Khi chấm bài, những quyển trúng được dâng, nhưng chúa không ưng ý. Thế là quan trường mới dâng quyển của ông lên. Xem xong, chúa phán: “- Trong một bài thơ hay một bài phú, chỉ có một câu hay cũng đủ, một câu hay cũng có thể lấy được, chứ huống gì trong này có những bốn mục đều hay”. Các khảo quan thưa: “- Các quyển khác dù làm đầy đủ nhưng bút lực kém, còn quyển này làm còn sót đến 8 mục, nhưng các mục đã làm thì thật xuất sắc không ai bì kịp. Nếu quyển ấy không lấy thì thôi, chứ đã lấy thì phải để lên đầu”. Chúa gật gù: “- Nếu vậy thì cũng được, không có gì phải ngần ngại”. Dù có lệnh như thế, nhưng mọi người cũng ngần ngại. Ngay cả vua Lê cũng chưa tán đồng với quyết định trên, vì trong bài làm của ông có dùng nhiều điển tích mà không phải ai cũng hiểu rõ. Thế là bà Nguyễn Thị Duệ được nhà vua đưa khảo duyệt bài thi này. Xem xong, bà chú giải tỏ tường khiến mọi người thẩy đều nể phục và công nhận cái hay của bài thi này rất xứng đáng đoạt thủ khoa. Nhờ học thức uyên bác của bà mà con đường hoạn lộ của Nguyễn Minh Triết mới mở ra thênh thang, ông được ban tên là Thọ Xuân, sau vì kiêng tên hoàng hậu nên đổi thành Hậu Xuân. Điều bất ngờ khá thú vị là vị tân khoa này lại là người em họ của bà cũng quê ở xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh. Biết chuyện này, ông từng nói:

– Bài của tôi cả triều đình không ai xem nổi, chỉ có bà chị Lễ phi tôi mới hiểu rõ thôi.

Lời nói chân thành của đấng mày râu hay chữ đủ cho ta thấy học lực uyên thâm của bà. Điều đáng quý ở đây là bà Nguyễn Thị Duệ đã dũng cảm vượt ra khỏi quan niệm “lý tưởng” đã hình thành hàng ngàn năm trước vốn chỉ dành cho nam giới:

Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Còn phụ nữ thì an phận với:
Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa

Nhưng bà không những giỏi việc “trong nhà” – mà còn chứng minh được vai trò của phụ nữ đương thời trong xã hội. Vốn là phụ nữ nên bà còn là người có tâm đức khoan dung. Thuở còn hàn vi, anh của bà bị người láng giềng cậy quyền thế giết chết, ai cũng nghĩ nay bà được cận kề nhà vua thì sẽ báo thù. Nhưng tuyệt nhiên chuyện đó bà không hề nhắc đến. Bà Nguyễn Thị Duệ viết nhiều bài thơ văn nhưng tiếc rằng, theo Công dư tiệp ký: “Văn thơ của bà rất nhiều, nhưng nay không còn bài nào. Bà có làm bài Gia ký bằng Quốc âm thuật lại các việc riêng và tự ví mình như Bạc Thị. Bài Gia ký có câu rằng:

Kém vì một chút đảo điên
So le Bạc Thị vốn duyên Hán hoàng

Lại có câu rằng:

Nữ nhi dù đặng có lề
Ắt là tay thiếp kém gì Trạng nguyên

Bài Gia ký ấy gần đây vẫn còn, sau vì loạn lạc mất đi. Bà thực là một người có kỳ tài vậy”. Bà Nguyễn Thị Duệ sống thọ đến 80 xuân. Như vậy, cho đến nay ta mới biết đến các bà Nguyễn Thị Lộ, Ngô Chi Lan, Bà Huyện Thanh Quan… làm Lễ nghi học sĩ và Cung trung giáo tập, bà Đoàn Thị Điểm, Đoàn Lệnh Khương… mở trường dạy học – thì nay trong danh sách ấy còn có thể kể thêm bà Nguyễn Thị Duệ. Chắc chắn các bậc nữ lưu tài hoa, các nhà giáo nữ uyên thâm như thế còn nhiều, rất nhiều trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Thị Duệ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)